[Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng
Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

Download


“Bài giảng Kế toán quản trị – Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận” được biên soạn nhằm cung cấp đến người học các khái niệm liên quan đến cách ứng xử của chi phí; phương pháp ước lượng và phân tích chi phí; ứng dụng mối quan hệ chi phí – sản lượng – lợi nhuận để ra quyết định; phân tích điểm hoàn vốn; kết cấu chi phí và đòn bẩy hoạt động.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng File Word, PDF về máy

Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

  1. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    BÀI 3: CÁCH ỨNG XỬ CỦA CHI PHÍ VÀ PHÂN TÍCH MỐI
    QUAN HỆ CHI PHÍ – SẢN LƯỢNG – LỢI NHUẬN

    Giới thiệu

     Trong bài 2 chúng ta đã biết cách thức
    tổ chức hệ thống kế toán chi phí để tính
    được giá thành sản phẩm bao gồm chi
    phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
    nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
    chung. Các chi phí được phân bổ cho
    các sản phẩm theo mức độ hoạt động.
     Trong bài này, chúng ta sẽ tìm hiểu
    cách mà nhà quản lý giải thích những
    thay đổi trong chi phí khi các hoạt
    động có liên quan thay đổi. Mỗi chi phí
    sẽ biến động khác nhau khi có sự thay
    đổi về mức độ hoạt động.
     Việc hiểu rõ cách ứng xử của chi phí là
    nền tảng của việc tính giá thành theo chi
    phí biến đổi, cung cấp thêm thông tin
    cho việc ra quyết định quản lý. Đây cũng
    là căn cứ cho việc lập dự toán và đánh
    giá các hoạt động của doanh nghiệp.

    Nội dung Mục tiêu
     Các khái niệm liên quan đến cách ứng xử Sau khi học xong bài này, học viên sẽ:
    của chi phí.
     Giải thích được cách ứng xử của các
     Phương pháp ước lượng và phân tích loại chi phí: chi phí biến đổi, chi phí cố
    chi phí. định, và chi phí hỗn hợp.
     Ứng dụng mối quan hệ chi phí – sản lượng  Nắm vững các phương pháp phân tích
    – lợi nhuận để ra quyết định. và ước lượng chi phí.
     Phân tích điểm hoà vốn.  Phân tích mối quan hệ giữa chi phí –
     Phân tích lợi nhuận mục tiêu. sản lượng – lợi nhuận (CVP).
     Phân tích kết cấu chi phí và đòn bẩy  Vận dụng mối quan hệ CVP để phân
    hoạt động. tích điểm hòa vốn. Ứng dụng phân tích
     Nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí – CVP để hoạch định lợi nhuận và lựa
    khối lượng – lợi nhuận. chọn các phương án kinh doanh.

    Thời lượng học
     9 tiết

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 51

  2. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI

    Tình huống
    Anh Tính là một công nhân bậc cao làm việc tại bộ phận cơ khí của công ty Hưng Thịnh, anh
    tạo ra những công cụ dùng cho nhiều loại máy móc thiết bị khác nhau. Lương hàng năm của
    anh là 100 triệu đồng. Cô Dung là đại diện bán hàng cho nhà máy với mức lương mỗi năm là
    45 triệu đồng, ngoài ra cô còn được hưởng 5% hoa hồng trên doanh số bán và được nhà máy
    cho thuê một xe máy và cấp thẻ đổ xăng để đi lại.

    Câu hỏi
    Bạn là kế toán mới của công ty và được yêu cầu:
    1. Phân loại thu nhập của anh Tính và cô Dung thành chi phí cố định, chi phí biến đổi, chi phí
    hỗn hợp của nhà máy.
    2. Với cách trả lương cho cô Dung hiện này, nhà quản lý có khuyến khích gì cho người lao
    động không?

    52 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  3. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.1. Một số khái niệm
    Nhà quản lý thường phải ra các quyết định về giá bán, mức sản xuất, cơ cấu sản xuất
    và mua ngoài sau khi đã tham khảo thông tin về giá thành. Như vậy, hiểu được chi phí
    nào liên quan đến loại quyết định nào là rất quan trọng. Thông thường, mối liên hệ
    của một khoản chi phí tùy thuộc vào việc nó thay đổi như thế nào khi mức độ hoạt
    động thay đổi.

    3.1.1. Chi phí biến đổi
    Chi phí biến đổi (còn gọi là biến phí) là những chi phí
    thay đổi trên tổng số theo sự thay đổi của mức độ hoạt
    động của tổ chức (thông thường là khối lượng sản
    phẩm Q). Các chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân
    công trực tiếp, chi phí năng lượng phục vụ sản xuất,
    chi phí bao bì đóng gói, hoa hồng bán hàng,… là
    những chi phí biến đổi. Có nhiều loại chi phí biến đổi
    khác nhau như:

    3.1.1.1. Chi phí biến đổi tuyến tính
    Chi phí biến đổi tuyến tính là chi phí biến đổi có quan hệ tỷ lệ thuận với mức độ hoạt
    động. Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, và hoa hồng bán
    hàng là những chi phí biến đổi dạng tuyến tính.
    Ví dụ: Chi phí nguyên vật liệu cho sản phẩm áo jacket của Công ty may Hưng Thịnh
    là một dạng chi phí biến đổi tuyến tính. Giả sử rằng, chi phí nguyên liệu tính bình
    quân cho mỗi chiếc áo là 150.000 đồng. Chi phí nguyên vật liệu sẽ tăng giảm tuyến
    tính theo số lượng áo được bán cho khách hàng. Chúng ta dễ dàng thấy rằng, khi số
    lượng áo tăng lên gấp đôi, từ 1.000 chiếc đến 2.000 chiếc, tổng chi phí nguyên liệu
    cũng tăng gấp đôi, từ 150.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng.

    Hình 3.1: Chi phí biến đổi tuyến tính – Chi phí nguyên vật liệu
    để sản xuất áo Jacket của công ty may Hưng Thịnh

    Khi đó chi phí biến đổi đơn vị sẽ không thay đổi mặc dù mức độ hoạt động thay đổi.

