[Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp
Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

Download


“Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp” với các kiến thức lý thuyết cơ bản về định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp, một chức năng quan trọng của nhà quản trị; nội dung của định giá bán sản phẩm trong dài hạn và ngắn hạn, từ đó các nhà quản trị vận dụng cụ thể vào thực tiễn.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp File Word, PDF về máy

Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

  1. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    BÀI 7 ĐỊNH GIÁ BÁN SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Nguyễn Ngọc Quang (Chủ biên) (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản
    Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
    2. Ngô Thế Chi (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Tài
    chính, Hà Nội.
    3. Võ Văn Nhị (Chủ biên) (2006), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học
    Kinh tế TPHCM.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài 7 trong học phần Kế toán quản trị 2, nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về định giá
    bán sản phẩm trong doanh nghiệp, một chức năng quan trọng của nhà quản trị. Nội dung
    của định giá bán sản phẩm trong dài hạn và ngắn hạn, từ đó các nhà quản trị vận dụng cụ
    thể vào thực tiễn.
    Mục tiêu
     Cơ sở lý thuyết cơ bản và ý nghĩa định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp của nền
    kinh tế thị trường.
     Vai trò của định giá bán sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định, định giá
    bán sản phẩm của các nhà quản trị doanh nghiệp.
     Quyết định, định giá bán sản phẩm trong dài hạn và trong ngắn hạn. Các quyết định,
    định giá bán sản phẩm trong dài hạn thường dựa trên cơ sở chi phí sản xuất ra sản
    phẩm đó. Các quyết định ngắn hạn thường dựa trên các tình huống cụ thể của doanh.

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 21

  2. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    Tình huống dẫn nhập
    Định giá bán sản phẩm công ty Sam Sung
    Công ty Điện tử Samsung chuyên sản xuất chíp điện tử máy tính phục vụ cho quá trình lắp ráp
    hàng loạt máy tính tại Việt Nam. Tổng vốn đầu tư của công ty là 2,2 tỷ đồng cho việc sản xuất
    mỗi năm với sản lượng 20.000 sản phẩm chíp điện tử. Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư mong muốn là 20%
    mỗi năm. Tổng định phí sản xuất chung 360 triệu đồng, định phí bán hàng và định phí quản lý
    doanh nghiệp 40 triệu đồng. Kế toán quản trị xây dựng các chỉ tiêu về định mức chi phí như sau:
     Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho đơn vị sản phẩm: 20.000 đồng.
     Chi phí nhân công trực tiếp cho đơn vị sản phẩm: 8.000 đồng.
     Chi phí sản xuất chung cho đơn vị sản phẩm: 28.000 đồng (trong đó định phí sản xuất là
    18.000 đồng).
     Biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp đơn vị sản phẩm: 4.000 đồng.
     Định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp đơn vị sản phẩm: 2.000 đồng.

    1. Hãy định giá bán sản phẩm theo phương pháp chi phí toàn bộ ?

    2. Hãy định giá bán sản phẩm theo phương pháp chi phí trực tiếp?

    22 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  3. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    7.1. Lý thuyết cơ bản và ý nghĩa của định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    7.1.1. Lý thuyết cơ bản của định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp của nền
    kinh tế thị trường
    Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều tự
    do cạnh tranh và phát triển. Do vậy để đảm bảo cho
    mỗi doanh nghiệp của mình tồn tại và phát triển bền
    vững đòi hỏi các nhà quản trị phải đưa ra một loạt các
    quyết định tối ưu. Trong tất cả các quyết định, quyết
    định về định giá bán sản phẩm là một trong những
    quyết định đầy khó khăn đối với nhà quản trị của mọi
    loại hình doanh nghiệp. Quyết định này nếu không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến lợi
    nhuận, ảnh hưởng tới khối lượng sản phẩm tiêu thụ, ảnh hưởng đến uy tín và thương
    hiệu của doanh nghiệp trong chiến lược phát triển dài hạn. Do vậy khi ra quyết định về
    định giá bán sản phẩm cần dựa trên những lý thuyết kinh tế của quá trình định giá bán.
     Quyết định về định giá bán sản phẩm phải xuất phát từ những quy luật
    khách quan của nền kinh tế thị trường. Quy luật cung – cầu, phải xem xét sản
    phẩm của doanh nghiệp trong mỗi quan hệ tổng cung và tổng cầu của toàn thị
    trường. Xác định được mức sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp trong mối quan
    hệ với các doanh nghiệp cùng loại. Cầu của thị trường được hiểu đơn giản đó là
    sức mua và khả năng thanh toán của khách hàng.
    Quy luật cạnh tranh, đây là quy luật cơ bản chi phối tới mức định giá sản phẩm.
    Sản phẩm của doanh nghiệp nằm trong nhóm các sản phẩm cạnh tranh mạnh hay
    độc quyền mua, hoặc độc quyền bán. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi đưa ra
    quyết định, định giá bán sản phẩm quy luật cạnh tranh giữ vai trò chỉ đạo mà nhà
    quản trị hoàn toàn thích ứng không có sự lựa chọn nào khác. Ví dụ, đối với các sản
    phẩm độc quyền bán, nhà quản trị có thể đưa ra giá bán cao hơn chi phí rất nhiều,
    đối với các sản phẩm cạnh tranh mạnh, nhà quản trị có thể đưa ra giá bán thấp hơn
    chi phí.
    Quy luật giá trị, cần xem xét những thuộc tính cơ bản của sản phẩm như giá trị
    hàng hóa và giá trị sử dụng, để từ đó mở rộng hay thu hẹp khách hàng cần phục
    vụ. Giá trị hàng hóa của sản phẩm thực chất là sự kết tinh của các khoản chi phí
    thông qua sản xuất. Giá trị sử dụng đó là lợi ích của sản phẩm mang lại cho khách
    hàng. Do vậy khi đưa ra quyết định, định giá bán sản phẩm nhà quản trị cần dựa
    trên các thuộc tính cơ bản của hàng hóa thông qua quy luật giá trị.
     Quyết định định giá bán sản phẩm còn dựa trên hệ thống những văn bản pháp
    quy của nền kinh tế vĩ mô, các chính sách kinh tế của mỗi quốc gia. Chính sách
    nhập khẩu, xuất khẩu, thuế suất, ngoại tệ đều ảnh hưởng đến các quyết định về định
    giá bán sản phẩm. Sự ổn định của nền kinh tế trong những mục tiêu phát triển dài
    hạn đều ảnh hưởng và chi phối tới các quyết định về giá bán sản phẩm.
    Trong một số trường hợp đặc biệt và ở những giai đoạn khác nhau của nền kinh tế,
    Nhà nước trực tiếp xác định mức giá cho các sản phẩm cụ thể như điện, nước sinh

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 23

  4. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    hoạt… Nhà nước có thể xây dựng khung giá để các doanh nghiệp đưa ra mức giá
    phù hợp nhằm ổn định nền kinh tế.
    Các yếu tố về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, quốc gia, và toàn thế giới
    đều ảnh hưởng quan trọng đến quyết định, định giá bán sản phẩm. Các yếu tố đó
    bao gồm dân số, văn hóa, kỹ thuật công nghệ, tốc độ tăng trưởng, tốc độ lạm phát,
    sự ổn định chính trị, kinh tế…
     Quyết định về định giá bán sản phẩm dựa trên những mục tiêu hoạt động của
    doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, mục tiêu cuối cùng
    là tối đa hóa lợi nhuận, do vậy khi đưa ra quyết định về định giá bán sản phẩm
    phải đảm bảo nguyên tắc tối thiểu là bù đắp các khoản chi phí và thu được lợi
    nhuận. Do vậy để đưa ra giá bán vừa phù hợp với thị trường vừa có lợi nhuận các
    nhà quản trị cần phải biết được mức chi phí giới hạn của các sản phẩm sản xuất là
    bao nhiêu. Đối với các doanh nghiệp công ích, hoạt động không phải lợi nhuận là
    mục tiêu hàng đầu, do vậy khi đưa ra quyết định giá bán yếu tố chi phí giới hạn
    càng quan trọng để vừa đủ bù đắp chi phí và thỏa mãn các đối tượng khách hàng
    vì mục tiêu xã hội.
     Quyết định về định giá bán sản phẩm của doanh nghiệp phải dựa trên hệ
    thống chi phí tiêu hao cho sản phẩm đó. Yếu tố chi phí được coi là yếu tố quan
    trọng nhất tác động tới sự hình thành của giá bán sản phẩm. Do vậy nhà quản trị
    cần phải hiểu biết sâu về chi phí trong quá trình sản xuất, mối quan hệ của chi phí
    với mức độ hoạt động, bản chất vận động của mỗi yếu tố chi phí trong doanh
    nghiệp và nền kinh tế.
     Quyết định, định giá bán sản phẩm dựa trên lý thuyết cơ bản của kinh tế học
    vi mô trong doanh nghiệp. Kinh tế học vi mô cho rằng giá bán sản phẩm tối ưu
    chính là điểm mà doanh nghiệp đạt mức chênh lệnh doanh thu và chi phí cao nhất.

