[Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị
Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

Download


“Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị” tìm hiểu về yêu cầu người học nắm chắc khái niệm và bản chất kế toán quản trị; so sánh điểm giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị; đối tượng và phương pháp nghiên cứu kế toán quản trị; tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị File Word, PDF về máy

Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

  1. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Nguyễn Ngọc Quang (Chủ biên) (2012), Giáo trình Kế toán quản trị, Nhà xuất bản
    Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
    2. Ngô Thế Chi (Chủ biên) (2008), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Tài chính,
    Hà Nội.
    3. Võ Văn Nhị (Chủ biên) (2006), Giáo trình kế toán quản trị, Nhà xuất bản Đại học
    Kinh tế Quốc dân, Tp. Hồ Chí Minh.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài 1 trong học phần Kế toán quản trị 1 nghiên cứu những vấn đề tổng quan kế toán quản
    trị như: khái niệm và bản chất kế toán quản trị, chức năng kế toán quản trị trong doanh
    nghiệp. So sánh kế toán tài chính và kế toán quản trị. Đối tượng và phương pháp nghiên
    cứu kế toán quản trị. Tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
    Mục tiêu
     Yêu cầu người học nắm chắc khái niệm và bản chất kế toán quản trị;
     So sánh điểm giống nhau và khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị;
     Đối tượng và phương pháp nghiên cứu kế toán quản trị;
     Tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp.

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 1

  2. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    Tình huống dẫn nhập
    Công ty Đại Gia Việt
     Anh Kế (bằng cử nhân luật), chị Toán (bằng kỹ sư xây dựng), Chị Quản (quản trị kinh
    doanh), Anh Trị (bằng kỹ sư điện lạnh) cùng học lớp kế toán tổng hợp Kinh tế quốc dân khóa
    42 cùng nhau lập công ty Đại Gia Việt chuyên sản xuất mỳ tôm.
     Trong năm 2012, trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang gặp khó khăn khi nghe tin ông
    Đặng Thành Tâm bị ốm không đi họp quốc hội được, Chị Quản thấy rằng đây là cơ hội tốt để
    đầu tư, chị thuyết phục hội đồng quản trị để mua Cổ phiếu ITA của Tập đoàn công nghiệp
    Tân Tạo và được chấp nhận. Quả nhiên khi ông Đặng Thành Tâm đi họp quốc hội trở lại,
    chứng khoán tăng giá trở lại, Công ty Đại Gia Việt liền bán cổ phiếu ITA, và được một
    khoản lãi rất lớn.
     Cũng trong năm 2012, do khủng hoảng tài chính, công ty phải cắt giảm chi tiêu, công ty phải
    nhóm họp để cắt quyết định giảm chi phí, các bộ phận không hoạt động hiệu quả, chị Quản
    thấy rằng bộ phận sản xuất bột canh không đem lại lợi nhuận và đề nghị cắt giảm bộ phận
    sản xuất bột canh, để mua ngoài bột canh dùng cho gói mì tôm. Đề nghị được chấp nhận.
     Nhưng khi cắt giảm bộ phận bột canh thì doanh thu của doanh nghiệp về mì tôm lại giảm dẫn
    đến lợi nhuận của doanh nghiệp giảm xuống trầm trọng. Khi điều tra, khảo sát khách hàng,
    thì thấy rằng do bột canh sản xuất tại công ty có hương vị riêng nên khi không dùng bột canh
    của công sản xuất thì gói mì sẽ không còn ngon và hương vị như xưa nữa nên khách hàng
    chuyển sang dùng mì tôm của hãng khác.

    1. Chị Quản căn cứ vào những thông tin nào, thu thập ở đâu để thuyết phục
    hội đồng quản trị mua cổ phiếu ITA?
    2. Chị Quản căn cứ vào những thông tin nào thu thập ở đâu để thuyết phục
    hội đồng quản trị dừng sản xuất tại bộ phận sản xuất bột canh?