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 53

  4. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    Hình 3.2: Chi phí biến đổi đơn vị

    3.1.1.2. Chi phí biến đổi cấp bậc
    Chi phí biến đổi cấp bậc (step-variable costs) là những chi phí thay đổi chỉ khi mức độ
    hoạt động thay đổi nhiều và rõ ràng. Loại chi phí biến đổi này không thay đổi khi mức
    độ hoạt động thay đổi ít hoặc thay đổi không đáng kể. Các chi phí lao động gián tiếp,
    chi phí bảo trì máy, v.v… là những chi phí biến đổi thuộc dạng này.

    Hình 3.3: Chi phí biến đổi cấp bậc

    3.1.1.3. Chi phí biến đổi dạng cong (curvilinear cost)
    Trong quá trình nghiên cứu các chi phí biến đổi, chúng ta giả định rằng có một quan
    hệ tuyến tính thật sự giữa chi phí biến đổi và sản lượng sản xuất. Tuy nhiên, các
    chuyên gia kinh tế học đã chỉ ra rằng rất nhiều chi phí biến đổi thực tế ứng xử theo
    một dạng cong, không thể hiện mối quan hệ tuyến tính giữa chi phí và mức hoạt động.

    Hình 3.4: Đồ thị chi phí dạng cong

    54 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  5. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.1.2. Chi phí cố định (định phí – fixed cost)

    3.1.2.1. Chi phí cố định
    Chi phí cố định là những chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. Khác
    với chi phí biến đổi, chi phí cố định không bị ảnh hưởng bởi mức độ hoạt động. Khi
    mức độ hoạt động tăng lên hoặc giảm xuống, các chi phí cố định vẫn giữ nguyên. Các
    chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí tiền lương cho cán bộ quản lý, chi phí quảng
    cáo khuyến mãi, chi phí bảo hiểm, v.v… là những chi phí cố định.

    Hình 3.5: Chi phí cố định

    3.1.2.2. Chi phí cố định cấp bậc
    Chi phí cố định cấp bậc là chi phí không thay đổi theo mức độ hoạt động chỉ trong
    một phạm vi hoạt động thích hợp nào đó (relevant range of activity). Khi mức hoạt
    động vượt quá phạm vi này thì ta có chi phí cố định cấp bậc (step-fixed costs).

    Hinh 3.6: Chi phí cố định cấp bậc

    Ví dụ: Một kỹ thuật viên có thể thực hiện công việc kiểm tra chất lượng đối đa 1.000
    sản phẩm một tháng. Nếu công ty sản xuất 1.500 sản phẩm một tháng thì phải thuê
    thêm một kỹ thuật viên nữa. Nếu công ty sản xuất hơn 2.000 sản phẩm một tháng thì
    công ty phải thuê thêm một kỹ thuật viên thứ 3.
    Trong quá trình lập dự toán, nhà quản lý nên phân biệt rõ các loại chi phí này để theo
    dõi và quản lý một cách có hiệu quả.

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 55

  6. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.1.2.3. Chi phí hỗn hợp
    Chi phí hỗn hợp (mixed cost) hay còn gọi là bán biến phí (semivariable costs) là chi
    phí bao gồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định.
    Hình 3.7 biểu diễn đồ thị chi phí vận hành xe chở hàng của McDonald. Đồ thị cho
    thấy rằng, chi phí này có hai thành phần. Thành phần chi phí cố định là 3.000, đó là
    chi phí khấu hao xe hàng tháng. Thành phần chi phí biến đổi bao gồm chi phí xăng
    dầu, lốp xe, và bảo trì. Những chi phí này thay đổi theo mức hoạt động của cửa hàng.

    Hình 3.7: Chi phí hỗn hợp – Chi phí vận hành xe chở hàng của Mc Donald

    3.1.3. Lãi trên biến phí

    3.1.3.1. Khái niệm
    Lãi trên biến phí hay còn gọi là số dư đảm phí là khoản chênh lệch giữa giá bán và chi
    phí biến đổi.
    Khi đó toàn bộ chi phí được phân tích thành hai loại chi phí đó là chi phí biến đổi và
    chi phí cố định. Khi đó chúng ta không tính toán, phân bổ chi phí cố định cho mỗi đơn
    vị sản phẩm mà luôn ứng xử nó là tổng số và là chi phí thời kỳ. Tổng chi phí cố định ở
    kỳ nào phải được bù đắp đầy đủ trong kỳ đó.
    Nếu gọi: Dt: Doanh thu Sl: Số lượng
    Bp: Tổng chi phí biến đổi g: Giá bán đơn vị
    Đp: Tổng chi phí cố định bp: chi phí biến đổi đơn vị
    Ln: Lợi nhuận
    Khi đó, phương trình kế toán cơ bản xác định lợi nhuận được thể hiện như sau:
    Dt – Bp – Đp = Ln
    Hay: Sl  g – Sl  bp – Đp = Ln
    Sl(g – bp) – Đp = Ln
    Phần chênh lệch giữa giá bán và chi phí biến đổi (g – bp) được gọi là lãi trên chi phí
    biến đổi (lãi trên biến phí).
    Lãi trên biến phí là chênh lệch giữa giá bán (hay doanh thu) với chi phí biến đổi
    của nó.
    Lãi trên biến phí có thể được xác định cho mỗi đơn vị sản phẩm, cho từng mặt hàng
    hoặc tổng hợp cho tất cả các mặt hàng tiêu thụ.
    56 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  7. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.1.3.2. Ví dụ
    a. Lãi trên biến phí đơn vị (lb)
    Lãi trên biến phí đơn vị (lb) được xác định bằng cách lấy giá bán đơn vị (g) trừ đi biến
    phí đơn vị (bp): lb = g – bp
    Ví dụ: Với số liệu của công ty may Hưng Thịnh (đơn vị: 1.000 đồng)

    Chỉ tiêu Tổng số Tính cho 1 sản phẩm

    Doanh thu
    300.000 300
    (1.000 áo x 300.000đồng)

    Biến phí

    Chi phí nguyên liệu trực tiếp 150.000 150

    Chi phí nhân công trực tiếp 20.000 20

    Chi phí sản xuất chung biến đổi 5.000 5

    Tổng chi phí biến đổi 175.000 175

    Lãi trên biến phí 125.000 125

    Chi phí cố định 37.000 37

    Lợi nhuận 88.000 88

    Như vậy, lãi trên biến phí đơn vị của công ty may Hưng Thịnh là 125.000 đồng.
    Lãi trên biến phí đơn vị không thay đổi cho dù khối lượng sản phẩm thay đổi. Ta có thể
    thấy rõ hơn trong ví dụ của công ty may Hưng Thịnh với mức độ sản phẩm khác nhau.