    7.1.2. Ý nghĩa của định giá bán sản phẩm trong quản trị doanh nghiệp
    Định giá bán sản phẩm có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh
    nghiệp. Do vậy các nhà quản trị doanh nghiệp thường coi đây là nhiệm vụ quan trọng,
    có tính sứ mệnh lịch sử ảnh hưởng đến các nhiệm vụ khác.
     Trước hết việc đưa ra giá bán sản phẩm tác động
    tới mức doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp,
    giá bán cao tạo ra mức lợi nhuận lớn, giá bán thấp
    đó là sự thiệt hại của doanh nghiệp. Song giá bán
    lại bị giới hạn bởi cầu của thị trường và tính cạnh
    tranh của sản phẩm. Do vậy đưa ra giá bán cụ thể
    bao nhiêu, đó là câu trả lời thật khó của nhà quản
    trị. Chính vì thế, nhà quản trị cần xây dựng giá bán
    phải thật khoa học, vừa phù hợp với nhu cầu của
    thị trường và đảm bảo lợi nhuận tối đa.
     Giá bán sản phẩm của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế có tính lịch sử, song
    nó thể hiện trình độ tổ chức và quản lý các yếu tố sản xuất của các nhà quản trị.
    Do vậy để đưa ra giá bán phù hợp, yêu cầu nhà quản trị phải am hiểu về kế toán

    24 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  5. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    chi phí, doanh thu và lợi nhuận, tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, môi
    trường kinh doanh.
     Giá bán sản phẩm là thước đo thể hiện giá trị của sản phẩm, do vậy nó thường ảnh
    hưởng đến uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thương trường. Do vậy đưa
    ra giá bán thấp quá có thể thị trường hiểu nhầm chất lượng sản phẩm kém, giá bán
    cao không phù hợp với thu nhập của khách hàng, sản lượng tiêu thụ chậm. Như
    vậy đưa ra giá bán phải thận trọng vừa phù hợp với mức thu nhập của khách hàng
    phục vụ vừa đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp cao nhất.

    7.2. Vai trò của định giá bán sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết
    định, định giá bán sản phẩm

    7.2.1. Vai trò của định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp
    Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp thường là những quyết định chiến lược dài
    hạn, đôi khi là những quyết định điều chỉnh trong ngắn hạn của các nhà quản trị. Do
    vậy các quyết định về định giá bán sản phẩm thường phù hợp với chiến lược chung
    của doanh nghiệp và thể hiện tính linh hoạt, thay đổi của thị trường. Do vậy định giá
    bán sản phẩm có những vai trò quan trọng sau:
     Định giá bán sản phẩm quyết định tới doanh thu và
    lợi nhuận của doanh nghiệp. Sự hình thành các
    mức giá bán trên thị trường được xuất phát từ
    những cơ sở khoa học khác nhau, nhưng đều phải
    tuân thủ theo những nguyên tắc quan trọng đó là bù
    đắp được chi phí và tạo ra lợi nhuận để doanh
    nghiệp có điều kiện thực hiện quá trình tái sản xuất
    giản đơn và mở rộng.
     Định giá bán sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trị trong hoạt
    động kinh doanh. Định giá bán sản phẩm là một bộ phận quan trọng của
    Marketing trong doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Định giá
    bán sản phẩm còn thể hiện những thành công của các nhà quản trị nhằm giữ vững
    thị trường và tạo ra lợi nhuận. Nếu chỉ có sản xuất tốt mà khâu bán hàng yếu kém
    thì nhà quản trị không thành công trong con đường kinh doanh. Do vậy sản xuất
    và tiêu thụ là 2 khâu quan trọng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo ra sự thành
    công của các nhà quản trị trên thương trường.
     Định giá bán sản phẩm là dấu hiệu quan trọng nhất trên thương trường. Giá bán
    sản phẩm là một phạm trù kinh tế tổng hợp bởi nhiều yếu tố trong doanh nghiệp.
    Nó vừa thể hiện mặt chất và mặt lượng, những yếu tố định tính và định lượng như
    chất lượng của sản phẩm, số lượng sản phẩm tung ra thị trường, tính cạnh tranh
    của sản phẩm, uy tín và thương hiệu của doanh nghiệp.
    Định giá bán sản phẩm ở mức nào mà thị trường chấp nhận, giúp cho doanh nghiệp
    nhận biết được các cơ hội kinh doanh trong hiện tại và tương lai. Từ đó doanh nghiệp
    thấy được khả năng và triển vọng của mình trên thương trường.

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 25

  6. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    7.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định, định giá bán sản phẩm trong
    doanh nghiệp
    Quyết định, định giá bán sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau như
    nhân tố bên trong, bên ngoài, nhân tố tích cực, tiêu cực, nhân tố định tính và định
    lượng. Những nhân tố này có thể chia thành 2 nhóm cơ bản:
     Các nhân tố bên trong doanh nghiệp.
    o Mục tiêu của doanh nghiệp không phải là nhân
    tố tác động trực tiếp, song là nhân tố tác động
    gián tiếp tới hình thành giá bán khác nhau. Các
    mục tiêu của doanh nghiệp thường thể hiện
    trong từng giai đoạn khác nhau, có thể mục tiêu
    trước mắt là lợi nhuận hay tiêu diệt đối thủ cạnh
    tranh, có thể mục tiêu cuối cùng là phi lợi
    nhuận hay lợi nhuận. Doanh nghiệp được hỗ trợ ngân sánh hoạt động hay tự
    chủ kinh phí… Tất cả những mục tiêu đó đều ảnh hưởng tới giá bán sản phẩm
    của doanh nghiệp.
    o Chính sách marketing trong doanh nghiệp, đây là yếu tố quan trọng đến quyết
    định, định giá bán sản phẩm. Thông thường giá bán sản phẩm phụ thuộc rất
    nhiều vào chính sách bán hàng của doanh nghiệp. Chính sách bán hàng được
    thực hiện qua một chuỗi các công việc từ khi quảng cáo thâm nhập thị trường,
    xây dựng hệ thống phân phối bán hàng, bảo hành sau khi bán…
    Trong nền kinh tế thị trường phát triển, nhiều khách hàng thường quan tâm tới
    chính sách bán hàng của doanh nghiệp để chấp nhận giá mua, nhằm đảm bảo
    an toàn cho quyết định của mình.
    o Chi phí của sản phẩm là yếu tố có tính chất quyết định tới việc hình thành và
    vận động của giá bán sản phẩm. Chi phí của sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp tới
    kết quả và hiệu quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp, đó là nhân tố để
    doanh nghiệp tồn tại và phát triển như thế nào trên thị trường. Do vậy chỉ cần
    sự thay đổi đáng kể của chi phí, các nhà quản trị lại có quyết định định giá mới.
     Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
    Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp thường các nhà quản trị không kiểm soát
    và thay đổi được. Các nhân tố bên ngoài thường tồn tại một cách khách quan, tác
    động trực tiếp tới sự hình thành các mức giá khác nhau. Do vậy các nhà quản trị
    cần cân nhắc, phân tích các yếu tố bên ngoài để xác định mức ảnh hưởng như thế
    nào trong các quyết định, định giá bán sản phẩm của mình.
    o Nhu cầu của thị trường là yếu tố quan trọng nhất của bất kỳ nhà quản trị kinh
    doanh nào. Trước khi nhà quản trị đưa ra quyết định sản xuất sản phẩm gì, cần
    phải tính toán ngay sản phẩm đó tiêu thụ ở thị trường nào và phục vụ cho ai.
    Cầu của thị trường có thể hiểu đơn giản đó là tổng hợp nhu cầu của người mua
    và khả năng thanh toán của khách hàng đối với các sản phẩm của doanh nghiệp
    chuẩn bị tung ra thị trường. Do vậy để đưa ra quyết định giá bán có độ tin cậy
    cao, các nhà quản trị thường phải nắm bắt các thông tin về số lượng khách
    hàng có nhu cầu, mức thu nhập của khách hàng, số lượng các sản phẩm cùng