    2 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

  3. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    1.1. Khái niệm và bản chất kế toán quản trị trong doanh nghiệp
    1.1.1. Khái niệm kế toán quản trị
    Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của hệ
    thống thông tin kế toán nói chung trong các doanh
    nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, nguyên nhân
    sự phát triển của kế toán quản trị là do sự cạnh tranh
    giữa các doanh nghiệp, tập đoàn, quốc gia của tổng
    thể nền kinh tế. Nhưng trong bất kỳ một doanh
    nghiệp nào thì thông tin kế toán quản trị với chức
    năng cơ bản là công cụ hữu hiệu để các cấp lãnh
    đạo đưa ra quyết định điều hành mọi hoạt động
    nhằm hướng tới các mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Việc nghiên cứu kế toán quản trị
    được xem xét từ nhiều quan điểm và góc độ khác nhau.
    Theo luật kế toán Việt Nam “Kế quản trị là việc thu thập xử lý phân tích và cung cấp
    thông tin kinh tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong
    nội bộ đơn vị kế toán”.
    Theo quan điểm này, ngoài việc nhấn mạnh vai trò của kế toán quản trị là thông tin
    hữu ích phục vụ các cấp quản lý khi đưa ra các quyết định còn cho biết quy trình nhận
    diện thông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động.
    Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kế toán quản trị, song đều có những điểm
    cơ bản giống nhau:
     Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của các tổ chức
    hoạt động.
     Kế toán quản trị là công cụ không thể thiếu được trong các doanh nghiệp kinh
    doanh theo cơ chế thị trường vì nó là cơ sở khoa học để đưa ra mọi quyết định
    kinh doanh.
     Thông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động giúp cho nhà quản trị thực
    hiện chức năng quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm tra,
    đánh giá và ra quyết định.
    Từ những phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm kế toán quản trị như sau:
    Kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với
    định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể. Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá
    trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình
    thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu.

    1.1.2. Bản chất kế toán quản trị trong doanh nghiệp
    Kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nói chung và các đơn vị
    trong nền kinh tế nói riêng. Xét ở các đơn vị trong nền kinh tế, thông tin kế toán chia
    thành 2 bộ phận cơ bản: Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng bên ngoài sử
    dụng để đưa ra quyết định hữu ích cho từng đối tượng, ví dụ các nhà đầu tư, các cơ
    quan thuế… ta gọi đó là kế toán tài chính. Thông tin kế toán chỉ cung cấp cho các cấp
    quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sử dụng để đưa ra quyết định điều hành các hoạt
    động kinh doanh ta còn gọi là kế toán quản trị.

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 3

  4. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    Trong các doanh nghiệp kinh doanh, mục tiêu cuối
    cùng đó là lợi nhuận thu được khi đã đầu tư vào
    hoạt động. Nhưng để đạt lợi nhuận cao nhất các nhà
    quản trị kinh doanh cần phải có các quyết định kinh
    doanh một cách sáng suốt và khoa học. Muốn quyết
    định kinh doanh có tính khả thi cao phải dựa vào hệ
    thống thông tin kế toán quản trị cung cấp.
    Như vậy kế toán quản trị có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động của các tài sản,
    nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả của doanh nghiệp bằng các thước đo khác
    nhau, gắn với các quan hệ tài chính để cung cấp cho các cấp quản trị theo yêu cầu cụ thể.
    Từ những sự phân tích trên, ta có thể khái quát bản chất của kế toán quản trị như sau:
     Kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành của kế toán nói chung trong các tổ chức
    kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh.
     Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
    đưa ra các quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh. Các cấp quản trị từ Tổ
    trưởng sản xuất, Quản đốc phân xưởng, Trưởng các phòng ban đến Ban giám đốc
    và Hội đồng quản trị doanh nghiệp.
     Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng nhiều vì
    gắn với các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
     Thông tin kế toán quản trị được cụ thể hoá thành các chức năng cơ bản của các
    nhà quản trị như: xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; phân tích, đánh giá và ra
    quyết định.
    Chức năng cơ bản của nhà quản trị đó là chức năng ra quyết định điều phối các hoạt
    động kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận.

