[Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân

Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân
Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân

Download


“Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra quyết định ngắn hạn” tìm hiểu các quyết định ngắn hạn trong doanh nghiệp; khái niệm, đặc điểm và tiêu chuẩn chọn quyết định ngắn hạn. Nội dung của các quyết định ngắn hạn, cách tra quyết định ngắn hạn trong thực tế.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân File Word, PDF về máy

Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân

  1. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    THÔNG TIN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VỚI VIỆC RA QUYẾT
    BÀI 8
    ĐỊNH NGẮN HẠN

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Nguyễn Ngọc Quang (Chủ biên) (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất Đại
    học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
    2. Ngô Thế Chi (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Tài
    chính, Hà Nội.
    3. Võ Văn Nhị (Chủ biên) (2006), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất Đại học kinh
    tế Tp HCM.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài 8 trong Học phần Kế toán quản trị 2, nghiên cứu các quyết định ngắn hạn trong doanh
    nghiệp. Khái niệm, đặc điểm và tiêu chuẩn chọn quyết định ngắn hạn. Nội dung của các
    quyết định ngắn hạn, cách tra quyết định ngắn hạn trong thực tế.
    Mục tiêu
     Yêu cầu người học nắm chắc khái niệm, đặc điểm và tiêu chuẩn của quyết định ngắn hạn.
     Nội dung các quyết định ngắn hạn trong doanh nghiệp.

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 43

  2. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Tình huống dẫn nhập
    Cửa hàng Teenage
    Công ty TĐ là một cơ sở uy tín trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng giầy vải thể thao trên địa bàn
    thành phố Hà Nội. Thông thường sản phẩm của công ty được bán với giá 200.000 đồng/đôi. Các
    chi phí tiêu hao bao gồm chi phí vật liệu và tiền lương công nhân sản xuất bình quân 120.000
    đồng/đôi. Hàng tháng công ty phải chịu các khoản chi phí thuê nhà, khấu hao thiết bị sản xuất và
    tiền lương cho bộ phận quản lý là 400.000.000 đồng. Với mức tiêu thụ trung bình 6000 đôi, công
    ty luôn duy trì được lợi nhuận khoảng 80.000.000 đồng.
    Trong tháng N doanh nghiệp nhận được một đơn đặt hàng 1.000 đôi giày trang trí thủ công của
    cửa hàng Teenage chuyên phục vụ các bạn trẻ. Để thực hiện được yêu cầu của khách hàng công
    ty phải chi thêm 70.000 đồng/đôi và 10.000.000 đồng tiền thuê thiết bị để trang trí theo yêu cầu.
    Hiện tại doanh nghiệp đã sử dụng tối đa nhân lực nên nếu nhận đơn hàng này doanh nghiệp phải
    giảm bớt 500 sản phẩm bình thường. Mức giá bán cửa hàng Teenage đưa ra khá hấp dẫn 250.000
    đồng/đôi.

    1. Công ty TĐ nên quan tâm tới những thông tin nào khi xem xét đơn hàng đặc
    biệt này? Thông tin nào không cần quan tâm trong tình huống này?
    2. Sau khi phân tích, công ty TĐ có nên chấp nhận đơn hàng hay không?

    44 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  3. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    8.1. Khái niệm, đặc điểm và tiêu chuẩn thích hợp để chọn quyết định ngắn hạn

    8.1.1. Khái niệm quyết định ngắn hạn
    Quyết định ngắn hạn là những quyết định thường liên
    quan đến một kỳ kế toán hoặc trong phạm vi thời hạn
    dưới một năm. Ra quyết định ngắn hạn đó là chức
    năng cơ bản của các nhà quản trị trong doanh nghiệp.
    Trong thực tiễn hoạt động kinh doanh hàng ngày, các
    nhà quản trị thường phải giải quyết hàng loạt các sự
    việc xảy ra như: Mua nguyên vật liệu của nhà cung cấp nào? Sản xuất bao nhiêu sản
    phẩm? Sản xuất sản phẩm bằng phương pháp nào? Bán sản phẩm ở thị trường nào?
    Có nên quảng cáo sản phẩm khi tiêu thụ không?… Do vậy ra quyết định ngắn hạn
    không những là chức năng mà còn là nhiệm vụ sống còn của các nhà quản lý gắn với
    sự tồn tại phát triển của các doanh nghiệp. Tuy nhiên để có các quyết định có độ tin
    cậy cao đây là những khó khăn, thách thức của các nhà quản trị trong việc thu nhận và
    xử lý thông tin để đưa ra những quyết định tối ưu nhất.

    8.1.2. Đặc điểm của quyết định ngắn hạn
    Quyết định ngắn hạn thường liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch
    vụ trong thời hạn ngắn, có thể là một tháng, quý, năm hoạt động tùy theo những điều
    kiện cụ thể của các doanh nghiệp khác nhau. Ví dụ, mua ngoài hay tự sản xuất một chi
    tiết của sản phẩm hoặc chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng đặc biệt… Do vậy đặc
    điểm cơ bản của quyết định ngắn hạn là vốn đầu tư ít so với các quyết định dài hạn,
    thời gian thu hồi vốn nhanh. Chính vì thế vốn đầu tư cho các quyết định ngắn hạn ít bị
    chi phối bởi các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, như chính sách tiền tệ, thuế,
    xuất – nhập khẩu. Đồng thời ít bị ảnh hưởng của yếu tố lạm phát nhất là trong giai
    đoạn các nước đang phát triển.
    Mặt khác thời gian đầu tư vào các phương án của quyết định kinh doanh ngắn hạn
    thường ngắn, trong phạm vi giới hạn thường dưới một năm. Do vậy các nhà quản trị
    doanh nghiệp dễ thay đổi quyết định ngắn hạn nhằm đảm bảo độ an toàn và hiệu quả
    kinh doanh cao nhất. Quyết định ngắn hạn chủ yếu là quyết định tác nghiệp của các
    cấp quản lý như mở cửa hàng ở vị trí nào? Giá bán sản phẩm bao nhiêu là phù hợp?
    Thuê phương tiện vận chuyển nào?… Các quyết định ngắn hạn thường nhằm mục tiêu
    khai thác tối đa các yếu tố sản xuất hiện có của doanh nghiệp, giảm chi phí thấp nhất
    để đạt được lợi nhuận mong muốn.
    Trong thực tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định ngắn hạn thường
    xảy ra ở ba giai đoạn cơ bản của quá trình sản xuất.
    Quyết định ngắn hạn thuộc giai đoạn cung cấp như: Chọn nhà cung cấp nào phù hợp
    với chất lượng tốt và chi phí thấp, thuê phương tiện nào vận chuyển các yếu tố đầu
    vào? Tuyển bao nhiêu lao động với số lượng và chất lượng? Chủng loại nguyên vật
    liệu được thu mua như thế nào? Chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng với giá giảm
    trong điều kiện kinh doanh bình thường?…
    Quyết định ngắn hạn thuộc giai đoạn sản xuất như: Sản xuất bao nhiêu sản phẩm với
    cơ cấu như thế nào? Tiếp tục sản xuất hay mua ngoài chi tiết của sản phẩm? Ngừng,
    thu hẹp hay không kinh doanh một ngành hàng nào đó của doanh nghiệp? Sản xuất
    sản phẩm với công nghệ hiện đại hay công nghệ thủ công?

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 45

  4. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Quyết định ngắn hạn thuộc giai đoạn tiêu thụ như: Tiêu thụ bao nhiêu sản phẩm với
    cơ cấu như thế nào? Tiếp tục sản xuất hay bán ngoài chi tiết của sản phẩm? Có nên
    quảng cáo cho các sản phẩm không? Chọn những phương thức bán hàng nào phù hợp?
    Quyết định trong điều kiện doanh nghiệp bị giới hạn bởi các yếu tố sản xuất.