    26 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  7. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    loại trên thị trường và khối lượng các sản phẩm của từng nhà cung cấp tung ra
    thị trường. Các nhà quản trị cũng cần dự đoán xu hướng vận động nhu cầu của
    thị trường để đưa ra các quyết định định giá bán sản phẩm đúng thời điểm
    nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
    o Tính cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại
    trên thị trường. Đây là nhân tố rất quan trọng
    trong các quyết định, định giá bán sản phẩm của
    các nhà quản trị. Đối với các sản phẩm độc
    quyền bán, nhà quản trị có thể định giá bán sản
    phẩm cao nhằm thu tối đa lợi nhuận. Đối với
    các sản phẩm cạnh tranh nhà quản trị đưa ra giá
    bán phù hợp vì nếu giá bán cao quá sẽ không
    tiêu thụ được, hoặc giá bán thấp quá, doanh nghiệp sẽ mất đi một mức lợi
    nhuận. Do vậy các nhà quản trị cần nghiên cứu yếu tố cạnh tranh trên thị
    trường thông qua những điểm sau: Uy tín và vị thế của doanh nghiệp hiện tại,
    chiến lược dài hạn của doanh nghiệp như thế nào, các chỉ tiêu tài chính đã
    minh bạch trên thị trường chứng khoán ra sao…
    o Các chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Đây là nhân tố rất quan trọng ảnh
    hưởng tới các quyết định, định giá bán sản phẩm. Các chính sách kinh tế vĩ mô
    được thể hiện từ những văn bản có giá trị pháp lý cao nhất như: Hệ thống văn
    bản luật pháp của Nhà nước quy định, những điều mà doanh nghiệp phải chấp
    hành trong việc định giá sản phẩm như không lũng đoạn thị trường. Đối với
    các sản phẩm đặc biệt có tính chất thiết yếu hay quốc phòng Nhà nước can
    thiệp vào các quyết định định giá. Nhà nước có thể đưa ra các khung giá quy
    định, trên cơ sở đó doanh nghiệp đưa ra các mức giá phù hợp. Các quy định
    của các Bộ, Tỉnh về quy hoạch tổng thể hay chiến lược phát triển dài hạn đều
    ảnh hưởng đến các quyết định định giá bán sản phẩm cụ thể của doanh nghiệp.
    Sự ổn định về chế độ chính trị là nhân tố quyết định đến quá trình thu hút đầu
    tư và định giá bán sản phẩm của các doanh nghiệp. Do vậy các nhà quản trị cần
    nghiên cứu, phân tích các chính sánh kinh tế vĩ mô để đưa ra các quyết định,
    định giá bán sản phẩm cho phù hợp.
    o Các nhân tố tổng thể trong môi trường kinh doanh, đó là những yếu tố nhà
    quản trị cần thu thập, phân tích để đưa ra các quyết định định giá bán sản phẩm
    phù hợp. Các yếu tố này bao gồm số lượng dân số, điều kiện tự nhiên của các
    vùng, miền, trình độ kỹ thuật, công nghệ của từng nơi. Các yếu tố này thông
    thường có mối quan hệ với nhau trong quá trình phân tích để đưa ra quyết định.
    Như các tỉnh đồng bằng thường tập trung một lượng dân cư dồi dào, có mức
    thu nhập đáng kể, cơ sở hạ tầng giao thông thuận tiện, do vậy có lợi thế so sánh
    hơn các tỉnh miền ngược và lợi thế so sánh kém hơn các Thành phố. Như vậy
    các nhân tố môi trường kinh doanh cũng là những yếu tố cần được xem xét để
    các nhà quản trị đưa ra các quyết định, định giá bán sản phẩm trong nền kinh tế
    thị trường cạnh tranh và phát triển.

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 27

  8. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    7.3. Nội dung định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    7.3.1. Định giá bán sản phẩm trong dài hạn
    Định giá bán sản phẩm trong dài hạn là chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong
    tương lai nhằm đạt các mục tiêu tối ưu khi đã xây dựng ngay từ ban đầu. Cơ sở khoa
    học để xây dựng các giá bán trong dài hạn chủ yếu dựa vào các chi phí tiêu hao cho
    sản phẩm đó hoặc mức lợi nhuận mà nhà quản trị mong muốn đạt được. Các chi phí
    đầy đủ liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thường bao gồm chi phí nguyên
    vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí hoạt động hỗ trợ cho bán hàng và
    quản lý. Bất kỳ các thông tin lợi về chi phí đều là cơ sở khoa học để nhà quản trị đưa
    ra quyết định, định giá bán sản phẩm của mình trên thị trường.
    Định giá bán sản phẩm dựa trên chi phí là phương pháp phổ biến nhất trong tất cả các
    doanh nghiệp và có nguồn gốc lịch sử lâu đời. Theo quan điểm này các mức giá bán
    thường tỷ lệ với các khoản chi phí tiêu hao cho sản phẩm sản xuất. Phương pháp này
    tính toán đơn giản và có thể xác định lợi nhuận dự kiến dễ dàng. Song phương pháp
    này cũng có những hạn chế như không phù hợp với các sản phẩm có nhiều lợi thế
    hoặc cạnh tranh cao khi đó mất đi một mức lợi nhuận hoặc không tiêu thụ được.
    Sau đây ta sẽ nghiên cứu những tình huống định giá bán sản phẩm trong dài hạn cụ thể.

    7.3.1.1. Định giá bán sản phẩm sản xuất hàng loạt
    Quá trình định giá sản phẩm của các doanh nghiệp thường được tiến hành theo nhiều
    phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp thường phù hợp với những sản phẩm cụ
    thể và chiến lược mà doanh nghiệp lựa chọn. Có những sản phẩm sản xuất hàng loạt
    sau đó mới được xác định tiêu thụ, có những sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng
    của khách hàng, có những sản phẩm tiêu thụ ngay nội bộ doanh nghiệp, có những
    sản phẩm mang tính độc quyền, có những sản phẩm
    mang tính cạnh tranh…
    Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hàng loạt
    thường bao gồm các công ty sản xuất đồ điện tử,
    hàng gia dụng, vật liệu xây dựng, hàng may mặc…
    Như vậy trong cơ chế thị trường, sản phẩm của các
    doanh nghiệp vô cùng phong phú và đa dạng, song
    việc đưa ra quyết định, định giá bán sản phẩm trong
    dài hạn cần dựa trên những nguyên tắc sau:
     Giá bán sản phẩm phải bù đắp được tất cả các khoản chi phí từ khâu sản xuất, tiêu
    thụ và hoàn một lượng vốn nhất định cho nhà đầu tư. Đây chính là nguyên tắc cơ
    bản trong tất cả mọi quyết định định giá.
     Phương pháp định giá các sản phẩm sản xuất hàng loạt thường thực hiện theo
    phương trình sau:
    Giá bán sản phẩm = Chi phí nền sản phẩm + Chi phí tăng thêm
    Chi phí nền và chi phí tăng thêm của sản phẩm phụ thuộc vào từng phương pháp định
    giá cụ thể sau:

    28 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  9. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

     Định giá theo phương pháp chi phí trực tiếp: Theo phương pháp này chi phí nền bao
    gồm toàn bộ biến phí sản phẩm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công
    trực tiếp, biến phí sản xuất chung, biến phí bán hàng, biến phí quản lý doanh nghiệp.
    Chi phí tăng thêm đó là phần bù đắp định phí: định phí sản xuất, định phí bán
    hàng, định phí quản lý doanh nghiệp và phần dôi ra để thu hồi vốn đầu tư theo
    mong muốn của các nhà quản trị. Chi phí tăng thêm được xác định theo một tỷ lệ
    phần trăm của chi phí nền.
    Chi phí tăng thêm = Chi phí nền  Tỷ lệ % tăng thêm so với chi phí nền