    1.2. Chức năng thông tin kế toán quản trị trong doanh nghiệp
    Thông tin kế toán quản trị có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh
    của các tổ chức hoạt động. Đó là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định ngắn hạn
    và dài hạn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp
    trong nền kinh tế thị trường.
    Ra quyết định là chức năng đồng thời cũng là nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị
    doanh nghiệp. Nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị trong bất kỳ tổ chức hoạt động
    nào gồm những chức năng: xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm soát, đánh giá
    và ra quyết định. Mối liên hệ giữa các chức năng của các nhà quản trị thể hiện trong
    một chuỗi các quyết định liên tiếp:
     Kế hoạch là một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai, hoặc tổng
    thể các chỉ tiêu kinh tế được xây dựng và đưa ra các biện pháp để đạt được các
    mục tiêu kỳ vọng. Để xây dựng kế hoạch các nhà quản trị thường phải dự đoán,
    phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học
    sẵn có. Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu
    kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong
    tương lai.

    4 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

  5. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

     Nhiệm vụ tổ chức các hoạt động đây là chức năng cơ bản của các nhà quản trị.
    Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ
    phận trong doanh nghiệp. Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế
    hoạch đã phê duyệt. Chức năng này yêu cầu các nhà quản lý phải liên kết các bộ
    phận với nhau, sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố
    của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định.
     Kiểm tra và đánh giá các kết quả thực hiện. Căn cứ vào các chỉ tiêu của các kết
    quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình
    hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp. Thông qua đó để phân tích và thu nhận
    các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo.
    Thực chất của quá trình kiểm tra và đánh giá thường là so sánh thấy được sự khác
    nhau giữa thực hiện với kế hoạch đã xây dựng, từ đó xác định các nguyên nhân
    ảnh hưởng để có thể điều chỉnh quá trình thực hiện của từng người, từng bộ phận
    nhằm cho các tổ chức hoạt động đạt được các mục tiêu tối ưu.
     Ra quyết định, đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin kế toán quản trị. Dựa
    vào nguồn thông tin thu thập, thông qua phân tích, chọn lọc thông tin để đưa ra
    quyết định đối với từng hoạt động cụ thể của quá trình kinh doanh nhằm nâng cao
    hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí…
    Ra quyết định là công việc thường xuyên của các nhà quản trị ảnh hưởng đến kết
    quả cuối cùng của doanh nghiệp. Việc ra quyết định thường dựa trên cơ sở tổng
    hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau, nhưng trong đó thông tin kế toán quản trị
    thường giữ vai trò có tính chất quyết định và độ tin cậy cao. Các nhà quản trị
    thường đứng trước nhiều phương án kinh doanh khác nhau. Mỗi phương án
    thường bao gồm nhiều hệ thống thông tin đa dạng như là số lượng, chủng loại, chi
    phí, lợi nhuận, vốn, thị trường… Do vậy, đòi hỏi kế toán quản trị phải tổng hợp,
    phân tích và chọn lọc hệ thống thông tin này. Trên cơ sở đánh giá hệ thống thông
    tin do kế toán quản trị cung cấp để đưa ra các quyết định chọn các phương án tối ưu.
    Ta có thể khái quát chức năng quản trị và vai trò thông tin kế toán quản trị qua sơ đồ sau:

    Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa thông tin kế toán quản trị với chức năng quản trị doanh nghiệp