    8.1.3. Tiêu chuẩn thích hợp để chọn quyết định ngắn hạn
    Để đưa ra một quyết định ngắn hạn có độ tin cậy cao cần dựa trên những cơ sở khoa
    học thu thập và đánh giá. Tiêu chuẩn cơ bản của các quyết định ngắn hạn cần được
    xem xét ở góc độ kinh tế. Tất cả mọi quyết định ngắn hạn đều hướng tới mục tiêu là
    chi phí thấp nhất, doanh thu cao nhất và dẫn tới lợi nhuận cao nhất. Muốn nhận diện
    lợi nhuận của các phương án đầu tư có độ tin cậy cao cần phải phân tích các thông tin
    chi phí, doanh thu dưới góc độ của kế toán quản trị.
    Tuy nhiên trong thực tế khi đưa ra các quyết định ngắn hạn ngoài việc ưu tiên mục
    tiêu kinh tế cần phải được xem xét trong mối quan hệ với các mục tiêu khác như giải
    quyết công ăn, việc làm cho người lao động, tình hình bảo vệ môi trường, tình hình
    chính trị… quan hệ với các mục tiêu phát triển dài hạn của doanh nghiệp.

    8.2. Phân tích thông tin thích hợp và không thích hợp cho việc ra quyết định
    ngắn hạn
    Phân biệt thông tin thích hợp và không thích hợp là cơ
    sở để đưa ra các quyết định ngắn hạn có ý nghĩa quan
    trọng đối với các cấp quản trị trong quá trình thu thập
    và xử lý các thông tin kế toán quản trị.
    Giảm được thời gian và chi phí cho quá trình xử lý các
    thông tin đưa ra quyết định tác nghiệp hàng ngày. Mặt
    khác hạn chế các trường hợp quá tải về thông tin từ khâu
    thu nhận cho tới tiến trình xử lý. Trong điều kiện nền
    kinh tế thị trường phát triển, yếu tố nhanh và xử lý kịp
    thời thông tin được coi là những tiêu thức quan trọng của
    các nhà quản trị trong việc điều hành doanh nghiệp.

    8.2.1. Phân tích thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
    Trong tất cả các thông tin thu thập để xử lý đưa ra quyết định ngắn hạn, thường chia
    thành 2 dạng: Thông tin thích hợp và thông tin không thích hợp. Do vậy nhiệm vụ đầu
    tiên của các nhà quản trị khi đưa ra quyết định ngắn hạn cần phải phân loại thông tin
    trên cơ sở tổng hợp và nhận diện.
    Thông tin thích hợp đó là những thông tin thường liên quan đến chi phí của các phương
    án kinh doanh. Chi phí của các phương án thường được so sánh với nhau, từ đó chọn ra
    một phương án có chi phí thấp nhất. Thông tin về chi phí của các phương án được coi là
    thông tin cơ bản nhất, do vậy để phân tích, đánh giá chính xác chi phí của từng phương án
    cần phải hiểu rõ bản chất, quy luật của các yếu tố chi phí phát sinh.
    Bên cạnh thông tin về chi phí đó là doanh thu, thu nhập của từng phương án cụ thể.
    Do vậy cần phân tích doanh thu thường xuyên của các phương án, thu nhập sau khi
    thanh lý các tài sản của các phương án, những khoản thu nhập bất thường khác nếu có.
    Doanh thu cũng là một trong những nguyên nhân cơ bản để tăng lợi nhuận của các

    46 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  5. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    phương án, do vậy đều là thông tin quan trọng để đưa ra quyết định ngắn hạn. Tuy
    nhiên có những phương án cả doanh thu và chi phí đều tăng, do vậy cần so sánh tốc độ
    tăng của doanh thu với tốc độ tăng của chi phí để đưa ra các quyết định chính xác.
    Để thành công trong việc đưa ra các quyết định ngắn
    hạn, các nhà quản trị cần sử dụng các phương pháp
    thích hợp để phân tích và đánh giá, song những thông
    tin đó cũng dựa một phần vào kỹ năng quản trị doanh
    nghiệp trên thương trường. Trước hết độ tin cậy của
    các quyết định ngắn hạn thường phụ thuộc vào hệ
    thống thông tin kế toán quản trị cung cấp trong doanh
    nghiệp. Quá trình thu thập thông tin kế toán quản trị cần đảm bảo những yêu cầu như:
    Phù hợp, kịp thời, chính xác. Sau khi đã phân tích và đánh giá thông tin thích hợp cần
    đạt được những tiêu chuẩn sau:
     Thông tin có liên quan đến tương lai không? Vì các quyết định ngắn hạn phục vụ
    trong thời gian tới, hoạt động kinh doanh sắp xảy ra.
     Thông tin phải có sự khác biệt giữa các phương án nhằm thuận tiện cho quá trình
    xem xét.
     Thông tin có cần thiết cho những dự báo tương lai không.
     Thông tin phục vụ cho những loại quyết định nào chuẩn bị xảy ra trong doanh nghiệp.
     Các khoản chi phí chìm và các khoản thu chi không chênh lệch không phải là
    thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn.
    Khi nhận diện thông tin thích hợp để đưa ra các quyết định ngắn hạn, cần dựa vào
    những cơ sở khoa học chung, song mỗi tình huống cần dựa vào điều kiện cụ thể. Có
    những thông tin về chi phí luôn là thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
    như chi phí cơ hội, chi phí khác biệt.
    Ví dụ: Một doanh nghiệp có khả năng ký kết hợp đồng với 4 Công ty. Do điều kiện
    vốn có hạn, doanh nghiệp chỉ được phép lựa chọn 1 trong 4 hợp đồng. Hãy tiến hành
    phân tích chi phí để lựa chọn hợp đồng sẽ ký kết. Biết các thông tin về chi phí, doanh
    thu với các Công ty như sau:
    Chỉ tiêu Công ty 1 Công ty 2 Công ty 3 Công ty 4
    Doanh thu 2.000.000 3.000.000 2.500.000 4.000.000
    Chi phí 1.500.000 2.700.000 2.150.000 3.580.000

    Bài giải
    Chỉ tiêu Công ty 1 Công ty 2 Công ty 3 Công ty 4
    Doanh thu 2.000.000 3.000.000 2.500.000 4.000.000
    Chi phí 1.800.000 2.700.000 2.150.000 3.580.000
    Lợi nhuận 200.000 300.000 350.000 420 000
    Chi phí cơ hội 420.000 420.000 420.000 350.000
    Kết quả – 180.000 – 120.000 70.000 70.000

    Nhận xét: Qua bảng tính trên, ta thấy khi xét đến chi phí cơ hội thì: với Công ty 1, 2, 3
    thì chi phí cơ hội là lợi nhuận của Công ty 4 và chi phí cơ hội của Công ty 4 là lợi
    nhuận của Công ty 3. Khi đã tính cả chi phí cơ hội thì Công ty 4 vẫn đạt mức lợi
    nhuận cao nhất, vì vậy, doanh nghiệp nên ký kết hợp đồng với Công ty 4.