    Tỷ lệ % tăng thêm Mức hoàn vốn đầu tư mong muốn + Định phí
    =  100
    so với chi phí nền Sản lượng sản phẩm  Biến phí đơn vị

    Tỷ lệ % tăng thêm (Vốn đầu tư  Tỷ lệ % hoàn vốn) + Định phí
    =  100
    so với chi phí nền (Sản lượng sản phẩm x Biến phí đơn vị)

    Ví dụ 1: Công ty FPT chuyên sản xuất chíp điện tử máy tính phục vụ cho quá trình
    lắp ráp hàng loạt máy tính tại Việt Nam. Tổng vốn đầu tư của công ty là 2,2 tỷ
    đồng cho việc sản xuất mỗi năm với sản lượng 20.000 sản phẩm chíp điện tử. Tỷ
    lệ hoàn vốn đầu tư mong muốn là 20% mỗi năm. Tổng định phí sản xuất chung
    360 triệu đồng, định phí bán hàng và định phí quản lý doanh nghiệp 40 triệu đồng.
    Kế toán quản trị xây dựng các chỉ tiêu về định mức chi phí như sau:
    o Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho đơn vị sản phẩm: 20.000 đồng
    o Chi phí nhân công trực tiếp cho đơn vị sản phẩm: 8.000 đồng
    o Chi phí sản xuất chung cho đơn vị sản phẩm: 28.000 đồng
    (trong đó định phí sản xuất là 18.000 đồng)
    o Biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp đơn vị sản phẩm: 4.000 đồng
    o Định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp đơn vị sản phẩm: 2.000 đồng
    Yêu cầu: Hãy định giá bán sản phẩm theo phương pháp chi phí trực tiếp và
    phương pháp toàn bộ?
    Bài giải: Theo phương pháp xác định chi phí trực tiếp, chi phí nền cho 1 đơn vị
    sản phẩm được tính như sau:
    Chi phí nền: 20.000 + 8.000 + 10.000 + 4.000 = 42.000
    Tỷ lệ % tăng thêm 2.200.000.000  20% + (360.000.000 + 40.000.000) 100
    =
    so với chi phí nền 42.000  20.000
    = 100%
    Chi phí tăng thêm = 42.000  100% = 42.000
    Vậy giá bán đơn vị sản phẩm là: 42.000 + 42.000 = 84.000 đồng
     Định giá theo phương pháp chi phí toàn bộ: Theo phương pháp này chi phí nền
    bao gồm toàn bộ chi phí để sản xuất ra sản phẩm: Chi phí nguyên vật liệu trực
    tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 29

  10. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    Chi phí tăng thêm đó là phần bù đắp chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
    nghiệp và phần dôi ra để thu hồi vốn đầu tư theo mong muốn của các nhà quản trị.
    Chi phí tăng thêm được xác định theo một tỷ lệ phần trăm của chi phí nền.
    Chi phí tăng thêm = Chi phí nền  Tỷ lệ % tăng thêm so với chi phí nền

    Mức hoàn vốn đầu tư Chi phí bán hàng và chi
    +
    Tỷ lệ % tăng thêm mong muốn phí quản lý doanh nghiệp
    =
    so với chi phí nền Sản lượng sản phẩm  Chi phí sản xuất đơn vị

    Vốn đầu tư  Tỷ lệ % Chi phí bán hàng và chi
    +
    Tỷ lệ % tăng thêm hoàn vốn phí quản lý doanh nghiệp
    =
    so với chi phí nền Sản lượng sản phẩm  Chi phí sản xuất đơn vị

    Ví dụ 2: Vẫn theo đầu bài ví dụ 1, ta xác định giá bán đơn vị sản phẩm theo
    phương pháp chi phí toàn bộ:
    Bài giải: Theo phương pháp xác định chi phí toàn bộ, chi phí nền cho 1 đơn vị sản
    phẩm được tính như sau:
    Chi phí nền: 20.000 + 8.000 + 28.000 = 56.000
    Tỷ lệ % tăng thêm so (2.200.000.000  20%) + (6.000  20.000)  100
    =
    với chi phí nền (56.000  20.000)
    = 50%
    Chi phí tăng thêm = 56.000  50% = 28.000
    Vậy giá bán đơn vị sản phẩm là: 56.000 + 28.000 = 84.000 đồng

    7.3.1.2. Định giá bán sản phẩm theo chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công
    Để sản xuất ra sản phẩm các doanh nghiệp thường tiêu tốn các khoản chi phí nguyên
    vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung. Tùy theo các
    sản phẩm cụ thể mà tỷ trọng của các khoản chi phí trong chỉ tiêu giá thành sản xuất
    sản phẩm cao hay thấp. Khi các nhà quản trị đưa ra quyết định định giá bán sản phẩm
    ở một số doanh nghiệp thường căn cứ vào chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân
    công. Việc xác định giá bán theo phương pháp này thường phù hợp với các doanh
    nghiệp dịch vụ sản xuất theo đơn đặt hàng như sửa chữa ô tô, tư vấn pháp lý, hướng
    dẫn du lịch… Theo phương pháp này giá bán sản phẩm gồm 2 bộ phận cơ bản: chi phí
    nguyên vật, chi phí nhân công.
    Cách xác định như sau:
     Đối với chi phí nguyên vật liệu. Để xác định chi phí nguyên vật liệu trong giá bán
    sản phẩm ta căn cứ vào giá nguyên vật liệu ghi theo hóa đơn và tỷ lệ chi phí tăng
    thêm để bù đắp các khoản chi phí vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, bảo quản, hành
    chính và một phần lợi nhuận nào đó.
    Chi phí nguyên vật liệu = Giá nguyên vật liệu theo hóa đơn + Chi phí tăng thêm
    Chi phí tăng thêm = Giá nguyên vật liệu theo hóa đơn  Tỷ lệ % tăng thêm

    30 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  11. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

     Đối với chi phí nhân công. Để xác định chi phí nhân công trong giá bán sản phẩm
    ta căn cứ vào giá nhân công theo định mức hoặc hợp đồng giao khoán công việc
    và tỷ lệ chi phí tăng thêm để bù đắp các khoản chi phí tuyển dụng, đào tạo, hành
    chính và một phần lợi nhuận nào đó.
    Chi phí nhân công = Giá nhân công theo định mức + Chi phí tăng thêm
    Chi phí tăng thêm = Giá nhân công theo định mức  Tỷ lệ % tăng thêm
    Sau đó ta xác định giá bán của sản phẩm:
    Giá bán của sản phẩm = Chi phí nguyên vật liệu + Chi phí nhân công
    Ví dụ 3: Công ty Tú Anh chuyên sản xuất và sửa chữa ô tô. Trong tháng 8 có đơn đặt
    hàng với khách hàng A, các tài liệu về chi phí sản xuất theo dự toán cho đơn đặt hàng
    như sau: (đơn vị tính: 1.000 đồng)
     Nguyên vật liệu: 12.000
     Tỷ lệ tăng thêm của nguyên vật liệu: 30%
     Tỷ lệ lợi nhuận của nguyên vật liệu: 15%
     Chi phí nhân công theo dự toán: 32.000
     Tỷ lệ tăng thêm chi phí khác và lợi nhuận mong muốn là: 30%
    Yêu cầu: Hãy xác định giá bán của đơn đặt hàng?
    Bài giải:
     Phần chi phí nguyên vật liệu: 12.000 + 12.000  30% + 12.000  15% = 17.400
     Phần chi phí nhân công: 32.000 + 32.000  30% = 41.600
    Vậy giá bán của sản phẩm là: 17.400 + 41.600 = 59.000 (đồng)