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 5

  6. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    1.3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu kế toán quản trị
    1.3.1. Đối tượng nghiên cứu của kế toán quản trị
    Kế toán quản trị là một phân hệ kế toán trong các tổ
    chức hoạt động, được thể hiện rõ nét nhất trong các
    doanh nghiệp kinh doanh, các đơn vị sự nghiệp tự
    chủ tài chính. Do vậy, kế toán quản trị cũng có đối
    tượng nghiên cứu chung của kế toán là tài sản,
    nguồn vốn gắn với các quan hệ tài chính của tổ
    chức hoạt động. Sự vận động của tài sản, nguồn vốn
    gắn với các quan hệ tài chính vì mục tiêu lợi nhuận được kế toán quản trị coi trọng
    hàng đầu. Như vậy, kế toán quản trị bắt đầu nghiên cứu ở một tổ chức hoạt động từ
    khi thành lập, sau đó tiến hành các hoạt động kinh doanh như cung cấp các yếu tố đầu
    vào, sản xuất ra sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm và thực hiện phân phối kết quả tài chính
    cho tới khi giải thể hoặc phá sản. Kế toán quản trị cũng gắn liền với một chu kỳ kinh
    doanh của doanh nghiệp.
    Bên cạnh đó kế toán quản trị còn nghiên cứu những đối tượng đặc thù và cụ thể hoá
    nhằm cung cấp các thông tin nhanh, chính xác cho các cấp quản trị đạt được được
    mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận:
     Nghiên cứu sâu về chi phí của doanh nghiệp theo các góc độ khác nhau như phân
    loại chi phí, dự toán chi phí, xây dựng định mức chi phí, phân tích mối quan hệ
    giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận… nhằm mục đích kiểm soát và quản lý chi
    phí chặt chẽ và dự toán chi phí chính xác để tối thiểu hóa chi phí.
     Kế toán quản trị các yếu tố sản xuất như lao động, hàng tồn kho và tài sản cố định
    nhằm khai thác tối đa các yếu tố sẵn có, đảm bảo chi phí thấp nhất và lợi nhuận
    cao nhất, đồng thời thỏa mãn nhu cầu của thị trường.
     Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, doanh thu, lợi nhuận thông qua các hệ thống
    báo cáo kết quả kinh doanh trong việc hình thành các quyết định điều hành hoạt
    động của doanh nghiệp.
     Xây dựng các trung tâm trách nhiệm, phân tích chi phí, doanh thu và lợi nhuận
    theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cần đầu tư thêm hay
    thu hẹp hoặc chấm dứt hoạt động của từng bộ phận nhằm phát triển và bảo đảm an
    toàn của vốn kinh doanh. Đồng thời xác định trách nhiệm của các nhân, bộ phận
    trong tổng thể doanh nghiệp.
     Xây dựng các dự toán chi phí, doanh thu và kết quả tài chính nhằm dự báo các kết
    quả kinh doanh diễn ra theo kế hoạch.
     Phân tích và lựa chọn các phương án đầu tư ngắn hạn và dài hạn để đảm bảo an
    toàn và phát triển vốn trong hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhất.

    1.3.2. Phương pháp nghiên cứu của kế toán quản trị
    Thông tin mà kế toán quản trị thu thập được thường thông qua nhiều thước đo khác
    nhau như hiện vật, giá trị, thời gian, chủng loại, cơ cấu… Để xử lý những thông tin
    này phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh, kế toán quản trị ngoài việc sử dụng

    6 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

  7. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    các phương pháp truyền thống còn sử dụng những phương pháp đặc trưng để đảm bảo
    cho các quyết định kinh doanh tối ưu.
     Các phương pháp truyền thống như chứng từ, tài khoản, tính giá và báo cáo kế toán.
     Các phương pháp đặc trưng của kế toán quản trị như:
    o Phương pháp phân loại chi phí. Các tiêu thức
    phân loại chi phí giúp cho các nhà quản trị
    hiểu được bản chất của các yếu tố chi phí phát
    sinh trong doanh nghiệp, từ đó có các biện
    pháp kiểm soát và ra quyết định thích hợp.
    o Phương pháp tách chi phí hỗn hợp thành
    biến phí và định phí giúp cho các nhà quản
    trị dự đoán mức chi phí xảy ra, đồng thời để
    kiểm soát các khoản chi phí phát sinh.
    o Phương pháp thiết kế thông tin dưới dạng so sánh. Thông tin muốn có ý nghĩa
    thì phải có các tiêu chuẩn để so sánh từ các số liệu thu thập được. Thông tin so
    sánh trong kế toán quản trị thường được thiết kế dưới dạng bảng, biểu, đồ thị,
    phương trình, hàm số…