    Chỉ tiêu TH 1 TH 2 TH 3

    Sản lượng (chiếc áo) 500 1.000 1.500

    Giá đơn vị sản phẩm 300.000 300.000 300.000

    Chi phí biến đổi đơn vị

    Chi phí nguyên liệu trực tiếp 150.000 150.000 150.000

    Chi phí nhân công trực tiếp 20.000 20.000 20.000

    Chi phí sản xuất chung biến đổi 5.000 5.000 5.000

    Cộng biến phí đơn vị 175.000 175.000 175.000

    Lãi trên biến phí đơn vị 125.000 125.000 125.000

    Chi phí cố định đơn vị 74.000 37.000 24.667

    Lợi nhuận 51.000 88.000 90.333

    Như vậy, chi phí cố định đơn vị sẽ giảm dần theo khối lượng sản phẩm. Vì vậy, chi
    phí cố định đơn vị của mức độ sản xuất này sẽ không có giá trị cho việc ra quyết định
    ở quy mô sản xuất khác. Trong khi đó, lãi trên biến phí đơn vị lại không thay đổi cho
    dù các mức độ sản lượng là khác nhau. Cho nên một khi đã xác định được lãi trên

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 57

  8. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    biến phí đơn vị, chúng ta có thể sử dụng nó cho các mức độ sản lượng khác nhau.
    Thay vì phải quan tâm xử lý một khối lượng lớn các số liệu giống nhau ở các mức độ
    sản lượng khác nhau chúng ta chỉ cần quan tâm đến lãi trên biến phí đơn vị. Con số
    này bao gồm trong nó các yếu tố của doanh thu và chi phí mà giá trị đơn vị của nó
    không phụ thuộc vào sản lượng. Vì vậy, khái niệm này được sử dụng phổ biến, giúp
    lượng hóa một cách đúng đắn nhất các phương án khai thác các khả năng khác nhau
    về chi phí, giá bán khối lượng sản phẩm tiêu thụ và nhanh chóng có câu trả lời (về sản
    lượng) về phương án lựa chọn nhằm tối đa hóa lợi nhuận công ty.
    b. Tổng lãi trên biến phí (Lb)
    Tổng lãi trên biến phí được xác định bằng cách lấy sản lượng tiêu thụ nhân với lãi trên
    biến phí đơn vị:
    Lb = Sl × lb
    Ở công ty may Hưng Thịnh với số lượng sản phẩm tiêu thụ là 1.000 áo nên tổng lãi
    trên biến phí sẽ là: 1.000 × 125.000 = 125.000.000 đồng
    Để xác định lợi nhuận ta chỉ việc lấy tổng lãi trên biến phí trừ đi tổng chi phí cố định:
    Sl × (g – bp) = Dt – Bp – Đp
    Ln = Lb – Đp
    Ví dụ: Tại công ty may Hưng Thịnh:

    Chỉ tiêu TH 1 TH 2 TH 3

    1. Sản lượng tiêu thụ (chiếc áo) 500 1.000 1.500

    2. Lãi trên biến phí đơn vị (1.000 đồng) 125 125 125

    3. Tổng lãi trên biến phí (1) x (2) (1.000đồng) 62.500 125.000 187.500

    4. Chi phí cố định 37.000 37.000 37.000

    5. Lợi nhuận 25.500 88.000 150.500

    Như vậy, việc sử dụng chỉ tiêu lãi trên biến phí làm cho quá trình xử lý số liệu đơn
    giản và linh hoạt hơn rất nhiều.
    Từ công thức trên chúng ta thấy, tổng lãi trên biến phí sẽ được dùng trước hết để trang
    trải cho định phí, phần còn lại sau khi đã bù đắp đủ chi phí cố định chính là lợi nhuận
    của doanh nghiệp và ngược lại nếu không đủ bù đắp cho chi phí cố định thì phần thiếu
    hụt đó chính là số lỗ của doanh nghiệp trong kỳ.

    Muốn tối đa hóa lợi nhuận cần phải tối đa hóa tổng lãi trên biến phí.

    c. Tỷ suất lãi trên biến phí
    Như trên chúng ta thấy, lãi trên biến phí là một chỉ tiêu quan trọng nhưng đây lại là
    một con số tuyệt đối nên khi xem xét cho tổng hợp nhiều mặt hàng khác nhau thì chỉ
    tiêu này lại không cho phép đánh giá được mặt hàng có lợi thế, vì vậy cần phải sử
    dụng một chỉ tiêu thứ ba, đó là Tỷ suất lãi trên biến phí.

    58 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  9. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    Tỷ suất lãi trên biến phí được xác định bằng lãi trên biến phí chia cho doanh thu. Tỷ
    suất này có thể xác định cho từng mặt hàng và có thể xác định bình quân cho các mặt
    hàng khác nhau.
    Tỷ suất lãi trên biến phí cho đơn vị sản phẩm và tỷ suất lãi trên biến phí cho cả mặt
    hàng là như nhau:

    1b Lb
    Lb%   100%   100%
    g Dt

    Trong ví dụ của Công ty may Hưng Thịnh, tỷ suất lãi trên biến phí đơn vị của sản phẩm
    áo sơ mi TH 14 sẽ là (125.000 : 300.000)  100% = 41,67% và cũng là tỷ suất chung cho
    cả mặt hàng áo sơ mi TH 14: (125.000.000đồng : 300.000.000 đồng)  100% = 41,67%.
    Trường hợp xét tỷ suất lãi trên biến phí cho nhiều mặt hàng sẽ được xác định như sau:

    Tổng lãi trên biến phí của các mặt hàng
    Lb% =  100%
    Tổng doanh thu các mặt hàng

    Giả sử công ty may Hưng Thịnh sản xuất ra ba loại quần áo là quần mã số TH10, áo
    sơ mi mã số TH14 và áo phông mã số TH20. Tình hình về doanh thu chi phí của Công
    ty với ba mặt hàng trên như sau:

    Mặt hàng
    Chỉ tiêu Tổng số
    TH 10 TH 14 TH 20

    1. Doanh thu (1.000đ) 400.000 300.000 250.000 950.000

    2. Biến phí 260.000 175.000 175.000 610.000

    3. Lãi trên biến phí 140.000 125.000 75.000 340.000

    4. Tỷ suất lãi trên biến phí 35% 41,67% 30% 35,79%

    Việc sử dụng tỷ suất lãi trên biến phí giúp cho nhà quản lý nhanh chóng xác định được
    lãi trên biến phí.
    Cách xác định tổng lãi trên biến phí:
    Lb = Dt × Lb%
    Cách xác định tổng lợi nhuận:
    Ln = Dt × Lb% – ĐP

    3.1.4. Kết cấu chi phí

    3.1.4.1. Khái niệm
    Kết cấu chi phí là mối quan hệ về tỷ trọng của chi phí cố định và chi phí biến đổi của
    doanh nghiệp.
    Các doanh nghiệp có kết cấu chi phí khác nhau thì sẽ có kết quả kinh doanh là khác
    nhau mặc dù có cùng mức độ tăng doanh thu.

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 59

  10. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.1.4.2. Ví dụ

    Chỉ tiêu Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B

    Tổng số (1.000đ) % Tổng số (1.000đ) %

    Doanh thu 100.000 100% 100.000 100%

    Chi phí biến đổi 60.000 60% 30.000 30%

    Lãi trên biến phí 40.000 40% 70.000 70%

    Chi phí cố định 30.000 30% 60.000 60%

    Lợi nhuận 10.000 10% 10.000 10%

    Hai doanh nghiệp này sẽ có kết cấu chi phí lần lượt là: Doanh nghiệp A (30:90) ×
    100% = 33,33% là chi phí cố định và (60:90) × 100% = 66,67% là chi phí biến đổi.
    Còn với doanh nghiệp B sẽ là: (60:90) × 100% = 66,67% chi phí cố định và (30:90) ×
    100% = 33,33% là chi phí biến đổi. Khi đó tỷ suất lãi trên chi phí biến đổi (lãi trên
    biến phí) của hai doanh nghiệp này cũng sẽ khác nhau và lần lượt là 40% (doanh
    nghiệp A) và 70% (doanh nghiệp B). Tuy nhiên cả hai doanh nghiệp này đều có cùng
    mức lợi nhuận.
    Giả sử doanh thu của cả hai doanh nghiệp đều tăng 20% thì lợi nhuận của hai doanh
    nghiệp sẽ là như thế nào?
    Khi doanh thu tăng 20% thì lãi trên biến phí sẽ tăng:
     100.000  20%  40% = 8.000 (nghìn đồng ) (doanh nghiệp A)
     100.000  20%  70% = 14.000 (nghìn đồng) (doanh nghiệp B)
    Do chi phí cố định không thay đổi nên phần tăng thêm của lãi trên biến phí này sẽ góp
    phần làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp tăng lên là:
     (8.000: 10.000)  100% = 80% (doanh nghiệp A)
     (14.000: 10.000)  100% = 140% (doanh nghiệp B)

    Kết cấu chi phí có quan hệ với lợi nhuận. Doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần
    định phí cao hơn thì sẽ đem lại lợi nhuận nhiều hơn khi doanh thu gia tăng và ngược lại
    trong trường hợp doanh thu suy giảm thì sẽ gặp rủi ro nhiều hơn.

    Kết cấu chi phí như thế nào thì được coi là hợp lý?
    Điều này không có câu trả lời chung. Kết cấu chi phí
    tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm, chính sách và chiến
    lược kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trong điều
    kiện ổn định và phát triển kinh tế, doanh nghiệp nào có
    kết cấu chi phí với phần chi phí cố định lớn hơn, tức là
    có quy mô tài sản cố định lớn hơn, thì sẽ có lợi thế
    cạnh tranh hơn trong việc chiếm lĩnh thị trường.
    Nhưng trong nền kinh tế không ổn định, việc tiêu thụ sản
    phẩm gặp nhiều khó khăn thì doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với chi phí biến đổi
    nhiều hơn, tức là quy mô tài sản cố định nhỏ hơn, thì doanh nghiệp đó sẽ dễ dàng và linh
    hoạt hơn trong việc chuyển đổi cơ cấu mặt hàng và ít gặp rủi ro kinh doanh hơn.

    60 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  11. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.1.5. Đòn bẩy kinh doanh

    3.1.5.1. Khái niệm
    Đòn bẩy kinh doanh là thuật ngữ để phản ánh về mức độ sử dụng chi phí cố định trong
    doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào có kết cấu chi phí với phần chi phí cố định cao hơn
    thì doanh nghiệp đó được gọi là có đòn bẩy kinh doanh lớn hơn và ngược lại. Với đòn
    bẩy kinh doanh lớn doanh nghiệp có thể đạt được tỷ lệ cao hơn về lợi nhuận với một
    tỷ lệ tăng thấp hơn nhiều về doanh thu.
    Để kiểm soát và sử dụng đòn bẩy kinh doanh phù hợp và có hiệu quả, các nhà quản trị
    cần phải xác định độ lớn của đòn bẩy kinh doanh (ký hiệu ĐB).

    Độ lớn của đòn bẩy Tốc độ tăng lợi nhuận
    =
    kinh doanh (ĐB) Tốc độ tăng doanh thu

    Độ lớn của đòn bẩy kinh doanh cho biết mỗi % thay đổi về doanh thu sẽ làm thay đổi
    bao nhiêu % lợi nhuận.