    7.3.1.3. Định giá bán sản phẩm mới
    Sản phẩm mới là những sản phẩm hiện chưa có trên thị trường tiêu thụ hoặc những
    sản phẩm tương đương với những sản phẩm đã có trên thị trường nhưng khác nhau về
    mẫu mã, kiểu dáng hoặc một số các thông số chất lượng sản phẩm.
    Việc định giá đối với các sản phẩm mới càng khó khăn và thách thức đối với các nhà
    quản trị, vì khi đưa ra giá bán không phù hợp ảnh hưởng đến lợi nhuận và uy tín của
    doanh nghiệp.
    Khi nhà quản trị đưa ra quyết định, định giá bán đối với sản phẩm mới cần nghiên cứu sự
    nhạy cảm của khách hàng đối với giá cả, chất lượng sản phẩm, mẫu mã, tính năng, tác
    dụng… Thông thường các khách hàng thường hay nhạy cảm với giá cả mua ở lần đầu đối
    với các sản phẩm được coi là mới hoàn toàn vì họ chưa có cơ sở để so sánh, do vậy khâu
    yểm trợ bán hàng trong giai đoạn này được coi là rất quan trọng. Ngoài chất lượng sản
    phẩm được đảm bảo, khâu bảo hành sau khi bán hàng được coi trọng, các khách hàng
    cảm giác như được tôn trọng đối với các sản phẩm mới tung ra thị trường và đây cũng
    chính là kênh quảng cáo quan trọng cho doanh nghiệp trong tương lai.
    Việc định giá bán sản phẩm mới ngoài việc căn cứ vào các thông tin chi phí sản
    xuất, chi phí ngoài sản xuất còn dựa trên tình hình tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu sản
    phẩm, khả năng sản xuất, khả năng tiêu thụ trên thị trường, từ đó đưa ra mức giá bán
    hợp lý. Do vậy giá bán sản phẩm có thể xác định theo một trong hai cách sau:

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 31

  12. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

     Định giá bán sản phẩm mới cao rồi giảm dần. Trong trường hợp này cần căn cứ
    vào nhu cầu, thị hiếu của khách hàng, mức thu nhập, điều kiện kinh tế của từng
    vùng thị trường. Từ đó nhà sản xuất luôn đưa ra những mẫu mã mới để các
    khách hàng “sành điệu” luôn đi trước và thử nghiệm các sản phẩm mới. Sau một
    thời gian sản phẩm thâm nhập thị trường mới bắt đầu giảm giá để phù hợp với
    các khách hàng phổ thông.
    Việc định giá bán cao sau đó giảm dần, giúp cho các nhà quản trị đạt được lợi
    nhuận cao trong một thời gian dài. Phương pháp định giá này trong thực tế có rất
    nhiều tập đoàn đã thành công như các hãng sản xuất điện thoại, đồ điện tử…
     Định giá bán sản phẩm mới thấp rồi tăng dần. Một số doanh nghiệp khi xây dựng
    giá bán của sản phẩm ban đầu chỉ cần bù đắp đủ chi phí, sau sản phẩm thâm
    nhập thị trưởng ổn định, được khách hàng quen biết và đánh giá cao thì tiến hành
    tăng giá bán dần. Phương pháp này đôi khi cũng gặp những khó khăn, do khách
    hàng quen dùng với giá thấp, sau đó tăng giá làm cho khách hàng có những phản
    ứng. Tuy nhiên để thực hiện phương án này cần phải có các chiến lược nghiên
    cứu một cách có hệ thống và thận trọng. Doanh nghiệp cần đưa ra các chiến lược
    tăng tốc trong những khoảng thời gian nhất định để thu hút lợi nhuận và tiêu thụ
    sản phẩm với khối lượng lớn.
    Việc định giá bán sản phẩm trong các trường hợp trên đều hướng tới mục tiêu
    của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên cách thức tiến hành của mỗi
    phương pháp khác nhau do vậy dẫn đến kết quả lợi nhuận cũng khác nhau. Trong
    quá trình tiến hành đòi hỏi các nhà quản trị cần linh hoạt, sáng tạo để đưa ra các
    giá bán mới phù hợp với nhu cầu thị trường và đảm bảo cho lợi nhuận tối đa.

    7.3.1.4. Định giá bán sản phẩm theo các giai đoạn của chu kỳ sống sản phẩm
    Chu kỳ sống sản phẩm thông thường trải qua 4 giai
    đoạn cơ bản: giai đoạn thâm nhập thị trường, giai đoạn
    tăng trưởng, giai đoạn bão hòa và giai đoạn suy thoái.
    Trong mỗi giai đoạn sản phẩm thường có các đặc điểm
    riêng, chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau. Do
    vậy khi đưa ra quyết định, định giá bán sản phẩm cho
    mỗi giai đoạn cần phân tích sự ảnh hưởng của môi
    trường kinh doanh và bản thân doanh nghiệp tác động tới giá bán như thế nào.
     Trong giai đoạn sản phẩm mới thâm nhập thị trường, thông thường sản lượng
    sản xuất, tiêu thụ còn hạn chế, các khoản chi phí thường cao, đặc biệt trong thời
    gian này cần tăng các khoản chi phí quảng cáo, giới thiệu sản phẩm… Về phía
    khách hàng, sản phẩm mới tung ra thị trường còn e ngại về chất lượng, giá cả… có
    thể nói đây là giai đoạn thử nghiệm.
    Do vậy nhà quản trị định giá bán sản phẩm trong giai đoạn này ngoài việc dựa vào
    các khoản chi phí còn dựa trên các yếu tố sau:
    o Sản phẩm doanh nghiệp đưa ra có hoàn toàn mới ở trên thị trường hay không.
    Trong trường hợp sản phẩm mới hoàn toàn, nhà quản trị có thể áp dụng chiến
    lược định giá bán sản phẩm mới.

    32 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  13. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    o Sản phẩm doanh nghiệp tương đương với các sản phẩm sẵn có trên thị trường,
    cần dựa vào các thông tin như: giá bán của các sản phẩm cùng loại trên thị
    trường, cần tìm hiểu những điểm khác biệt của sản phẩm doanh nghiệp mình
    với các sản phẩm khác đó chính là cơ sở để đưa ra sự khác nhau về giá bán.
     Khi sản phẩm chuyển sang giai đoạn tăng trưởng, nhà quản trị có thể thay đổi
    giá bán theo những xu hướng của thị trường.
    Trường hợp sản phẩm đang trong môi trường cạnh tranh mạnh, nền kinh tế đang
    trong giai đoạn tăng trưởng bền vững. Khách hàng đã yên tâm về chất lượng sản
    phẩm và các chính sánh bảo hành của doanh nghiệp, khi đó nhà quản trị có thể giữ
    nguyên giá hoặc đưa ra quyết định giảm giá bán nhằm tăng tính cạnh tranh.
    Trường hợp sản phẩm có mang tính chất độc quyền, hay những sản phẩm thiết yếu
    cạnh tranh thấp, nền kinh tế có nhiều biến động như tốc độ lạm phát tăng, khi đó
    nhà quản trị có thể đưa ra quyết định tăng giá bán nhằm thu lợi nhuận tối đa.
     Khi sản phẩm chuyển sang giai đoạn bão hòa, đặc điểm của quá trình này sản
    lượng tiêu thụ có xu hướng giảm, chi phí có xu hướng gia tăng. Định giá bán sản
    phẩm trong giai đoạn này chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:
    Người mua đã quen biết sản phẩm, trong trường
    hợp sản phẩm không chịu thay đổi mẫu mã…
    thường tạo ra sự nhàm chán đối với khách hàng.
    Trường hợp sản phẩm độc quyền vẫn có thể giữ
    được vị thế trên thị trường. Do vậy trong giai đoạn
    này nhà quản trị thường đưa ra quyết định giảm giá
    bán hoặc giữ nguyên tùy theo các sản phẩm cụ thể
    trên thị trường.
     Trong giai đoạn suy thoái, đặc điểm của định giá bán sản phẩm trong thời gian
    này là chi phí tăng cao, sản lượng tiêu thụ giảm nhanh. Nhà quản trị thường
    nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới, song để rút ngắn giai đoạn này cần định giá
    bán sản phẩm một cánh linh hoạt có thể chỉ bù đắp những khoản chi phí tối thiểu
    như biến phí và rút ngắn thời gian của giai đoạn này nhằm bảo đảm an toàn và
    phát triển vốn cho doanh nghiệp.