    1.4. So sánh kế toán quản trị và kế toán tài chính
    1.4.1. Những điểm giống nhau
    Kế toán quản trị và kế toán tài chính là hai bộ phận cấu thành của kế toán nói chung,
    chúng đều có nhiệm vụ cung cấp thông tin cho các cấp quản trị về tình hình tài sản,
    nguồn vốn, quan hệ tài chính, do vậy chúng có những điểm giống nhau:
     Đều đề cập đến các nghiệp vụ kinh tế của doanh nghiệp từ khi thành lập cho tới
    khi giải thể hoặc phá sản. Các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu phản ánh các khâu cung
    cấp, sản xuất, tiêu thụ và xác định kết quả thường gắn với một chu kỳ kinh doanh
    của một doanh nghiệp.
     Đều dựa trên hệ thống ghi chép ban đầu của kế toán đó là hệ thống chứng từ. Hệ
    thống chứng từ bắt buộc và hệ thống chứng từ hướng dẫn là cơ sở để để ghi nhận
    thông tin ban đầu cho hệ thống thông tin kế toán quản trị trước khi đưa vào xử lý.
     Thông tin kế toán quản trị và thông tin kế toán tài chính đều chịu trách nhiệm
    trước các nhà quản lý về trách nhiệm của thông tin trong việc cung cấp cho các đối
    tượng sử dụng.

    1.4.2. Những điểm khác nhau
    Xuất phát từ mục đích cơ bản của kế toán tài chính là cung cấp thông tin cho tất cả các
    đối tượng để đưa ra quyết định mang lại lợi ích cho bản thân các đối tượng. Trong khi
    đó kế toán quản trị chỉ cung cấp thông tin cho các cấp quản trị nội bộ doanh nghiệp để
    đưa ra quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh, do vậy chúng có điểm khác
    nhau cơ bản sau:
     Về đối tượng sử dụng thông tin: Các thông tin mà kế toán tài chính cung cấp
    phục vụ cho nhiều đối tượng, bên trong, bên ngoài doanh nghiệp, nhưng chủ yếu