    3.1.5.2. Ví dụ
    Trong ví dụ về hai doanh nghiệp A và B ở trên, nếu doanh thu của cả hai doanh nghiệp
    đều tăng 20% thì lợi nhuận của doanh nghiệp A chỉ tăng 80% trong khi đó lợi nhuận
    của doanh nghiệp B lại tăng 140%. Vậy độ lớn của đòn bẩy kinh doanh của 2 doanh
    nghiệp được xác định như sau:
    Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B

    Độ lớn của đòn bẩy 80% 140%
    4 7
    kinh doanh (ĐB) 20% 20%

    Nếu doanh thu tăng 1% thì lợi nhuận của doanh nghiệp A tăng 4% trong khi đó lợi
    nhuận của doanh nghiệp B sẽ tăng 7% do doanh nghiệp B có kết cấu chi phí với tỷ lệ
    chi phí cố định cao hơn.
    Mặt khác:
     Tại mức sản lượng SL1 thì Ln1 = Sl1(g – bp) – Đp
     Tại mức sản lượng SL2 thì Ln2 = SL2(g – bp) – Đp
    Do vậy

    ∆ SL(g – bp)
    Tốc độ tăng lợi nhuận =  100%
    SL1(g – bp) – Đp

    Tốc độ tăng doanh thu = (∆SL:SL1)  100%
    Khi đó độ lớn của đòn bẩy kinh doanh được xác định như sau:

    Độ lớn của đòn bẩy ∆SL(g – bp) SL1
    kinh doanh = 
    SL1(g – bp) – Đp ∆SL
    SL1(g – bp)
    ĐB =
    SL1(g – bp) – ĐP

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 61

  12. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    Hay
    Lb (tổng lãi trên biến phí)
    ĐB =
    Ln (Lợi nhuận)

    Ví dụ: Với số liệu của hai doanh nghiệp A và B ở trên, tổng lãi trên biến phí của doanh
    nghiệp A là 40.000, doanh nghiệp B là 70.000; lợi nhuận của cả 2 doanh nghiệp đều
    bằng 10.000. Vậy độ lớn của đòn bẩy kinh doanh của 2 doanh nghiệp A và B xác định
    như sau:

    Doanh nghiệp A Doanh nghiệp B

    Độ lớn của đòn bẩy 40.000 70.000
    4 7
    kinh doanh (ĐB) 10.000 10.000

    Cách tính này cho kết quả hoàn toàn giống với cách tính trên nhưng nhanh và tiện
    dụng hơn.

    3.2. Các phương pháp phân tích và ước lượng chi phí
    Có nhiều phương pháp được sử dụng để phân tích và dự báo chi phí. Nhà quản lý có
    thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp khác nhau để phân tích và dự báo
    chi phí. Trong bài này chúng ta nghiên cứu bốn phương pháp phân tích và dự báo chi
    phí sau đây:
     Phương pháp phân loại tài khoản (account-classification method)
     Phương pháp phân tích cực đại – cực tiểu (high –low method)
     Phương pháp phân tích đồ thị phân tán (visual-fit method)
     Phương pháp bình phương nhỏ nhất (least-square regression method)

    3.2.1. Phương pháp phân loại tài khoản (account – classification)
    Theo phương pháp phân loại tài khoản (hay còn gọi là
    phương pháp phân tích tài khoản), nhân viên kế toán
    quản trị nghiên cứu các tài khoản kế toán trên sổ cái và
    sổ chi tiết, xác định mỗi khoản mục chi phí là chi phí
    cố định, chi phí biến đổi, hay chi phí hỗn hợp. Bằng
    việc nghiên cứu số liệu quá khứ và sự phán đoán của
    mình, nhân viên kế toán quản trị sẽ dự báo chi phí
    trong tương lai. Phương pháp này đòi hỏi kiến thức và
    kinh nghiệm của người phân tích về mức hoạt động và chi phí của tổ chức. Đây là
    phương pháp phân tích mang tính chủ quan.

    3.2.2. Phương pháp đồ thị phân tán (visual – fit method)
    Khi một khoản mục chi phí được phân loại là chi phí hỗn hợp hoặc người phân tích
    không biết rõ về hành vi của một loại chi phí, người phân tích sẽ vẽ đồ thị biểu diễn
    các khoản chi phí thu thập được theo các mức hoạt động tương ứng. Kết quả thu được
    là một đồ thị phân tán (scatter diagram) thể hiện mối quan hệ giữa chi phí và mức

    62 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  13. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    hoạt động. Trên đồ thị phân tán này, người phân tích kẻ một đường thẳng đi qua trung
    tâm của những điểm quan sát được trên đồ thị phân tán. Đường thẳng này chính là
    hàm chi phí ước lượng. Độ dốc của đường này phản ánh mức trung bình của yếu tố
    chi phí biến đổi trong chi phí hỗn hợp. Giao điểm giữa đường thẳng này với trục tung
    (trục chi phí) chính là yếu tố chi phí cố định trong chi phí hỗn hợp.
    Ví dụ:
    Số liệu về chi phí của cửa hàng Mc.Donald được thu thập trong 12 tháng qua như sau:
    Tháng Số lượng hamburger (Q) Chi phí (C)

    1 75.000 5.100

    2 78.000 5.300

    3 80.000 5.650

    4 92.000 6.300

    5 98.000 6.400

    6 108.000 6.700

    7 118.000 7.035

    8 112.000 7.000

    9 95.000 6.200

    10 90.000 6.100

    11 85.000 5.600

    12 90.000 5.900

    Đồ thị phân tán được vẽ từ dữ liệu chi phí thu thập được và có dạng dưới đây:

    Hình 3.8: Đồ thị phân tán chi phí của cửa hàng Mc.Donald

    Từ đồ thị này, người phân tích kẻ một đường thẳng đi qua trung tâm của đồ thị phân
    tán, sao cho số lượng các điểm dữ liệu nằm ở hai phía của đường này xấp xỉ nhau.
    Đường thẳng này cắt trục tung tại điểm có tung độ là 1.500. Đây chính là thành phần chi
    phí cố định trong tổng chi phí. Để xác định thành phần chi phí biến đổi, người phân tích

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 63

  14. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    lấy tổng chi phí ước tính tại một mức hoạt động nào đó trừ đi thành phần chi phí cố định.
    Chẳng hạn, ở mức hoạt động 100.000, tổng chi phí xác định được từ hàm chi phí là
    khoảng $6.500. Vậy, thành phần chi phí biến đổi trong chi phí là $5.000 (6.500 – 1.500).
    Chi phí tiện ích đơn vị là $0,05 (= 5.000: 100.000). Hàm chi phí: C = 1.500 + 0,05Q.

    3.2.3. Phương pháp điểm cao – điểm thấp (high – low method)
    Phương pháp cực đại – cực tiểu là việc phân tích và ước lượng hàm chi phí dựa vào
    hai điểm dữ liệu. Người phân tích dựa vào chi phí ở mức độ hoat động thấp nhất và
    mức độ cao nhất trong tập dữ liệu thu thập được, từ đó xác định các yếu tố chi phí
    biến đổi và chi phí cố định.