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 47

  6. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Thông thường khi đưa ra quyết định ngắn hạn đảm bảo độ tin cậy cao, các nhà quản
    trị thường vận dụng các bước sau:
    Bước 1: Tổng hợp tất cả các thông tin về chi phí, doanh thu, thu nhập có liên quan
    đến phương án kinh doanh.
    Bước 2: Chọn lọc các thông tin thích hợp và loại bỏ các thông tin không thích hợp,
    nhằm cho phương án kinh doanh không bị nhiễu bởi nhiều thông tin.
    Bước 3: Phân tích, đánh giá các thông tin thích hợp đã giữ lại. Kết hợp nhiều kỹ năng
    khác nhau, trong đó có kỹ năng nhạy bén của nhà quản trị để lựa chọn thông tin sáng
    suốt nhất, cơ sở đưa ra quyết định.
    Bước 4: Ra quyết định dựa trên thông tin thích hợp phân tích ở bước 3. Quyết định
    chính là sự điều hành của người lãnh đạo đối với các hoạt động kinh doanh đang và
    sắp diễn ra nhằm đảm bảo thu được lợi nhuận cao nhất.

    8.2.2. Phân tích thông tin không thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn
    Thông tin không thích hợp trong các phương án kinh doanh thường được loại bỏ trong
    quá trình phân tích, đánh giá để đưa ra các quyết định ngắn hạn. Thông tin không
    thích hợp là những thông tin không thỏa mãn các yêu cầu và điều kiện ở phần trên. Cụ
    thể đó là những thông tin:
    Chi phí chìm là thông tin không thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn. Thực chất
    chi phí chìm đó là những khoản chi phí đã xảy trong quá khứ mà doanh nghiệp không
    thể trách được cho dù chọn bất kỳ phương án kinh doanh nào. Ví dụ: Số tiền đã trả về
    quyền sử dụng đất của một doanh nghiệp trong thời hạn 49 năm, do vậy khi doanh
    nghiệp thực hiện bất kỳ một phương án kinh doanh nào đều phải chịu số tiền đó, chi
    phí về quyền sử dụng đất được coi là chi phí chìm. Hoặc doanh nghiệp đã xây dựng
    nhà xưởng để sản xuất sản phẩm, chi phí khấu hao nhà xưởng cũng được coi là chi phí
    chìm, vì khi doanh nghiệp chọn bất kỳ công nghệ sản xuất hiện đại hay thủ công đều
    phải chịu chi phí khấu hao nhà xưởng.
    Các khoản chi phí và doanh thu trong tương lai không chênh lệch giữa các phương án
    đều được coi là thông tin không thích hợp trong việc đưa ra quyết định kinh doanh.
    Các khoản chi phí trong tương lai không chênh lệnh nhau giữa các phương án trong
    những tình huống cụ thể cũng là những thông tin không thích hợp trong việc đưa ra
    các quyết định ngắn hạn.
    Ví dụ 1: Công ty Hoàng Sơn đang lựa chọn 1 trong 2 phương án: Mua máy mới hiện
    đại thay cho máy cũ đang sử dụng. Các thông tin về máy mới, máy cũ như sau: (đơn
    vị tính: triệu đồng).
    Máy cũ Máy mới hiện đại
    Giá ban đầu: 525 Giá ban đầu: 600
    Giá trị còn lại trên sổ kê toán: 420
    Thời gian sử dụng: 8 năm Thời gian sử dụng: 8 năm
    Giá trị hiện tại: 270
    Giá trị trong 8 năm tới: 0 Giá trị trong 8 năm tới: 0
    Chi phí biến đổi hàng năm hoạt động: 1035 Chi phí biến đổi hàng năm hoạt động: 900
    Doanh thu dự kiến hàng năm: 1 500 Doanh thu dự kiến hàng năm: 1 500

    48 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  7. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Yêu cầu: Hãy phân tích các thông tin chi phí, doanh thu để chọn 1 trong 2 phương án
    tối ưu nhất?
    Bài giải:
    Bước 1:
     Theo tài liệu trên các thông tin thích hợp bao gồm:
    o Chi phí biến đổi để hoạt động hàng năm.
    o Chi phí khấu hao máy.
    o Giá bán máy cũ.
    o Giá mua máy mới.

     Các thông tin không thích hợp bao gồm:
    o Doanh thu hàng năm.
    o Giá trị thanh lý khi hết thời hạn sử dụng.
    o Giá trị còn lại trên sổ kế toán.
    Bước 2: Với tài liệu trên để đi tới quyết định lựa chọn phương án mua máy mới hay
    vẫn sử dụng máy cũ cần nhận diện và loại bỏ các thông tin. Trước hết ta thấy”giá trị
    còn lại trên sổ kế toán”của máy cũ là yếu tố chi phí chìm do vậy cần loại bỏ thông tin
    này. Giá trị còn lại của máy cũ: 420 triệu đồng là khoản chi phí không tránh được cho
    dù ta chọn bất kỳ phương án nào. Trường hợp máy cũ được giữ lại sử dụng thì khoản
    chi phí này được coi là chi phí khấu hao. Trường hợp mang đi bán thì khoản chi phí
    này được tính vào chi phí nhượng bán. Để phân tích các thông tin, chọn phương án tối
    ưu, ta lập bảng sau:
    Tổng hợp chi phí và doanh thu qua 8 năm hoạt động
    Chỉ tiêu Sử dụng máy cũ Mua máy mới Chênh lệch
    Doanh thu 12.000 12.000 0
    Chi phí hoạt động 8.280 7.200 1.080
    Chi phí khấu hao máy mới 600 – 600
    Khấu hao máy cũ hoặc xóa bỏ sổ kế
    420 420 0
    toán máy cũ
    Giá bán máy cũ 270 270
    Lợi nhuận 3.300 4.050 750

    Từ bảng phân tích trên ta thấy phương án mua máy mới mang lại lợi nhuận cao hơn
    phương án mua máy cũ là 750 triệu đồng. Do vậy nhà quản trị nên chọn phương án
    mua máy mới.
    Chỉ tiêu Phương án ban đầu Sử dụng thiết bị bổ sung

    Doanh thu 300.000 300.000

    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 100.000 100.000

    Chi phí nhân công trực tiếp 75.000 50.000
    Biến phí sản xuất chung 25.000 25.000
    Định phí hoạt động hàng năm 50.000 50.000

    Chi phí khấu hao thiết bị mới 20.000

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 49

  8. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Ví dụ 2: Công ty may EFH đang sử dụng công nghệ bán thủ công. Giám đốc Công ty
    đang lựa chọn một trong 2 phương án: Mua thiết bị bổ sung cho công nghệ bán thủ
    công nhằm giảm bớt sức lao động của công nhân hay vẫn giữ nguyên phương án ban
    đầu. Phòng kế hoạch dự tính mua thiết bị bổ sung 200 triệu đồng, sử dụng trong 10
    năm. Các thông tin về doanh thu, chi phí liên quan đến 2 phương án như sau: (đơn vị
    tính: triệu đồng).
    Căn cứ vào bảng phân tích trên ta thấy, việc sử dụng thiết bị bổ sung đã làm cho chi
    phí nhân công trực tiếp tiết kiệm được 25.000 triệu đồng so với phương án ban đầu.
    Tuy nhiên mua thiết bị bổ sung phát sinh các khoản chi phí khấu hao mới 20.000 triệu
    đồng. Đó là những thông tin khác biệt trong tình huống này, còn lại tất cả các thông
    tin là như nhau, do vậy ta cần phân tích những thông tin khác biệt:
    Phương án Sử dụng thiết bị
    Chỉ tiêu Chênh lệch
    ban đầu bổ sung
    Chi phí nhân công trực tiếp 75.000 50.000 – 25.000
    Chi phí khấu hao thiết bị bổ sung 20.000 20.000
    Chi phí tiết kiệm hàng năm do sử dụng thiết – 5.000
    bị bổ sung

    Như vậy, quá trình phân tích các thông tin khác biệt sẽ đơn giản hơn để đưa ra quyết
    định nhanh và chính xác. Qua bảng phân tích trên, ta thấy doanh nghiệp nên chọn
    phương án mua thiết bị bổ sung tiết kiệm chi phí là 5.000 triệu đồng và đó cũng chính
    là mức lợi nhuận tăng thêm.