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 7

  8. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    hướng ra bên ngoài: Các cổ đông, nhà đầu tư, cơ quan thuế, các đối tác liên doanh,
    liên kết, ngân hàng… Các đối tượng tuỳ theo các mục đích cụ thể mà thu nhận và
    phân tích thông tin cho phù hợp để đạt được lợi ích chính cho bản thân mình.
    Ví dụ: Các cổ đông thường quan tâm tới cổ tức cho mỗi cổ phần là bao nhiêu để
    đưa ra quyết định mua cổ phiếu cho phù hợp. Ngược lại, đối tượng mà kế toán
    quản trị phục vụ lại là các cấp quản trị bên trong doanh nghiệp từ tổ trưởng sản
    xuất đến giám đốc doanh nghiệp, chủ tịch hội đồng quản trị với các thông tin diễn
    biến từ hoạt động kinh doanh hàng ngày để điều chỉnh, chính hoạt đó nhằm tối đa
    hóa lợi nhuận của các hoạt động.
    Ví dụ: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả
    kinh doanh, Báo cáo thuế… là những thông tin
    tổng hợp mà kế toán tài chính có nhiệm vụ cung
    cấp công khai cho các đối tượng bên ngoài.
    Các bảng tổng hợp chi phí và tính giá thành cho
    từng phân xưởng, từng loại sản phẩm, hay các
    bảng dự toán chi phí lại do kế toán quản trị cung
    cấp chi tiết hay tổng hợp theo yêu cầu sử dụng
    thông tin của mỗi cấp quản trị trong doanh
    nghiệp. Quản đốc phân xưởng cần phải chi tiết hoá chi phí cho từng sản phẩm.
    Giám đốc cần phải chi tiết hoá chi phí cho từng phân xưởng.
     Đặc điểm của thông tin cung cấp:
    o Thông tin của kế toán tài chính thường phản ánh quá khứ và tuân theo các
    chuẩn mực, chế độ kế toán hướng dẫn, thông tin thường mang tính chính xác
    cao. Trong khi đó thông tin của kế toán quản trị thường hướng tới tương lai,
    hiện tại và rất linh hoạt. Thông tin thường thể hiện tính kịp thời, tốc độ để kịp
    đưa ra các quyết định hàng ngày.
    Ví dụ: Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài sản và nguồn vốn cùng với
    các quan hệ tài chính tại một thời điểm của một doanh nghiệp. Còn Bảng dự
    toán chi phí sản xuất lại phản ánh thời gian trong tương lai chưa xảy ra. Bảng
    cân đối kế toán thường phải tuân theo các quy định của chế độ tài chính hoặc
    các chuẩn mực kế toán hướng dẫn trong việc lập và phản ánh các chỉ tiêu.
    Bảng dự toán chi phí sản xuất lại xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh
    thực tế của doanh nghiệp, sản phẩm cụ thể để xây dựng dự toán.
    o Thước đo của thông tin kế toán. Trong kế toán tài chính thường sử dụng các
    thước đo khác nhau như giá trị, hiện vật và thời gian, nhưng thước đo giá trị
    được coi là cơ bản. Sản phẩm cuối cùng của kế toán tài chính đó là hệ thống
    báo cáo kế toán thể hiện bằng thước đo giá trị. Trong kế toán quản trị sử dụng
    nhiều thước đo khác nhau như hiện vật, giá trị, thời gian, chủng loại, cơ cấu…
    Tùy theo những mục tiêu khác nhau mà coi trọng thước đo nào. Ví dụ: Chánh
    văn phòng khi đưa ra quyết định thuê phương tiện vận tải thường căn cứ vào
    những thông tin thể hiện thước đo khối lượng, chủng loại và kết cấu mặt hàng.
    o Phạm vi thông tin kế toán, thông tin kế toán tài chính thường liên quan đến
    toàn doanh nghiệp, phản ánh những hoạt động kinh doanh đã xảy ra. Trong khi