    Chênh lệch chi phí giữa hai mức độ hoạt động
    Chi phí biến đổi đơn vị =
    Chênh lệch giữa 2 mức hoạt động

    Chi phí cố định = tổng chi phí – chi phí biến đổi đơn vị × mức hoạt động
    Mức hoạt động này được chọn có thể là cực đại hoặc cực tiểu. Điều quan trọng là tổng
    chi phí phải tương ứng với mức hoạt động được chọn.
    Ví dụ:
    Trong ví dụ trên, chúng ta có thể dựa vào số liệu chi phí ở mức hoạt động cao nhất.
    (Q = 118.000) và mức hoạt động thấp nhất (Q = 75.000) để ước lượng hàm chi phí.

    Chênh lệch chi phí giữa hai mức độ hoạt động
    Chi phí biến đổi đơn vị =
    Chênh lệch giữa 2 mức hoạt động

    (7.035 – 5.100)
    = = 0,045$
    (118.000 – 75.000)

    Chi phí cố định = Tổng chi phi – Chi phí biến đổi
    = 7.035 – 0,045 × 118.000 = 1.725$
    Phương trình chi phí: C = 1.725 + 0,045Q
    Phương pháp phân tích điểm cao – điểm thấp khách quan hơn phương pháp phân tích
    bằng đồ thị phân tán, tuy nhiên phương pháp này chỉ dựa vào hai cặp dữ liệu, bỏ qua
    tất cả các điểm dữ liệu còn lại.

    3.2.4. Phương pháp bình phương nhỏ nhất (the least squares regression)
    Phương pháp bình phương nhỏ nhất chính xác và tinh vi hơn phương pháp đồ thị phân
    tán. Thay vì kẻ một đường hồi qui cho các số liệu quan sát được, phương pháp bình
    phương nhỏ nhất xác định đường hồi qui (hàm chi phí) bằng phương pháp phân tích
    thống kê.
    Ý tưởng của phương pháp bình phương nhỏ nhất là: Xác định đường hồi qui (hàm chi
    phí) bằng phương pháp phân tích thống kê. Một đường hồi qui từ các số liệu quan sát
    được sao tổng cho khoảng cách (chính xác là tổng độ lệch bình phương – ei2) từ các
    điểm quan sát đến đường hồi qui là nhỏ nhất.

    64 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  15. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    Hình 3.9: Đường biểu diễn chi phí hỗn hợp

    Đường biểu diễn chi phí hỗn hợp có dạng: Y = a + bX
    Trong đó: Y là chi phí ước tính, a là yếu tố chi phí cố định và b là yếu tố chi phí biến
    đổi đơn vị và X là mức độ hoạt động. Ta cần xác định các hệ số a, b của phương trình
    biểu diễn chi phí. Với n cặp số liệu quan sát được (x , y ), bằng phương pháp bình
    i i
    phương nhỏ nhất, chúng ta xác định các hệ số a và b của phương trình đường hồi qui
    bằng cách giải phương trình:

     x i yi  a  x i  b x i2
        yi   a  bx i    Min  
    2
    ei2
     yi  na  b x i

    Ta có: xi: Mức độ hoạt động i
    yi: Chi phí ở mức độ hoạt động i
    n: Số cặp mức độ hoạt động – chi phí (xi, yi)
    ei2: Độ lệch bình phương
    Ví dụ:
    Đường hồi qui chi phí của Mc.Donald được xác định bằng phương pháp bình phương
    nhỏ nhất được thể hiện qua phương trình:
    Y = 1.919,9 + 0,0448 X
    Trong đó: Y: Chi phí hỗn hợp ước lượng của một tháng
    Chi phí cố định: 1.919,9
    Chi phí biến đổi đơn vị: 0,0448
    X: Mức độ hoạt động của một tháng
    Các hệ số a = 1.919,9; b = 0,0448 được xác định từ việc giải phương trình:

     x i yi  a  x i  b x i2

     yi  na  b x i

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 65

  16. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    Với ∑xiyi = 6.937.430.000; ∑xi = 1.121.000; ∑x2 = 106.759.000.000; ∑yi = 73.285
    được xác định từ số liệu trong bảng sau:

    Tháng Mức hoạt động (Xi) Chi phí (Yi) Xi2 XiYi

    1 75.000 5.100 5.625.000.000 382.500.000

    2 78.000 5.300 6.084.000.000 413.400.000

    3 80.000 5.650 6.400.000.000 452.000.000

    4 92.000 6.300 8.464.000.000 579.600.000

    5 98.000 6.400 9.604.000.000 627.200.000

    6 108.000 6.700 11.664.000.000 723.600.000

    7 118.000 7.035 13.924.000.000 830.130.000

    8 112.000 7.000 12.544.000.000 784.000.000

    9 95.000 6.200 9.025.000.000 589.000.000

    10 90.000 6.100 8.100.000.000 549.000.000

    11 85.000 5.600 7.225.000.000 476.000.000

    12 90.000 5.900 8.100.000.000 531.000.000

    Tổng 1.121.000 73.285 106.759.000.000 6.937.430.000

    Đường chi phí được xác định bằng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất được
    thể hiện ở hình 3.10:

    Hình 3.10: Đường chi phí xác định bằng phương pháp hồi quy

    Phương pháp bình phương hồi qui nhỏ nhất là phương pháp phân tích chi phí khách
    quan và sử dụng tất cả số liệu thu thập được. Với phương pháp bình phương nhỏ nhất,
    chúng ta có thể xác định được phương trình của đường biểu diễn sự biến thiên của chi
    phí hỗn hợp khá chính xác trong phạm vi hoạt động thích hợp. Tuy nhiên, phương
    pháp này đòi hỏi kỹ thuật tính toán khá phức tạp.
    Ngày nay, với sự trợ giúp của các phần mềm phân tích thống kế như SPSS, STATA
    hoặc phần mềm xử lý bảng tính EXCEL, chúng ta có thể thực hiện các phân tích hồi
    qui rất thuận lợi.