    7.3.2. Định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn
    Các quyết định, định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn thường dễ thay đổi phụ thuộc
    vào các điều kiện thực tế của doanh nghiệp nhằm hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi
    nhuận. Đối với các quyết định, định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn thường căn cứ
    vào công suất dư thừa của các máy móc, thiết bị đã đầu tư nhằm khai thác tối đa công
    suất để đảm bảo chi phí bình quân cho đơn vị sản phẩm thấp nhất. Nếu sản lượng sản
    xuất bị giới hạn bởi công suất của nhà thiết kế, các nhà quản trị cần xem xét thời gian
    sản xuất sản phẩm như thế nào hoặc sử dụng các nhà thầu phụ để tăng sản lượng trong
    ngắn hạn, còn về mặt dài hạn, nhà quản trị cần linh hoạt điều chỉnh, đầu tư công suất
    các nguồn lực hoạt động để phù hợp với nhu cầu thực tiễn sản xuất các sản phẩm trên
    thị trường. Khi các nhà quản trị đưa ra quyết định sản xuất thêm các sản phẩm mới

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 33

  14. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    hoặc loại bỏ các sản phẩm tồn tại lâu trên thị trường cần phân tích các quyết định ảnh
    hưởng đến nhu cầu đối với nguồn lực sẵn có của các doanh nghiệp.
    Các quyết định, định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn cũng được phân loại dựa trên
    sự ảnh hưởng của doanh nghiệp đó đối với thị trường. Nếu một doanh nghiệp sản
    xuất một loại sản phẩm chiếm thị phần lớn trên thị trường thì quyết định giá bán của
    sản phẩm đó sẽ ảnh hưởng đáng kể đến giá thị trường. Ngược lại nếu một doanh
    nghiệp có thị phần nhỏ thì quyết định, định giá bán sản phẩm không ảnh hưởng đến
    toàn bộ thị trường.
    Quyết định, định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn đối với một sản phẩm cụ thể nào
    đó trong doanh nghiệp có thể thấp hơn giá thành của sản phẩm đó. Quyết định này cần
    được cân nhắc và thận trọng khi xem xét những khoản chi phí hỗn hợp có liên quan
    đến nhiều loại sản phẩm khác nhau. Trong ngắn hạn nhà quản trị có thể sử dụng linh
    hoạt sự thay đổi của công suất sản xuất nhằm khai thác tối đa các nguồn lực sẵn có.
    Các quyết định ngắn hạn cũng được phân tích trong mối quan hệ với các khoản chi
    phí không thể tránh được nhằm tận dụng tối đa thị trường hiện có.
    Khi đưa ra quyết định, định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn, nhà quản trị cần phải
    xem xét trong mối quan hệ với cơ cấu sản phẩm nhằm để khai thác tối đa các yếu tố
    sản xuất và đảm bảo lợi nhuận cao nhất. Do vậy doanh nghiệp cần xây dựng một cơ
    cấu sản phẩm sản xuất hết sức linh hoạt giúp cho nhà quản trị ứng xử nhạy bén với sự
    thay đổi của thị trường. Ta sẽ nghiên cứu một ví dụ sau:
    Ví dụ 5: Công ty may Việt Tiến sản xuất ra các loại sản phẩm may sẵn cung cấp cho
    các đơn đặt hàng. Sản lượng sản xuất là cơ sở để xây dựng dự toán ngân sách như sau:

    Giá bán dự kiến Sản lượng dự Sản lượng tiêu Sản lượng
    Tên sản phẩm
    (ngàn đồng) toán ngân sách thụ tối thiểu tiêu thụ tối đa

    Áo choàng 5.000 15.000 5.000 15.000

    Quần 15.200 8.000 4.000 9.000

    Áo váy 9.000 5.000 2.000 8.000

    Váy 6.000 10.000 6.000 16.000

    Áo sơ mi 11.000 12.000 6.000 14.000

    50.000 23.000 62.000

    Chi tiết các yếu tố chi phí như sau (đơn vị tính: ngàn đồng)
    Yếu tố chi phí Áo sơ mi Áo váy Váy Áo choàng Quần
    Nguyên vật liệu trực tiếp 2.000 6.900 4.600 2.400 6.100
    Vải 1.800 6.000 4.000 2.000 4.500
    Vật liệu phụ 200 900 600 400 600
    Chi phí nhân công trực tiếp 2.000 3.500 2.200 2.000 2.200
    Công cắt 1.000 1.500 1.000 1.000 1.000
    Công may 800 1.800 1.000 800 1.000
    Công kiểm tra 150 150 150 150 150
    Công đóng gói 50 50 50 50 50

    34 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  15. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    Chi phí sản xuất chung 200 200 200 200 200
    Thuế quyền sử dụng đất 30 30 30 30 30
    Quản lý xưởng 40 40 40 40 40
    Bảo dưỡng máy 20 20 20 20 20
    Khấu hao máy 40 40 40 40 40
    Bảo dưỡng phương tiện 40 40 40 40 40
    Khấu hao phương tiện 30 30 30 30 30
    Tổng cộng chi phí sản xuất đơn vị sản phẩm 4.200 10.600 7.000 4.600 7.500

    Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp khi xây dựng dự toán dựa trên định mức và giá
    ước tính. Tiền công của công nhân cắt, may, đóng gói được trả trên cơ sở tỷ lệ đơn vị,
    tổng tiền công kiểm tra 7.500.000 đồng được chia đều cho số sản phẩm, tổng chi phí
    sản xuất chung 10.000.000 đồng chia đều cho 50.000 sản phẩm.
    Nhưng sản lượng bị hạn chế bởi công suất 28.800 giờ máy hoạt động của máy may.
    Số giờ máy cần thiết để sản xuất ra 1 sản phẩm như sau:
    Sản lượng theo Tổng giờ máy
    Tên sản phẩm Giờ máy/sản phẩm
    dự toán theo dự toán
    Áo choàng 0,4 15.000 6.000
    Quần 0,5 8.000 4.000
    Áo váy 0,8 5.000 4.000
    Váy 0,5 10.000 5.000
    Áo sơ mi 0,4 12.000 4.800
    Tổng cộng 50.000 23.800

    Yêu cầu: Hãy phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu sản phẩm sản xuất trong mối quan
    hệ với quyết định, định giá bán sản phẩm trong ngắn hạn?
    Bảng phân tích các thông tin về chi phí như sau:
    Áo sơ Áo
    Chỉ tiêu Áo váy Váy Quần Tổng
    mi choàng
    Giá bán đơn vị dự kiến 5.000 15.200 9.000 6.000 11.000
    Chi phí biến đổi đơn vị 4.000 10.400 6.800 4.400 7.300
    Lợi nhuận góp đơn vị 1.000 4.800 2.200 1.600 3.700
    Giờ máy cho sản xuất đơn vị 0,4 0,8 0,5 0,4 0,5
    sản phẩm
    Lợi nhuận góp cho 1 giờ máy 2.500 6.000 4.400 9.000 7.400
    Sản lượng theo dự toán ngân sách 12.000 5.000 10.000 15.000 8.000
    Tổng lợi nhuận góp theo sản 12.000 24.000 22.000 54.000 29.600 141.600
    lượng dự toán (triệu đồng)

    Số giờ máy theo dự toán 4.800 4.000 5.000 6.000 4.000
    Lợi nhuận góp theo số giờ máy 12.000 24.000 22.000 54.000 29.600 141.600
    (triệu đồng)

    Với các số liệu trên ta có thể tính lợi nhuận góp của mỗi giờ máy trong cơ cấu khoa
    học nhằm đảm bảo lợi nhuận tối đa cho Công ty.

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 35

  16. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    Trong các trường hợp cụ thể, Công ty có thể thay đổi cơ cấu sản xuất trong giới hạn
    sản lượng tiêu thụ tối đa nhằm đạt lợi nhuận cao nhất.
    Tăng sản lượng tối đa theo thứ tự ưu tiên: quần, áo váy, váy, áo sơ mi.
    Căn cứ vào biến phí cho đơn vị sản phẩm ta có thể đưa ra quyết định định giá bán phù
    hợp theo tình hình thực tế của thị trường.