    8 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

  9. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    đó thông tin kế toán quản trị thường phản ánh chi tiết ở từng bộ phận, từng
    phân xưởng, từng công trình, từng loại sản phẩm, thông tin thường phản ánh
    những hoạt động kinh doanh đang và sẽ diễn ra.
    Ví dụ: Chỉ tiêu doanh thu trên Báo cáo kết quả kinh doanh của kế toán tài
    chính là doanh thu cho toàn công ty, còn trên Báo cáo kết quả kinh doanh của
    kế toán quản trị lại là doanh thu tính cho từng bộ phận, từng sản phẩm, từng
    loại hình hoạt động… và toàn doanh nghiệp.
    o Thông tin của kế toán tài chính mang tính công khai. Ví dụ: hệ thống báo cáo
    tài chính của các công ty cổ phần thường phải công khai tại các sở giao dịch
    chứng khoán, các tổ chức tín dụng, các cơ quan thuế. Trong khi đó, thông tin
    của kế toán quản trị lại mang tính sử dụng nội bộ và thuộc vấn đề bí mật của
    doanh nghiệp. Tính bí mật của thông tin kế toán quản trị phụ thuộc vào tính
    chất của thông tin và vai trò của từng cấp quản trị trong doanh nghiệp. Ví dụ:
    Tình hình nộp thuế của doanh nghiệp sẽ được công khai hàng năm dựa vào báo
    cáo quyết toán thuế. Lợi nhuận của mỗi loại sản phẩm như thế nào thì chủ
    doanh nghiệp mới biết được để có căn cứ đầu tư cho phù hợp.
     Kỳ báo cáo và hình thức của báo cáo kế toán
    o Kỳ báo cáo của kế toán tài chính thường theo
    quý, theo năm, theo chế độ quy định. Do
    trong kế toán quản trị tính linh hoạt và tốc độ
    được quan tâm nên kỳ báo cáo cũng rất linh
    động, nó phụ thuộc vào yêu cầu của nhà
    quản trị, có thể là từng ngày, tuần, tháng.
    o Hình thức và số lượng các báo cáo của kế
    toán tài chính thường thống nhất về hình thức và nội dung theo quy định. Các
    chỉ tiêu của Báo cáo được tính thống nhất trong cả một kỳ hạch toán. Còn đối
    với kế toán quản trị thì các báo cáo linh hoạt cả về số lượng, hình thức mẫu
    biểu, quy cách và thời gian lập tuỳ thuộc yêu cầu thu nhận thông tin của các
    cấp quản lý và đặc điểm hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp.
     Tính pháp lý: Do đối tượng mà kế toán tài chính phục vụ là các cơ quan Nhà
    nước, ngân hàng… và là căn cứ để xác định nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước cũng
    như ra quyết định của các cơ quan chức năng đối với doanh nghiệp trong hoạt
    động kinh doanh nên thông tin có tính pháp lý rất cao.
    Ngược lại thông tin mà kế toán quản trị chỉ có ý nghĩa trong nội bộ doanh nghiệp
    nên không có tính pháp lý.
     Quan hệ với các ngành khác: do yêu cầu thông tin của kế toán quản trị rất đa
    dạng nên kế toán quản trị phải sử đụng nhiều thông tin cũng như phương pháp của
    các ngành khác để có thông tin hữu ích. Ví dụ: Kế toán quản trị dựa vào các ngành
    như thống kế, phân tích…
    Tóm lại, những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị được thể
    hiện qua sơ bảng sau:

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 9

  10. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    Bảng 1.1. So sánh sự khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính

    Tiêu thức so sánh Kế toán tài chính Kế toán quản trị
    Đối tượng sử dụng Thông tin kế toán tài chính sử dụng Thông tin kế toán quản trị chỉ
    thông tin cho mọi đối tượng bên trong và bên sử dụng cho các nhà quản trị trong
    ngoài doanh nghiệp, nhưng hướng nội bộ doanh nghiệp: Hội đồng quản
    chủ yếu ra bên ngoài: Các cổ đông, cơ trị, Ban giám đốc, Trưởng các
    quan thuế, ngân hàng, kiểm toán… Phòng, Ban…
    Đặc điểm của thông Thông tin kế toán tài chính thường ưu Thông tin kế toán quản trị thường
    tin kế toán tiên tính chính xác hơn là đầy đủ và ưu tiên tính kịp thời hơn là chính xác
    kịp thời, vì cung cấp cho bên ngoài là và đầy đủ, vì cung cấp cho nhà quản
    chủ yếu. Thông tin thường tuân thủ trị lựa chọn phương án kinh doanh
    các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán tối ưu. Thông tin thường mang tính
    theo quy định. Thông tin thường phản chất linh hoạt, sáng tạo. Thông tin
    ánh quá khứ kết quả của quá trình thường phản ánh hiện tại, tương lai
    kinh doanh. Ý nghĩa của thông tin của quá trình kinh doanh. Ý nghĩa
    thường phục vụ cho kỳ tới để đưa ra của thông tin thường phục vụ cho
    các quyết định. hiện tại hoặc tương lai.
    Thước đo thông tin Thông tin kế toán tài chính sử dụng Thông tin kế toán quản trị sử dụng
    các thước đo hiện vật, thời gian, giá các thước đo hiện vật, thời gian, giá
    trị. Nhưng thước đo giá trị coi là cơ trị, cơ cấu, chủng loại, chất lượng…
    bản trong quá trình hạch toán. nhưng thước đo nào là cơ bản còn
    phụ thuộc vào mục tiêu của việc
    nghiên cứu và các quyết định cụ thể.
    Hệ thống báo cáo Báo cáo của kế toán tài chính thường Báo cáo của kế toán quản trị thường
    kế toán trong phạm vi doanh nghiệp, mẫu biểu theo bộ phận trong doanh nghiệp,
    báo cáo thường mang tính chất thống mẫu biểu báo cáo phụ thuộc vào
    nhất về hình thức và nội dung, kỳ báo nhu cầu quản trị của các cấp và đặc
    cáo có thể là tháng, quý, năm. điểm kinh doanh cụ thể của các
    doanh nghiệp, kỳ báo cáo có thể là
    ngày, tuần, tháng.
    Tính pháp lệnh của Thông tin kế toán tài chính thường Thông tin kế toán quản trị không
    thông tin kế toán mang tính pháp lệnh cao, tuân thủ các mang tính pháp lệnh. Thông tin
    nguyên tắc và chuẩn mực kế toán. đa dạng, phong phú mang tính chất
    linh hoạt.