    66 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  17. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.3. Một số ứng dụng về mối quan hệ CVP trong việc ra quyết định
    Đây là việc ứng dụng mối quan hệ chi phí, khối lượng và lợi nhuận vào việc ra các
    quyết định kinh doanh trong tương lai khi doanh nghiệp phải đương đầu với các ràng
    buộc của thị trường.
    Lấy ví dụ của Công ty may Hưng Thịnh ở trên để xem xét.
    Ví dụ: Với số liệu của Công ty may Hưng Thịnh (đơn vị: 1.000 đồng) trong tháng:

    Tổng số Tính cho 1 sản phẩm

    Doanh thu (1.000 áo x 300.000 đồng) 300.000 300

    Chi phí biến đổi

    Chi phí nguyên liệu trực tiếp 150.000 150

    Chi phí nhân công trực tiếp 20.000 20

    Chi phí sản xuất chung biến đổi 5.000 5

    Tổng chi phí biến đổi 175.000 175

    Lãi trên biến phí 125.000 125

    Tỷ suất lãi trên biến phí 41,67% 41,67%

    Chi phí cố định 37.000 37

    Lợi nhuận 88.000 88

    Kết quả lợi nhuận: Ln = 88.000 còn được xác định theo cách sau:
    SL  lb – Đp = Ln = 1.000  125 – 37.000 = 88.000
    Hay Dt  Lb% – Đp = Ln = 300.000  41,6% – 37.000 = 88.000

    3.3.1. Thay đổi chi phí cố định và doanh thu
    Doanh nghiệp dự kiến các phương án sản xuất kinh doanh nhằm thay đổi doanh thu và
    chi phí cố định. Chẳng hạn mua thêm tài sản cố định, tăng thêm chi phí quảng cáo để
    tăng thêm doanh thu….
    Ví dụ: Giả sử Công ty may Hưng Thịnh dự kiến tăng thêm chi phí quảng cáo
    10.000.000 đồng và kỳ vọng doanh nghiệp sẽ tăng thêm doanh thu 15%. Vậy tính khả
    thi của phương án này thế nào?
    Giải:
    Doanh thu tăng thêm 15% làm cho tổng lãi trên biến phí tăng:
    300.000  15%  41,67% = 18.750
    Trừ chi phí cố định quảng cáo tăng thêm: 10.000
    Lợi nhuận sẽ tăng thêm: 8.750
    Như vậy phương án này có thể áp dụng được vì nó có thể làm tăng lợi nhuận cho
    doanh nghiệp, khoảng lợi nhuận này sẽ là: 88.000 + 8.750 = 96.750.

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 67

  18. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.3.2. Thay đổi chi phí biến đổi và doanh thu
    Doanh nghiệp dự kiến các phương án sản xuất kinh doanh nhằm thay đổi chi phí biến
    đổi và doanh thu. Ví dụ, doanh nghiệp sẽ sử dụng các vật liệu rẻ tiền hơn để sản xuất
    và như vậy chi phí biến đổi sẽ giảm. Thông thường sản phẩm được làm bằng vật liệu
    rẻ tiền hơn sẽ bán với giá thấp hơn (cạnh tranh về giá) và điều này sẽ làm cho doanh
    thu thay đổi. Nếu giá bán không đổi thì sản lượng tiêu thụ sẽ bị giảm theo.
    Ví dụ: Giả sử công ty may Hưng Thịnh dự kiến sử dụng một loại vải khác để may áo rẻ
    tiền hơn làm cho chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm giảm 5 (nđ). Giả sử giá bán
    không đổi, do chất lượng vải giảm nên số lượng sản phẩm tiêu thụ cũng giảm và chỉ còn
    tiêu thụ được 950 sản phẩm. Câu hỏi đặt ra là liệu phương án này có khả thi không?
    Giải:
    Do giá bán không đổi nhưng chi phí biến đổi đơn vị giảm 5 (nđ) làm lãi trên biến phí
    tăng từ 125 lên 130 (nđ), nhưng lượng sản phẩm tiêu thụ chỉ còn 950 sản phẩm. Vậy:
     Tổng lãi trên biến phí mới sẽ là: 130 × 950 = 123.500
     Tổng lãi trên biến phí hiện tại là: 125.000
     Tổng lãi trên biến phí tăng thêm (1.500)
    Chi phí cố định không thay đổi, tổng lãi trên biến phí giảm 1.500 (nđ) đó chính là số
    lợi nhuận bị giảm. Số lợi nhuận mới bây giờ sẽ là: 88.000 – 1500 = 86.500 (nđ)
    Vậy phương án này không có lợi cho doanh nghiệp nên không có tính khả thi.

    3.3.3. Thay đổi chi phí cố định, giá bán và sản lượng
    Doanh nghiệp dự kiến lựa chọn phương án sản xuất
    kinh doanh cho phép doanh nghiệp thay đổi chi phí cố
    định (tăng thêm máy móc, chi phí quảng cáo…) đồng
    thời thay đổi giá bán (thông thường doanh nghiệp sẽ
    giảm giá bán). Cùng với việc giảm giá bán và tăng chi
    phí quảng cáo, doanh nghiệp mong muốn sẽ cải thiện sản lượng tiêu thụ và cuối cùng
    là doanh số bán hàng.
    Ví dụ: Giả sử công ty may Hưng Thịnh dự định thúc đẩy sản lượng tiêu thụ bằng cách
    giảm giá bán đồng thời tăng cường quảng cáo. Chẳng hạn, công ty giảm giá bán 5 (nđ)
    và tăng 2.000 (nđ) chi phí quảng cáo với hy vọng công ty sẽ tiêu thụ số lượng sản
    phẩm tăng thêm 15%. Vậy lợi nhuận của công ty sẽ thay đổi như thế nào?
    Giải:
    Do giá bán giảm 5(nđ) một sản phẩm làm cho lãi trên biến phí đơn vị giảm còn
    125 – 5 = 120 (nđ). Do sản lượng tăng 15% nên số lượng sản phẩm mới sẽ là
    1.000 × 115% = 1.150 sản phẩm.
     Tổng lãi trên biến phí mới: 1.150 (sp) × 120 (nđ) = 138.000 (nđ)
     Trừ tổng lãi trên biến phí hiện tại 125.000 (nđ)
     Tổng lãi trên biến phí tăng thêm 13.000 (nđ)
     Trừ chi phí quảng cáo tăng thêm 2.000 (nđ)
     Lợi nhuận tăng thêm 11.000 (nđ)
    Như vậy, phương án này tốt hơn tình hình hiện tại, nó cho phép doanh nghiệp có thể
    đạt được lợi nhuận là 88.000 + 11.000 = 99.000 (nđ). Mức lợi nhuận này là cao nhất
    trong 3 phương án trên.