    7.3.2.1. Định giá bán sản phẩm trong một số trường hợp đặc biệt
    Trong thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp, các nhà quản trị cần đưa ra một giá
    bán đặc biệt với các trường hợp như:
     Khách hàng tiêu thụ ở thị trường mới.
     Khối lượng đơn đặt hàng nhiều.
     Công suất sản xuất, tiêu thụ còn dư thừa trong khả năng hiện tại.
     Khách hàng nước ngoài…
     Khi công ty hoạt động trong điều kiện cạnh tranh đấu thầu.
    Trong các trường hợp trên doanh nghiệp đưa ra giá bán cần căn cứ vào: Năng lực sản
    xuất kinh doanh hiện tại, công suất của máy móc thiết bị, khả năng tiêu thụ của thị
    trường truyền thống, tính cạnh tranh của sản phẩm. Khi doanh nghiệp đưa ra giá bán
    trong các trường hợp này cần dựa trên mức chi phí tối thiểu của sản phẩm để bù đắp
    các biến phí. Đồng thời xây dựng mức giá linh hoạt trong phạm vi nào đó để thu được
    mức lợi nhuận mong muốn. Khi đó giá bán được xác định như sau:
    Giá bán linh hoạt = Biến phí + Phần tiền cộng thêm
    Khi xây dựng giá bán trong các trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp cần chú ý những
    điểm sau:
     Công suất của máy móc, thiết bị chưa khai thác hết thì doanh nghiệp có thể chấp
    nhận giá bán thấp vì khi đó phần định phí sản xuất được coi là chi phí chìm.
     Trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình sản xuất, tiêu thụ làm cho
    khối lượng sản phẩm giảm nhanh khi đó doanh nghiệp có thể chấp nhận phương
    án giảm giá bán cho các đơn đặt hàng.
     Trong trường hợp công ty hoạt động trong điều kiện cạnh tranh đấu thầu. Trong
    trường hợp này công ty biết được phạm vi mức linh hoạt của giá bán để đưa ra giá
    trúng thầu đảm bảo việc tăng lợi nhuận. Công ty có thể linh hoạt hạ bớt giá trong
    các tình huống cạnh tranh và chỉ cần thu được một mức lợi nhuận góp nhằm tạo ra
    lợi nhuận và hiệu quả của quá trình kinh doanh. Trong các tình huống đặc biệt khi
    định phí cao mà lợi nhuận góp không đủ bù đắp định phí, nhà quản trị vẫn cứ chấp
    nhận hơn là phải bù đắp toàn bộ định phí và biến phí khi không thu được đồng lợi
    nhuận góp nào.
    Ví dụ 6: Công ty OPQ chuyên sản xuất và tiêu thụ điện thoại di động ở thị trường
    truyền thống, công suất hiện tại của máy móc thiết bị mới đạt được 50%. Một khách
    hàng ở thị trường mới đặt mua theo đơn đặt hàng với số lượng 10.000 sản phẩm A đạt
    30% công suất hiện tại, với mức giá 38.000 đồng/sản phẩm. Ở thị trường truyền thống

    36 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  17. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    mức giá của sản phẩm A là 48.000 đồng/sản phẩm được xác định qua 2 phương pháp
    trực tiếp và toàn bộ như sau: (đơn vị tính: ngàn đồng)
    Theo phương pháp Theo phương pháp
    Chỉ tiêu
    toàn bộ trực tiếp
    Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 12 12
    Chi phí nhân công trực tiếp 14 14
    Chi phí sản xuất chung 14
    Biến phí sản xuất 4
    Định phí sản xuất
    Biến phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 2
    Tổng chi phí nền 40 32
    Chi phí tăng thêm 8 (20%) 16 (50%)
    Giá bán đơn vị sản phẩm 48 48

    Căn cứ vào kết quả tính toán trên đơn đặt hàng đưa ra giá bán là 38.000 đồng/sản
    phẩm có thể khó chấp nhận. Tuy nhiên khi xem xét giá thành sản phẩm theo phương
    pháp trực tiếp ta thấy chi phí nền của mỗi sản phẩm là 32.000 đồng/sản phẩm. Trong
    điều kiện hiện tại doanh nghiệp chưa khai thác hết công suất tối đa của máy móc thiết
    bị, khi chấp nhận đơn đặt hàng mới doanh nghiệp vẫn chưa vượt công suất hiện tại.
    Khi chấp nhận đơn đặt hàng này doanh nghiệp thu được mức lợi nhuận:
    (38.000 – 32.000)  10.000 = 6.000.000 đồng

    7.3.2.2. Định giá bán sản phẩm tiêu thụ nội bộ
    Trong nhiều doanh nghiệp thường tổ chức theo mô hình tập đoàn, tổng công ty…
    phạm vi hoạt động thường rộng ở nhiều thị trường khác nhau. Các đơn vị thành viên
    thường có quá trình cung cấp và phục vụ lẫn nhau các sản phẩm, dịch vụ hoặc tiêu
    thụ nội bộ cho nhau, do vậy cần phải xác định giá bán phù hợp để đảm bảo các
    nguyên tắc chung:
     Đảm bảo lợi ích kinh tế các đơn vị trong cùng một hệ thống.
     Là cơ sở hạch toán nội bộ giữa các đơn vị để có các quyết định phù hợp với từng
    đơn vị cụ thể.
     Khai thác hết những thế mạnh của các đơn vị thành viên, đồng thời khắc phục
    những hạn chế của từng đơn vị nhằm đảm bảo cho mục tiêu chung hoàn thành tốt.
     Việc định giá bán các sản phẩm có thể tiến hành theo một trong các phương pháp
    sau: Theo biến phí sản xuất sản phẩm, theo giá thị trường, theo giá thỏa thuận.
    Định giá bán sản phẩm tiêu thụ nội bộ theo biến phí sản phẩm
    Theo phương pháp này giá bán sản phẩm tiêu thụ nội
    bộ được tính theo biến phí sản xuất hay biến phí gồm
    chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,
    biến phí sản xuất chung, biến phí khác. Phương pháp
    này tính toán đơn giản, thường được áp dụng phổ
    biến trong các doanh nghiệp. Tuy nhiên phương
    pháp này có những hạn chế sau:

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 37

  18. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

     Việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị thành viên thông qua
    các chỉ tiêu ROI, ROA, ROE không thực hiện được vì không có sản phẩm bán ra
    ngoài, do vậy không xác định được chỉ tiêu lợi nhuận.
     Các chỉ tiêu định mức chi phí chưa kiểm soát toàn bộ vì các đơn vị thành viên
    chưa thực hiện khâu cuối cùng, các khoản chi phí được chuyển nội bộ cho nhau,
    chưa xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận, đơn vị.
     Khi định giá bán sản phẩm nội bộ theo biến phí, các nhà quản trị có thể tính thêm
    một phần tiền vào biến phí đó chính là lợi nhuận của các phương án mang lại.
    Giá tiêu thụ nội bộ = Biến phí + Lợi nhuận góp cộng thêm
    Ví dụ 7: Công ty Hòa Phát có 2 phân xưởng X và Y, phân xưởng X sản xuất ra sản
    phẩm A, phân xưởng Y sản xuất ra sản phẩm B. Sản phẩm A là một bộ phận cấu
    thành của sản phẩm B, do vậy có thể tiêu thụ nội bộ trong công ty. Các tài liệu cụ thể
    như sau:
    Mỗi tháng phân xưởng 1 sản xuất và tiêu thụ 10.000 sản phẩm A, giá bán đơn vị 80
    ngàn đồng, biến phí sản xuất đơn vị là 50 ngàn đồng. Phân xưởng 2 mỗi tháng mua
    chi tiết giống như sản phẩm A để sản xuất ra sản phẩm B với giá mua 76 ngàn đồng.
    Yêu cầu: Công ty đưa ra quyết định, định giá như thế nào cho phù hợp?
    Bài giải: Nếu xác định giá bán là biến phí sản xuất là 50 ngàn đồng, thì phân xưởng 1
    tiêu thụ nội bộ cho phân xưởng 2 với giá 50 ngàn đồng thì phân xưởng 1 sẽ không thu
    được mức lợi nhuận góp là 30 ngàn đồng. Đây cũng chính là mức lợi nhuận góp khi
    bán ra ngoài phải hủy bỏ. Do vậy để đảm bảo nguyên tắc định giá bán tiêu thụ nội bộ
    thì giá bán sẽ là 80 = 50 + 30. Nếu giá tiêu thụ nội bộ là 80 ngàn đồng trong khi giá
    mà phân xưởng 2 mua ngoài là 76 ngàn đồng thì công ty quyết định cho phân xưởng 2
    mua ngoài.
    Giá mua ngoài là 10.000  76 = 760.000
    Giá mua theo giá nội bộ: 10.000  80 = 800.000
    Mức chênh lệch 40.000 chính là lợi nhuận mà công ty đạt được khi thực hiện phương
    án không tiêu thụ nội bộ mà mua ngoài.
    Ví dụ 8: Công ty May 10 có 2 phân xưởng, phân
    xưởng cắt và phân xưởng may hạch toán độc lập. Phân
    xưởng cắt đang sản xuất bán thành phẩm A bán ra
    ngoài 60.000 đồng/sản phẩm, biến phí đơn vị là 20.000
    đồng. Phân xưởng may mua thành phẩm A tương tự,
    nhưng chất lượng kém hơn từ thị trường với giá 50.000
    đồng/sản phẩm. Giám đốc Công ty muốn phân xưởng cắt chuyển giao sản phẩm A
    cho phân xưởng may khi đó biến phí đơn vị giảm chỉ còn là 16.000 đồng.
    Yêu cầu: Phân xưởng cắt có nên ngừng sản xuất bán thành phẩm A bán ra ngoài để
    chuyển toàn bộ sang phân xưởng may không?
    Ta có thể phân tích ví dụ trên các điểm sau:
     Nếu chuyển giao thì phân xưởng cắt không hạch toán được kết quả kinh doanh,
    không xác định được các chỉ tiêu ROI, RI…