    8.3. Nội dung các quyết định ngắn hạn trong doanh nghiệp

    8.3.1. Quyết định có nên chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng đặc biệt
    Bình thường các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm theo kế hoạch ở các thị
    trường truyền thống. Khi doanh nghiệp muốn phát triển cần khai thác ở những thị
    trường mới, do vậy các khoản chi phí quảng cáo, tiếp thị thường chiếm tỷ trọng đáng
    kể. Trong trường hợp nếu có đơn đặt hàng đặc biệt thì doanh nghiệp có thể chấp nhận
    dễ dàng khi đơn giá bằng hoặc cao hơn giá thông thường. Nhưng nếu chấp nhận với
    đơn giá thấp hơn thì lợi nhuận ngắn hạn có thể tăng nhưng về lâu dài thì lợi nhuận có
    thể giảm và ảnh hưởng tới các yếu tố khác. Trong những tình huống như vậy cần phân
    tích thận trọng các nhân tố tác động tới lợi nhuận doanh nghiệp. Để đưa ra quyết định
    đúng đắn cần căn cứ vào những điểm sau:
     Khách hàng thuộc thị trường truyền thống hay thị trường mới?
     Máy móc thiết bị sản xuất đã hết công suất chưa?
     Đơn đặt hàng phải có lợi nhuận, mối quan hệ giữa chi phí cố định trực tiếp và chi
    phí cố định bắt buộc.
     Khả năng sản xuất của doanh nghiệp.
    Ví dụ: Có tài liệu sau về tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại công ty A trong
    năm N như sau: (đơn vị tính: ngàn đồng)

    50 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  9. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Chỉ tiêu Tổng số 1 sản phẩm
    Số sản phẩm sản xuất và tiêu thụ năm N 50.000 (sản phẩm) –
    Doanh thu tiêu thụ 6.250.000 125
    Giá vốn hàng bán 4.000.000 80
    Lợi nhuận gộp 2.250.000 45
    Chi phí hoạt động 1.100.000 22
    Lợi nhuận trước thuế 1.150.000 23
    Định phí sản xuất chung 2.000.000
    Định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 600.000
    Năng lực sản xuất tối đa một năm 70.000 (sản phẩm)

    Giả sử doanh nghiệp ký một đơn đặt hàng ở thị trường mới, với số lượng 10.000 sản
    phẩm với giá 50.000 đồng/sản phẩm và giao tại nơi sản xuất. Công ty phải chi cho
    việc ký kết hợp đồng là 30.000.000 đồng.
    Yêu cầu: Hãy phân tích cho biết doanh nghiệp có nên nhận đơn hàng này không?
    Bài giải: (đơn vị tính: ngàn đồng)
    Biến phí sản xuất 1 sản phẩm = (Giá vốn hàng bán – Định phí sản xuất chung)/Số
    lượng sản xuất: (4.000.000 – 2.000.000)/50.000 = 40/1 sản phẩm
    Biến phí ngoài sản xuất 1 sản phẩm = (Chi phí hoạt động – Định phí hoạt động)/Số
    lượng tiêu thụ: (1.100.000 – 600.000)/50.000 = 10/1 sản phẩm
    Tổng biến phí 1 sản phẩm: 40 + 10 = 50
    Như vậy, lợi nhuận góp tăng thêm khi nhận đơn hàng là:
    (50 – 50)  10.000 = 0
    Do chi phí tăng thêm 30 000 nên lợi nhuận của công ty tăng thêm:
    0 – 30.000 = – 30.000
    Ta lập lại báo cáo kết quả kinh doanh (đơn vị tính: 1.000 đồng)
    Tiêu thụ thị trường Tiêu thụ thêm đơn
    Chênh
    Chỉ tiêu truyền thống (50.000 đặt hàng mới (60.000
    lệnh
    sản phẩm) sản phẩm)
    Doanh thu 6.250.000 6.750.000 500.000
    Chi phí khả biến 2.500.000 3.000.000 400.000
    Biến phí sản xuất 2.000.000 2.400.000 400.000
    Biến phí bán hàng và quản lý 500.000 600.000 0
    doanh nghiệp
    Lợi nhuận góp 3.750.000 3 750 000 100.000
    Chi phí cố định 2.600.000 2.630.000 30.000
    Lợi nhuận 1.150.000 1.120.000 – 30.000

    Nhận xét: Giá mua của đơn đặt hàng mới đưa ra là thấp so với giá bán hiện tại trên thị
    trường truyền thống của công ty. Nhưng lợi nhuận bị lỗ 30 triệu, do vậy công ty không
    nên chấp nhận đơn đặt hàng này.

    8.3.2. Quyết định loại bỏ hay tiếp tục kinh doanh một bộ phận trong doanh nghiệp
    Trong thực tế nhiều doanh nghiệp kinh doanh đa ngành nghề, nhiều chủng loại mặt
    hàng khác nhau, các mặt hàng và ngành nghề có thể hỗ trợ nhau trong hoạt động kinh

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 51

  10. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    doanh. Khi doanh thu của một mặt hàng này tăng hay giảm đều ảnh hưởng tới doanh
    thu của những mặt hàng khác, do vậy tác động tới số dư bộ phận của từng hoạt động
    và ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong các bộ phận cụ thể như sản
    phẩm, dịch vụ, cửa hàng, phân xưởng… hiệu quả và kết quả kinh doanh đều thấp, nhà
    quản trị cần xem xét và phân tích để đưa ra quyết định có nên loại bỏ hay tiếp tục kinh
    doanh hoặc thu hẹp phạm vi hoạt động nhằm đảm bảo lợi nhuận và mức độ an toàn
    của doanh nghiệp cao nhất.
    Quyết định này thường xảy ra phổ biến trong hoạt động kinh doanh của các doanh
    nghiệp. Do vậy khi đưa ra quyết định này cần phải phân tích dựa trên những cơ sở
    khoa học sau:
     Lợi nhuận của các bộ phận tạo ra cho doanh nghiệp.
     Mối quan hệ giữa chi phí cố định trực tiếp và chi phí cố định chung của từng bộ
    phận đối với doanh nghiệp.
     Tác động doanh thu của từng bộ phận với nhau ảnh hưởng tới doanh thu chung
    của doanh nghiệp.
    Ví dụ 1: Công ty Thương Mại Hoàng Hà kinh doanh đa mặt hàng, báo cáo kết quả
    kinh doanh năm hoạt động của Công ty như sau: (đơn vị tính: triệu đồng).
    Chỉ tiêu Tổng số Hàng gia dụng Hàng thực phẩm Hàng điện tử
    Doanh thu 800.000 360.000 320.000 120.000
    Chi phí biến đổi 424.000 200.000 144.000 80.000
    Lợi nhuận góp 376.000 160.000 176.000 40.000
    Định phí 286.000 122.000 108.000 56.000
    Định phí trực tiếp 86.000 32.000 28.000 26.000
    Định phí gián tiếp 200.000 90.000 80.000 30.000
    Lợi nhuận 90.000 38.000 68.000 – 16.000