    68 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

  19. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    3.3.4. Thay đổi chi phí cố định, chi phí biến đổi và doanh thu
    Doanh nghiệp sẽ áp dụng phương án sản xuất kinh doanh tại đó doanh nghiệp sẽ thay
    đổi chi phí cố định (giả sử doanh nghiệp thay vì trả lương theo tháng sẽ trả lương theo
    sản phẩm hoặc khối lượng công việc) khi đó sẽ làm chi phí cố định và chi phí biến đổi
    của doanh nghiệp thay đổi. Điều này có thể kích thích người lao động cải tiến phương
    pháp làm việc, phục vụ khách hàng và cho phép tăng sản lượng tiêu thụ.
    Ví dụ: Giả sử công ty may Hưng Thịnh áp dụng hình thức trả lương cho bộ phận bán
    hàng theo hình thức hoa hồng 15 (nđ) /sản phẩm thay vì trả lương tháng như hiện tại
    là 10.000 (nđ).
    Công ty hy vọng rằng với chính sách này sẽ giúp công ty tăng lượng sản phẩm tiêu thụ
    lên 25%. Hãy đánh giá phương án này.
    Giải:
    Việc thay đổi hình thức trả lương từ trả lương theo thời gian chuyển sang trả lương
    theo sản phẩm là việc chuyển dịch một bộ phận của chi phí cố định sang chi phí
    biến đổi.
    Phương án này làm chi phí cố định giảm xuống còn: 37.000 (nđ) – 10.000 (nđ) = 27.000
    (nđ) nhưng chi phí biến đổi lại tăng lên: 175 (nđ) + 15 (nđ) = 190 (nđ/sp). Giá bán không
    đổi nên lãi trên biến phí sẽ giảm từ 125 (nđ) xuống 110 (nđ)/sp. Vậy:
    Tổng lãi trên biến phí mới sẽ là: 1.000  125%  110 = 123.750 (nđ)
    Trừ tổng lãi trên biến phí hiện tại 125.000 (nđ)
    Tổng lãi trên biến phí tăng (1.250) (nđ)
    Cộng chi phí cố định giảm 10.000
    Lợi nhuận tăng 8.750 (nđ)
    Lợi nhuận cuối cùng doanh nghiệp sẽ đạt được là: 88.000 (nđ) + 8.750 (nđ) = 96.750 (nđ)
    kết quả này bằng với kết quả của phương án 1.
    Khi đã đưa ra nhiều phương án khác nhau, nhà quản lý sẽ phải xem xét và cân nhắc để
    lựa chọn ra một phương án tối ưu.

    3.4. Phân tích điểm hòa vốn

    3.4.1. Khái niệm
    Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu đủ bù đắp các chi phí hoạt động kinh
    doanh đã bỏ ra, hay nói cách khác điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh nghiệp
    không có lãi cũng như không bị lỗ.
    Từ khái niệm lãi trên biến phí, ta thấy điểm hòa vốn có thể được định nghĩa là điểm
    mà tại đó tổng lãi trên biến phí đúng bằng chi phí cố định của doanh nghiệp trong kỳ.
    Từ khái niệm trên ta có phương trình điểm hòa vốn:
    Dt – Cp = 0
    Dt – Bp – Đp = 0
    SL  g – SL  bp – Đp = 0
    SL (g – bp) – Đp = 0
    Hay SL (g – bp) = Đp (1)

    ACC304_Bai 3_v2.0013107209 69

  20. Bài 3: Cách ứng xử của chi phí và phân tích mối quan hệ
    chi phí – sản lượng – lợi nhuận

    Việc xác định điểm hòa vốn giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp xác định được mức
    sản xuất và tiêu thụ là bao nhiêu thì hoàn vốn? Doanh nghiệp cần phải hoạt động ở
    mức độ nào với công suất ra sao thì đạt được điểm hòa vốn? Giá tiêu thụ có thể đạt ở
    mức tối thiểu bao nhiêu để doanh nghiệp không bị lỗ cũng như mức độ an toàn của
    doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh như thế nào? Từ đó giúp cho nhà quản trị có
    các chính sách và biện pháp tích cực chỉ đạo các hoạt động về sản xuất và kinh doanh
    đạt hiệu quả cao.

    Hình 3.11: Điểm hòa vốn

    3.4.2. Xác định điểm hoà vốn
    Điểm hòa vốn có thể được xác định cho sản lượng, doanh thu, thời gian, công suất và
    giá bán. Từ phương trình tổng quát ở trên, nếu biết ba trong bốn yếu tố thì yếu tố còn
    lại sẽ là ẩn số và cần được xác định.

    3.4.2.1. Xác định sản lượng hòa vốn
    Từ phương trình (1) ta có sản lượng hòa vốn SLh được xác định bằng:
    SLh = (Đp/(g – bp)
    Hay SLh = Đp/lb (2)
    Ví dụ: Từ số liệu của Công ty may Hưng Thịnh, chúng ta sẽ xác định được sản lượng
    hòa vốn như sau:
    Ta có: Đp = 37.000 (nđ)
    Chi phí biến đổi đơn vị: 175 (nđ)
    Lãi trên biến phí đơn vị: lb = 125 (nđ)
    Ta có: SLh = 37.000/125 = 296 sản phẩm
    Công ty Hưng Thịnh sẽ đạt được điểm hòa vốn với 296 sản phẩm và công ty bắt đầu
    có lãi từ sản phẩm thứ 297, nếu sản xuất dưới mức này công ty sẽ bị lỗ.

    3.4.2.2. Xác định doanh thu hòa vốn
    Doanh thu hòa vốn là doanh thu của sản lượng hòa vốn. Do vậy doanh thu hòa vốn
    Dth được xác định bằng cách lấy sản lượng hòa vốn nhân với giá bán
    Dt = SLh  g (3)

    70 ACC304_Bai 3_v2.0013107209

Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị: Bài 3 – ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng File Word, PDF về máy