    38 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

  19. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

     Chuyển giao như vậy thì toàn bộ chi phí của phân xưởng cắt chuyển hết cho phân
    xưởng may, khi đó khâu kiểm soát chi phí kém hiệu quả, lợi nhuận Công ty có xu
    hướng giảm.
     Không phát huy được tính tự chủ, sáng tạo và môi trường cạnh tranh của các Quản
    đốc phân xưởng.
    Định giá bán sản phẩm tiêu thụ nội bộ theo giá thị trường hoặc giá thỏa thuận
    Việc xác định giá bán nội bộ theo giá của thị trường đã khắc phục được những hạn chế
    của việc xác định giá theo biến phí. Đồng thời đã xác định được khả năng sinh lời của
    vốn đầu tư đối với các đơn vị thành viên. Do vậy việc định giá bán sản phẩm theo giá
    thị trường cần đáp ứng tốt các yêu cầu sau:
     Phải thống nhất giữa đơn vị bán và đơn vị mua về giá cả cũng như các điều kiện
    khác trong cơ chế thị trường.
     Cần phải phân tích những thuận lợi và khó khăn của các đơn vị thành viên, năng
    lực sản xuất, nhu cầu cạnh tranh, mức độ hạch toán nội bộ.
    Trong nhiều trường hợp giá tiêu thụ nội bộ là giá mà các đơn vị thành viên thường
    thỏa thuận với nhau trên cơ sở lợi ích kinh tế của các bên đều đảm bảo. Như vậy giá
    thỏa thuận cũng là một trường hợp đặc biệt của giá thị trường nhằm khai thác hết tiềm
    năng các yếu tố sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thương trường.
    Ví dụ 9: Công ty Hoàng Mai có 2 phân xưởng X và Y, phân xưởng X sản xuất ra sản
    phẩm A, phân xưởng Y sản xuất ra sản phẩm B. Sản phẩm A là một bộ phận cấu
    thành của sản phẩm B, do vậy có thể tiêu thụ nội bộ trong công ty. Các tài liệu cụ thể
    như sau:
    Mỗi tháng phân xưởng 1 sản xuất và tiêu thụ 10. 000 sản phẩm A, giá bán đơn vị 80
    ngàn đồng, biến phí sản xuất đơn vị là 50 ngàn đồng. Phân xưởng 2 mỗi tháng mua
    chi tiết giống như sản phẩm A để sản xuất ra sản phẩm B với giá mua 80 ngàn đồng.
    Yêu cầu: Hãy phân tích xem công ty có những quyết định giá bán như thế nào?
    Bài giải:
     Khi giá bán của phân xưởng 1 bằng giá mua của phân xưởng 2, trong trường hợp
    này công ty cần xem xét các điều kiện khác để có những quyết định phù hợp.
     Khi giá bán của phân xưởng 1 lớn hơn giá mua của phân xưởng 2, mà công suất sản
    xuất đã hết, thì cần đưa ra giá bán theo giá của thị trường. Khi công suất vẫn còn thì
    cần ưu tiên hợp đồng bên ngoài sau đó mới tiêu thụ nội bộ theo giá phù hợp.
    Trong trường hợp các bộ phận trong Công ty tự thỏa thuận chuyển giao thấp hơn giá
    của thị trường dựa trên quá trình phân tích cụ thể từng hợp đồng kinh tế. Có thể
    chuyển giao nội bộ sẽ tiết kiệm được các khoản chi phí bán hàng, chi phí quản lý.
    Hoặc sản lượng chuyển giao sản xuất từ công suất dư thừa… Do vậy giá chuyển giao
    thỏa thuận giữa các bộ phận thường xuất phát từ những nguyên tắc sau:
    Quá trình chuyển giao phải kết hợp lợi ích hài hòa giữa các bộ phận và toàn Công ty.
    Đồng thời chuyển giao giữa các bộ phận cũng góp phần khuyến khích các bên liên
    quan trong trách nhiệm của mình đóng góp tạo ra lợi nhuận chung cho Công ty.

    TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3 39

  20. Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp

    Việc chuyển giao cần xác định giá tối thiểu để có cơ sở các bộ phận hạch toán theo
    những mục tiêu của mình. Giá chuyển giao tối thiểu là giá thấp nhất mà các bên có thể
    chấp nhận được, không bị thiệt hại so với bán ra thị trường bên ngoài.
    Chi phí sản xuất
    Giá chuyển giao tối thiểu = + Chi phí cơ hội
    sản phẩm
    Chi phí cơ hội đó là phần lợi ích bị mất đi nếu sản phẩm được chuyển giao nội bộ.
    Thông thường chi phí sản xuất được thể hiện ở trên sổ kế toán, còn chi phí cơ hội
    không thể hiện, do vậy khi phân tích để đưa ra quyết định chuyển giao nội bộ theo giá
    thỏa thuận cần phân tích thận trọng.
    Ví dụ 10: Công ty May 20 – Tổng cục Hậu cần có 2 phân xưởng, phân xưởng cắt và
    phân xưởng may hạch toán độc lập. Phân xưởng cắt đang sản xuất bán thành phẩm A
    bán ra ngoài 40.000 đồng/sản phẩm, biến phí đơn vị là 15.000 đồng. Phân xưởng may
    mua thành phẩm A tương tự, nhưng chất lượng kém hơn từ thị trường với giá 35.000
    đồng/sản phẩm. Giám đốc Công ty muốn phân xưởng cắt chuyển giao sản phẩm A
    cho phân xưởng may khi đó biến phí đơn vị giảm chỉ còn là 13.000 đồng.
    Yêu cầu: Xác định giá tối thiểu phân xưởng cắt chuyển giao cho phân xưởng may?
    Bài giải:
    1. Biến phí đơn vị sản phẩm chuyển giao: 13.000 đồng
    2. Lợi nhuận góp đơn vị sản phẩm bị mất đi khi chuyển giao: 25.000 đồng
    3. Giá chuyển giao tối thiểu đơn vị sản phẩm: 38.000 đồng
    Với giá chuyển giao tối thiểu là 38.000 đồng/sản phẩm, nhà quản trị Công ty sẽ đồng
    ý cho phân xưởng cắt được bán ra ngoài và phân xưởng may mua ngoài để đều tăng
    lợi nhuận của toàn Công ty.

    40 TXKTQT02_Bai7_v1.0015107216_b3

Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị 2 – Bài 7: Định giá bán sản phẩm trong doanh nghiệp File Word, PDF về máy