    Căn cứ vào báo cáo trên, giám đốc đưa ra quyết định loại bỏ kinh doanh mặt hàng
    điện tử.
    Yêu cầu: Hãy phân tích và xem xét quyết định của giám đốc có phù hợp không?
    Bài giải: Ta cần xem xét tính chất của chi phí cố định trực tiếp và chi phí cố định gián
    tiếp trong mối quan hệ với các ngành hàng kinh doanh. Định phí trực tiếp là những
    định phí phát sinh của từng bộ phận kinh doanh, như khấu hao các tài sản cố định
    phục vụ trực tiếp cho từng hoạt động. Định phí gián tiếp là những khoản định phí phát
    sinh chung của toàn công ty như tiền thuê văn phòng, lương của bộ máy điều hành.
    Định phí gián tiếp thường được phân bổ cho các bộ phận theo những tiêu thức khác
    nhau. Đối với Công ty Hoàng Hà phân bổ định phí gián tiếp theo doanh thu bán hàng.
    Do vậy định phí trực tiếp là những khoản chi phí mà doanh nghiệp có thể tránh được,
    do vậy các nhà quản trị tìm mọi biện pháp kiểm soát chi phí để làm cho chi phí thấp
    nhất. Định phí gián tiếp phân bổ cho các bộ phận là chi phí không thể tránh được cho
    dù các bộ phận kinh doanh những mặt hàng nào. Từ việc phân tích trên ta lập Báo cáo
    kết quả kinh doanh trong 2 trường hợp: Tiếp tục kinh doanh ngành điện tử hoặc loại
    bỏ kinh doanh ngành điện tử như sau:
    Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty:

    52 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  11. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Tiếp tục kinh doanh Loại bỏ kinh doanh
    Chỉ tiêu Chênh lệch
    ngành điện tử ngành điện tử
    Doanh thu 800.000 680.000 – 120.000
    Chi phí biến đổi 424.000 344.000 80.000
    Lợi nhuận góp 376.000 336.000 – 40.000
    Định phí trực tiếp 86.000 60.000 26.000
    Lợi nhuận – 14.000

    Căn cứ vào Báo cáo phân tích trên, ta thấy nếu loại bỏ kinh doanh ngành hàng điện tử
    thì lợi nhuận của doanh nghiệp giảm đi 14.000 triệu đồng, do vậy doanh nghiệp nên
    tiếp tục kinh doanh và tìm thêm các biện pháp mới để giảm chi phí.
    Ví dụ 2: Một doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm tại 2 cửa hàng A và B trên 2 địa điểm
    khác nhau. Tài liệu do kế toán cung cấp sau một kỳ hoạt động như sau:
    (đơn vị tính: 1.000 đồng)
    Chỉ tiêu Tổng số Cửa hàng A Cửa hàng B
    Doanh thu 2.500.000 1.600.000 900.000
    Các khoản giảm trừ 65.000 41.500 23.500
    Doanh thu thuần 2.435.000 1.558.500 876.500
    Giá vốn hàng bán 1.704.500 966.500 738.000
    Hàng tồn kho đầu kỳ 350.000 140.000 210.000
    Hàng mua trong kỳ 2.154 500 1.146 500 1.008.000
    Hàng tồn kho cuối kỳ 450.000 180.000
    Lợi nhuận gộp 730.500 592.000 138.500
    Chi phí hoạt động 627.500
    Lợi nhuận trước thuế 103.000
    Thuế thu nhập doanh nghiệp 28.840

    Yêu cầu:
    1. Phân bổ chi phí hoạt động cho từng cửa hàng theo số liệu sau:
    o Tiền lương cho nhân viên bán hàng của cửa hàng A là 84.500 và cửa hàng B là
    50.500.
    o Chi phí quảng cáo cho cửa hàng A là 25.000, cửa hàng B là 15.000. Ngoài ra
    chi phí quảng cáo của toàn doanh nghiệp là 50.000 cũng được phân bổ cho 2
    cửa hàng theo tỷ lệ của chi phí quảng cáo trực tiếp.
    o Chi phí khấu hao nhà xưởng 80.000, trong đó cho cửa hàng A là 60%, cửa
    hàng B là 40%.
    o Chi phí mua hàng trực tiếp tại mỗi cửa hàng A, B là 70.000 và 39.000.
    o Chi phí mua hàng gián tiếp là 25.000, phân bổ cho cửa hàng A là 57% và cửa
    hàng B là 43%.
    o Chi phí giao hàng trực tiếp tại cửa hàng B là 10.000. Còn chi phí giao hàng
    chung 50.000 được phân bổ cho cửa hàng A và B theo tỷ lệ là 30% và 70%.
    o Chi phí hành chính trực tiếp tại cửa hàng A và B là 15.500 và 13.000. Còn chi
    phí hành chính chung 100.000 được phân bổ cho từng cửa hàng theo tỷ lệ
    doanh thu tiêu thụ.

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 53

  12. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    2. Lập báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng của chi phí. Nhận xét.
    3. Lập báo cáo kết quả kinh doanh bộ phận theo cách ứng xử của chi phí. So sánh với
    báo cáo đã lập ở trên. Có nên đình chỉ hoạt động của cửa hàng B không? Nếu có
    thì lúc đó lợi nhuận của công ty là bao nhiêu?
    4. Giả sử công ty ngừng hoạt động của cửa hàng B tức là giảm được 16.000.000 định
    phí chung phân bổ và toàn bộ định phí thuộc tính. Xác định ảnh hưởng của việc
    đình chỉ cửa hàng B đến lợi nhuận của doanh nghiệp?
    Bài giải:
    1. Phân bổ chi phí cho 2 cửa hàng A và B:
    Cửa hàng A Cửa hàng B
    Toàn
    Chỉ tiêu doanh Định phí Định phí
    Định phí Định phí
    nghiệp chung chung
    thuộc tính thuộc tính
    phân bổ phân bổ
    Tiền lương 135.000 84.500 50.500
    Chi phí quảng cáo 90.000 25.000 31.250 15.000 18.750
    Chi phí khấu hao nhà xưởng 80.000 48.000 32.000
    Chi phí mua hàng 134.000 70.000 14.250 39.000 10.750
    Chi phí hành chính 128.500 15.500 64.000 13.000 36.000
    Chi phí giao hàng 60.000 10.000 15.000 10.000 35.000
    Tổng 627.500 195.000 172.500 127.500 132.500

    2. Lập Báo cáo Kết quả kinh doanh theo chức năng của chi phí:
    Chỉ tiêu Toàn doanh nghiệp Cửa hàng A Cửa hàng B
    Doanh thu 2.500.000 1.600.000 900.000
    Các khoản giảm trừ 65.000 41 500 23.500
    Doanh thu thuần 2.435.000 1.558.500 876.500
    Giá vốn hàng bán 1.704.500 966.500 738.000
    Lợi nhuận gộp 730.500 592.000 138.500
    Chi phí hoạt động 627.500 367.500 260.000
    Lợi nhuận 103.000 224.500 (121.500)

    Nhận xét: Căn cứ báo cáo kết quả kinh doanh theo chức năng của chi phí thì cửa
    hàng B hoạt động không hiệu quả, bị lỗ 121.500, do đó làm giảm lợi nhuận của
    toàn công ty. Như vậy nếu ngừng hoạt động của cửa hàng B thì lợi nhuận của toàn
    công ty sẽ tăng lên.
    Tuy nhiên kết quả kinh doanh của cửa hàng B phụ thuộc vào các khoản chi phí
    gián tiếp phân bổ cho cửa hàng. Nếu cửa hàng B ngừng hoạt động thì các khoản
    chi phí trực tiếp sẽ không còn nhưng các chi phí chung phân bổ thì vẫn sẽ phát
    sinh và chỉ có cửa hàng A chịu toàn bộ chi phí ấy và lúc đó chưa chắc lợi nhuận
    doanh nghiệp giảm. Vì vậy để có kết luận chính xác hơn về kết quả và hiệu quả
    hoạt động của cửa hàng B ta cần phải lập thêm báo cáo kết quả kinh doanh theo
    cách ứng xử của chi phí.
    3. Lập báo cáo kết quả kinh doanh bộ phận theo cách ứng xử của chi phí:

    54 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  13. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Chỉ tiêu Toàn doanh nghiệp Cửa hàng A Cửa hàng B
    Doanh thu 2.500.000 1.600.000 900.000
    Các khoản giảm trừ 65.000 41.500 23.500
    Doanh thu thuần 2.435.000 1.558.500 876.500
    Chi phí khả biến 1.704.500 966.500 738.000
    Lợi nhuận góp 730.500 592.000 138.500
    Định phí trực tiếp 322.500 195.000 127.500
    Số dư bộ phận 408.000 397.000 11.000
    Định phí chung 305.000
    Lợi nhuận 103.000
    Nhận xét: Qua báo cáo kết quả kinh doanh theo cách ứng xử của chi phí thì cửa
    hàng B đã tạo ra mức lợi nhuận bộ phận là 11.000, để đóng góp lợi nhuận của
    toàn doanh nghiệp. Điều này cũng có nghĩa là cửa hàng B góp phần trang trải chi
    phí cố định chung của doanh nghiệp. Vì vậy quyết định ngừng hoạt động của cửa
    hàng B là chưa nên thực hiện. Doanh nghiệp cần áp dụng một số biện pháp để
    nâng cao hiệu quả kinh doanh của B.
    4. Nếu ngừng hoạt động của cửa hàng B thì doanh nghiệp sẽ mất đi số dư bộ phận là
    11.000, và cũng có nghĩa là lợi nhuận của doanh nghiệp giảm đi nhiều nhất là 11.000.

    8.3.3. Quyết định tự sản xuất hay mua các chi tiết sản phẩm
    Trong các sản phẩm của doanh nghiệp có thể bao gồm nhiều bộ phận, chi tiết cấu
    thành. Có những bộ phận, chi tiết doanh nghiệp tự sản xuất được hoặc mua ngoài để
    lắp ráp tạo ra sản phẩm cuối cùng thỏa mãn nhu cầu của thị trường.
    Trường hợp những doanh nghiệp sản xuất có kết cấu phức tạp, sản phẩm hoàn thành
    do lắp ráp của nhiều chi tiết cấu thành, qua nhiều giai đoạn công nghệ sản xuất. Ví dụ
    các công ty sản xuất xe đạp, xe máy, ô tô…
    Tuy nhiên khi doanh nghiệp tự sản xuất chi tiết của sản phẩm thì toàn bộ quá trình sản
    xuất dễ dàng kiểm soát về số lượng và chất lượng từ khâu thiết kế cho tới hoàn thành
    hơn là mua ngoài chi tiết. Mặt khác khi mua ngoài doanh nghiệp có thể tránh được các
    khoản chi phí cố định đầu tư ban đầu.
    Để đưa ra quyết định tự sản xuất hay mua ngoài các chi tiết của sản phẩm cần phải
    phân tích và đánh giá dựa trên những cơ sở khoa học sau:
     Lợi nhuận của từng phương án mang về.
     Khả năng tiếp tục sản xuất của doanh nghiệp.
     Khả năng cung ứng của thị trường về chi tiết hay bộ phận của sản phẩm trước mắt
    và dài hạn.
     Chất lượng của chi tiết khi thu mua hoặc sản xuất ảnh hưởng đến chất lượng của
    sản phẩm.
     Tình hình tài chính của doanh nghiệp.
    Ví dụ 1: Công ty xe đạp VIHA chuyên sản xuất và lắp ráp các loại xe đạp. Phòng kế
    toán cung cấp số liệu dự toán chi phí 1.000 yên xe đạp như sau: (đơn vị tính: đồng)
     Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: 5.000.000
     Chi phí nhân công trực tiếp: 15.000.000

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 55

  14. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

     Biến phí quản lý phân xưởng: 6.000.000
     Định phí sản xuất phân xưởng: 3.000.000
     Định phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho phân xưởng: 1.000.000
     Giá mua ngoài đơn vị là 32.000
    Nếu công ty tự sản xuất thì phải thu hồi máy của phân xưởng đang cho thuê với giá
    thuê là 4.000.000/năm.
    Yêu cầu: Hãy phân tích chi phí để xác định công ty nên chọn phương án tự sản xuất
    hay mua mới yên xe đạp?
    Bài giải:
    Lập bảng tính giá thành sản xuất sản phẩm
    Đơn vị sản
    Chỉ tiêu Tổng số
    phẩm
    Biến phí sản xuất 26.000.000 26.000
    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 5.000.000 5.000
    Chi phí nhân công trực tiếp 15.000000 15.000
    Biến phí sản xuất chung 6.000.000 6.000
    Định phí 4.000.000 4.000
    Định phí quản lý phân xưởng 3.000.000 3.000
    Định phí quản lý doanh nghiệp phân bổ 1.000.000 1.000
    Tổng chi phí 30.000.000 30.000

    Nhận xét: Mặc dù giá thành sản xuất sản phẩm đơn vị là 30.000 nhỏ hơn giá mua
    ngoài là 32.000, nhưng công ty chưa thể căn cứ vào so sánh này để đưa ra quyết định
    tự sản xuất hay không vì: Nếu căn cứ vào giá thành sản xuất dự toán để quyết định thì
    không chính xác vì trong cơ cấu của giá thành sản phẩm cần loại bỏ định phí quản lý
    doanh nghiệp phân bổ vào và phải cộng thêm chi phí cơ hội chính là số tiền thu do cho
    thuê phương tiện khi không sản xuất.
    Ta có bảng tính chi phí đầy đủ như sau:
    Chỉ tiêu Tổng số Đơn vị sản phẩm

    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 5.000 000 5.000

    Chi phí nhân công trực tiếp 15.000.000 15.000

    Chi phí sản xuất chung 9.000.000 9.000

    Biến phí quản lý phân xưởng 6.000.000 6.000

    Định phí quản lý phân xưởng 3.000.000 3.000

    Chi phí cơ hội 4.000.000 4.000

    Tổng 33.000.000 33.000

    Nhận xét: Như vậy khi tính đầy đủ các chi phí thì giá thành sản xuất sẽ lớn hơn giá
    mua ngoài là 1.000/1 sản phẩm. Vì vậy công ty nên tiến hành mua ngoài yên xe đạp
    tốt hơn tự sản xuất.
    Ví dụ 2: Công ty Ford chuyên sản xuất và lắp ráp ô tô các loại. Theo kế hoạch hàng
    năm công ty hoàn thành 2.500 ô tô Ford 4 chỗ để cung cấp ra thị trường. Trong các

    56 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  15. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    chi tiết cấu thành sản phẩm có lốp ô tô, công ty có thể tự sản xuất hay mua ngoài với
    sản lượng 10.000 lốp. Các tài liệu về sản xuất lốp ô tô do phòng kế toán cung cấp như
    sau: (đơn vị tính: ngàn đồng).
    Chỉ tiêu Tổng số 1 chi tiết
    Chi phí nguyên vật liệu 120.000 12
    Chi phí nhân công 80.000 8
    Biến phí sản xuất chung 20.000 2
    Lương nhân viên phân xưởng 60.000 6
    Khấu hao tài sản cố định của phân xưởng 40.000 4
    Định phí quản lý doanh nghiệp phân bổ 100.000 10

    Công ty Ford vừa nhận được thư chào hàng của nhà cung cấp Công ty THANTIEN đề
    nghị cung cấp lốp ô tô với giá 38.000 đồng/cái đúng theo số lượng và chất lượng yêu cầu.
    Yêu cầu: Hãy phân tích chi phí để đưa ra quyết định Công ty Ford nên tự sản xuất hay
    mua ngoài lốp ô tô?
    Bài giải: Xem xét các yếu tố chi phí trên, ta thấy rằng chi phí khấu hao tài sản cố định
    ở phân xưởng là chi phí chìm, chi phí cố định của doanh nghiệp phân bổ cho phân
    xưởng là chi phí không thể tránh được. Như vậy cho dù doanh nghiệp tự sản xuất hay
    mua ngoài thì vẫn cứ phải chịu 2 khoản chi phí này, đây chính là những thông tin
    không thích hợp cho việc đưa ra quyết định. Để nhận diện chính xác ta lập bảng phân
    tích sau:
    Chỉ tiêu Tự sản xuất Mua ngoài Chênh lệch
    Chi phí nguyên vật liệu 120.000 – – 120.000
    Chi phí nhân công 80.000 – – 80.000
    Biến phí sản xuất chung 20.000 – – 20.000
    Lương nhân viên phân xưởng 60.000 – – 60.000
    Giá mua lốp ô tô 380.000 380.000
    Chi phí chênh lệch 100.000

    Qua bảng phân tích trên ta thấy Công ty nên tiếp tục sản xuất lốp ô tô tốt hơn mua
    ngoài vì chi phí tiết kiệm được 100.000 ngàn đồng, đó chính là nguyên nhân làm cho
    lợi nhuận tăng.

    8.3.4. Quyết định nên tiếp tục chế biến hay bán ngay bán thành phẩm
    Đối với nhiều doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm mà tại một số giai đoạn công nghệ
    sản xuất có thể có các bán sản phẩm (sản phẩm) mà bên ngoài chấp nhận tiêu thụ hoặc
    doanh nghiệp tiếp tục sản xuất tạo ra thành phẩm cuối cùng sau đó mới mang ra thị
    trường tiêu thụ. Ví dụ, các công ty dệt may, công ty hóa dầu… Trong các trường hợp
    như vậy, các nhà quản trị kinh doanh cần phải quyết định bán, bán thành phẩm hay
    tiếp tục quá trình sản xuất ra thành phẩm rồi mới bán. Điểm này gọi là điểm rẽ. Từ
    điểm rẽ mỗi loại sản phẩm có thể được xử lý khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của
    các doanh nghiệp. Song để đưa ra quyết định chính xác cho quá trình tiếp tục chế biến
    sản phẩm hay bán bán thành phẩm cần dựa trên những cơ sở khoa học sau:
     Lợi nhuận thu về của từng phương án.
     Khả năng tiếp tục sản xuất của doanh nghiệp.

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 57

  16. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

     Khả năng tài chính của doanh nghiệp.
     Khả năng tiêu thụ bán sản phẩm, sản phẩm cuối cùng.
     Chất lượng của sản phẩm tác động đến uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp…
    Ví dụ 1: Công ty Dệt – May Thành Công chuyên sản xuất vải hoa và vải kẻ. Có tài
    liệu sau về tình hình sản xuất và tiêu thụ của Công ty sau 1 kỳ hoạt động: (đơn vị tính:
    ngàn đồng).
     Tại điểm rẽ, số lượng vải hoa là 1.000 m và vải kẻ là 1.500 m. Tổng giá thành của
    chúng là 1.200.000. Giá bán đơn vị sản phẩm của vải hoa là 950/m và của vải kẻ là
    700/m.
     Nếu chế biến thêm rồi mới bán
    Chi phí chế biến thêm của vải hoa là 200/m, của vải kẻ là 120/m.
    Giá bán đơn vị của vải hoa là 1.130/m, của vải kẻ là 910/m.
    Giá thành sản xuất từng loại sản phẩm tỷ lệ với doanh thu tiêu thụ.
    Yêu cầu: Cho biết doanh nghiệp nên tiếp tục sản xuất quần áo hay bán ngay bán thành
    phẩm vải hoa, vải kẻ.
    Bài giải:
    Ta tiến hành lập bảng phân tích sau:
    Vải hoa Vải kẻ
    Chỉ tiêu Tổng
    1m Tổng 1m Tổng
    Tại điểm rẽ
    Doanh thu 2.000.000 950 950.000 700 1.050.000
    Giá thành sản xuất 1.200.000 570 570.000 420 630.000
    Lợi nhuận gộp 800.000 380 380.000 280 420.000
    Sản xuất tiếp
    Doanh thu tăng thêm 495.000 180 180.000 210 1.315.000
    Chi phí tăng thêm 380.000 200 200.000 120 180.000
    Lợi nhuận gộp tăng (giảm) thêm 115.000 (20) (20.000) 90 135.000

    Nhận xét: Qua bảng tính tổng hợp này, ta thấy tổng lợi nhuận gộp của toàn doanh
    nghiệp tăng thêm 115.000 nếu tiếp tục sản xuất.
    Tuy nhiên xét chi tiết từng bán thành phẩm: nếu tiếp tục sản xuất vải hoa thì thu nhập
    tăng thêm không đủ bù đắp chi phí phát sinh và bị lỗ 20.000. Còn với vải kẻ thì khi
    tiếp tục sản xuất thì lợi nhuận sẽ tăng thêm 90/m hay 135.000. Vì vậy, doanh nghiệp
    nên quyết định tiếp tục sản xuất vải kẻ và nên tiêu thụ ngay khi còn là bán thành phẩm
    đối với vải hoa.

    8.3.5. Quyết định trong trường hợp năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
    nghiệp bị giới hạn
    Trong thực tế phổ biến các doanh nghiệp kinh doanh đều bị giới hạn bởi các yếu tố
    sản xuất, do vậy ảnh hưởng đến các quyết định và lợi nhuận. Các yếu tố mà doanh
    nghiệp thường bị giới hạn bao gồm: Sự giới hạn về vốn cho hoạt động kinh doanh,
    giới hạn về công suất của máy móc thiết bị, giới hạn về thị trường tiêu thụ, giới hạn về
    trình độ tổ chức quản lý sản xuất, giới hạn về kinh nghiệm quản lý công nghệ mới,

    58 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  17. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    giới hạn về nguồn lao động… Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi doanh nghiệp
    mà bị chi phối bởi những yếu tố giới hạn. Do vậy các nhà quản trị cần phải sáng suốt
    giải quyết các tình huống trong điều kiện giới hạn nhằm khai thác tối đa các yếu tố sản
    xuất sẵn có và đảm bảo lợi nhuận doanh nghiệp là cao nhất.
    a. Trường hợp doanh nghiệp bị chi phối bởi một yếu tố giới hạn
    Trong các doanh nghiệp kinh doanh bị chi phối bởi một yếu tố giới hạn là những đơn
    vị có điều kiện thuận lợi tìm kiếm nguồn lợi nhuận trên thị trường. Để đạt được mục
    tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp cần phải phân tích để chọn ra các phương
    án tối ưu trong điều kiện giới hạn xác định:
     Xác định và chỉ rõ yếu tố giới hạn của doanh nghiệp.
     Xác định lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm, hàng hóa trong điều kiện giới hạn đó.
     Xác định tổng lợi nhuận góp của mỗi loại sản phẩm, dịch vụ trong điều kiện giới hạn.
     Căn cứ vào mối quan hệ của lợi nhuận góp và lợi nhuận của doanh nghiệp để
    chọn phương án tối ưu.
    Ví dụ 1: Nhà máy cao su Sao Vàng cùng sản xuất lốp xe tải và xe con trên một hệ
    thống máy móc công nghệ. Số giờ máy tối đa có thể sản xuất trong năm 6.000 giờ. Để
    sản xuất ra 1 lốp xe tải mất 30 phút, giá bán đơn vị sản phẩm 250.000 đồng, để sản
    xuất ra 1 lốp xe con mất 20 phút, giá bán đơn vị sản phẩm 300.000 đồng. Chi phí biến
    đổi cho 1 lốp xe tải 100.000 đồng, cho 1 lốp xe con 160.000 đồng. Nhu cầu tiêu thụ
    trên thị trường của 2 sản phẩm là như nhau.
    Yêu cầu: Hãy phân tích xem sản phẩm nào được các nhà quản trị chọn để sản xuất
    nhằm tối đa hóa lợi nhuận?
    Bài giải: Chi phí cố định của máy móc thiết bị sản xuất được coi là không đổi, khi
    Nhà máy chọn sản xuất lốp xe tải hay xe con. Do vậy đây là thông tin không thích hợp
    trong việc lựa chọn quyết định. Yếu tố giới hạn của nhà máy là tổng số giờ hoạt động
    của máy móc tối đa là 6.000 giờ 1 năm. Do vậy ta cần xác định lợi nhuận góp của 1
    giờ máy sản xuất ra lốp xe tải hoặc xe con, từ đó đưa ra quyết định chính xác, thông
    qua bảng phân tích sau:
    Chỉ tiêu Sản xuất lốp xe tải Sản xuất lốp xe con
    Lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm 150.000 140.000
    Số giờ máy cần để sản xuất 1 sản phẩm 1/2 1/3
    Lợi nhuận góp 1 giờ máy 300.000 420.000
    Tổng số giờ máy 6.000 6.000
    Tổng lợi nhuận góp 1.800.000.000 2.520.00.000

    Như vậy nhà máy nên sản xuất lốp xe con mang lại lợi nhuận cao hơn so với sản xuất
    lốp xe tải.
    b. Trường hợp doanh nghiệp bị chi phối bởi nhiều yếu tố giới hạn
    Đa số các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh đều bị chi phối
    bởi nhiều yếu tố giới hạn, đặc biệt khi nền kinh tế bị suy thoái ảnh hưởng bởi các điều
    kiện tài chính, phi tài chính. Trong các trường hợp cùng một thời điểm doanh nghiệp
    bị chi phối bởi các yếu tố giới hạn, cần phải phân tích thận trọng để đưa ra các quyết
    định tối ưu.

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 59

  18. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Quá trình phân tích để đưa ra quyết định tối ưu thường vận dụng mô hình toán và tiến
    hành theo các bước sau:
    Bước 1: Xác định hàm mục tiêu và biểu diễn dưới dạng phương trình đại số. Thông
    thường hàm mục tiêu kinh tế thường là chi phí tối thiểu, doanh thu và lợi nhuận tối đa.
    Bước 2: Xác định các điều kiện giới hạn của của bài toán kinh tế và thể hiện nó dưới
    dạng phương trình đại số.
    Bước 3: Biểu diễn hệ phương trình đại số trên đồ thị, xác định các vùng sản xuất tối ưu.
    Bước 4: Căn cứ vào vùng sản xuất tối ưu đã xác định để đưa ra phương án tối ưu.
    Ví dụ 1: Công ty sản xuất Tú Anh chuyên sản xuất 2 sản phẩm A và B. Lợi nhuận góp
    đơn vị sản phẩm A là 8 ngàn đồng, sản phẩm B là 10 ngàn đồng. Trong năm sản xuất
    sử dụng tối đa 36 đơn vị giờ máy hoạt động, đồng thời tiêu hao hết 24 đơn vị nguyên
    vật liệu. Thời gian để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm A hết 6 đơn vị giờ và đơn vị sản
    phẩm B là 9 đơn vị giờ. Khối lượng nguyên vật liệu để sản xuất ra đơn vị sản phẩm A
    là 6 đơn vị, đơn vị sản phẩm B là 3 đơn vị. Trong kỳ Công ty có thể bán tối đa sản
    phẩm B là 3.
    Công ty phải sản xuất theo cơ cấu nào để đạt được lợi nhuận cao nhất?
    Bài giải:
    Bước 1: Gọi T là tổng lợi nhuận góp, a và b là số lượng các sản phẩm A, B tương ứng
    để sản xuất nhằm đạt được lợi nhuận tối đa:
    8a + 10b = T – Max
    Bước 2: Xác định các hàm điều kiện:
     Hàm điều kiện về số giờ máy: 6a + 9b  36
     Hàm điều kiện về nguyên vật liệu: 6a + 3b  24
     Hàm điều kiện về lượng sản phẩm B tiêu thụ b  3
    Bước 3: Xác định vùng sản xuất tối ưu trên đồ thị.
    Vùng sản xuất tối ưu là vùng giới hạn bởi 3 hàm điều kiện trên 2 trục tọa độ, được
    biểu diễn như sau:

    10
    9
    8
    7
    6 6a + 3b  24
    5
    4
    3 b=3
    2
    1 6a + 9b  36
    Sản phẩm
    0 1 2 3 4 5 6 7 8 9

    60 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

  19. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Bước 4: Xác định phương án sản xuất tối ưu.
    Trên đồ thị vùng sản xuất tối ưu là một ngũ giác, đánh theo thứ tự trên tọa độ từ góc 1
    đến góc 5. Tất cả các điểm nằm trong vùng sản xuất tối ưu đều thỏa mãn các điều kiện
    ràng buộc của hàm số. Nhưng phương án tối ưu là một trong các phương án nằm trong
    vùng tối ưu. Để xác định cơ cấu sản phẩm thỏa mãn yêu cầu của hàm mục tiêu, ta tiến
    hành thay thế giá trị tọa độ của các phương án. Phương án nào làm cho giá trị của hàm
    mục tiêu cao nhất đó chính là phương án tối ưu.
    Bảng tính giá trị hàm mục tiêu của các phương án
    Phương án Sản phẩm A Sản phẩm B Giá trị hàm mục tiêu

    1 0 0 0

    2 0 3 30

    3 1,5 3 42

    4 3 2 44

    5 4 0 32

    Căn cứ vào kết quả tính toán, ta thấy phương án 4 là phương án tối ưu.

    TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3 61

  20. Bài 8: Thông tin kế toán quản trị với việc ra
    quyết định ngắn hạn

    Tóm lược cuối bài
     Vài trò của nhân viên kế toán quản trị trong quá trình cung cấp những thông tin thích hợp cho
    các nhà quản lý đưa ra quyết định vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sứ mệnh lịch sử của
    công ty. Các nhà quản trị sử dụng thông tin được cung cấp để so sánh, đánh giá các phương
    án và ra quyết định tối ưu nhất.
     Khái niệm chi phí và doanh thu thích hợp được vận dụng rộng rãi trong quản trị. Trong
    chương này, chúng ta đã nghiên cứu việc sử dụng nó trong quyết định liên quan đến việc
    chấp nhận hoặc từ chối một đơn hàng đặc biệt, trong quyết định nên làm hay nên mua, trong
    quyết định nên ngừng hay tiếp tục kinh doanh một loại sản phẩm cũng như trong các quyết
    định liên quan đến việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sản xuất có giới hạn.
     Để thích hợp cho việc ra quyết định, thông tin về chi phí và doanh thu phải liên quan đến
    tương lai và khác biệt giữa các phương án so sánh. Nói chung, tất cả các chi phí đều thích
    hợp cho việc ra quyết định ngoại trừ các chi phí chìm và các chi phí không chênh lệch giữa
    các phương án.
     Quyết định ngắn hạn chính xác tạo ra sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp, tăng sức
    cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

    62 TXKTQT02_Bai8_v1.0015107216_b3

Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị 2: Bài 8 – Đại học Kinh tế quốc dân File Word, PDF về máy