    Như vậy ta thấy bản chất thông tin của kế toán quản trị khác với thông tin của kế toán
    tài chính, do vậy cách thức tổ chức hạch toán để thu nhận thông tin cũng khác nhau, từ
    khâu ghi nhận thông tin trên chứng từ, phân loại thông tin, xử lý và phân tích các
    thông tin…

    1.5. Tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
    1.5.1. Sự cần thiết tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
     Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của thông tin kế toán quản trị ngày càng được
    mở rộng và khẳng định vị thế phát triển. Mặt khác các mô hình tổ chức quản lý
    cũng thay đổi theo sự phát triển của công nghệ thông tin và các công cụ phân tích
    hiện đại thông qua hệ thống máy tính. Thông tin kinh tế ngày càng hội nhập cao,
    mang tính chất toàn cầu, do vậy quá trình thu thập, xử lý thông tin đòi hỏi phải
    nhanh, chính xác và mang tính chuẩn mực của các thông lệ quốc tế. Trước sự đòi
    hỏi khách quan của nền kinh tế, trình độ của các nhà quản trị ngày càng nâng cao
    để đáp ứng và thỏa mãn các thông tin của nền kinh tế hội nhập và phát triển.

    10 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

  11. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

     Tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp của nền kinh tế thị trường có thể
    coi như một quy luật khách quan vốn có của nền kinh tế. Tính tất yếu khách quan
    đó được thể hiện qua những điểm sau:
    o Các doanh nghiệp kinh doanh trong nền kinh tế thị trường phải tự chủ tài
    chính, được quyền tự do quyết định mọi hoạt động, được giao lưu và hội nhập
    quốc tế. Do vậy tính cạnh tranh của các doanh nghiệp càng mạnh mẽ, để đảm
    bảo mọi quyết định đưa ra có độ tin cậy cao cần phải dựa vào hệ thống thông
    tin kế toán quản trị.
    o Hệ thống kế toán tài chính của các doanh nghiệp thuộc nền kinh tế thị trường
    thường phù hợp với các thông lệ quốc tế, đó là nguyên nhân dẫn đến tính hội
    nhập cao, dẫn đến kế toán quản trị phát triển và hoàn toàn độc lập với kế toán
    tài chính.

    1.5.2. Nhiệm vụ tổ chức kế toán quản trị trong các doanh nghiệp
     Xây dựng các định mức chi phí chuẩn, hệ thống
    dự toán ngân sách khoa học, kế hoạch phù hợp
    trong một kỳ xác định.
     Tổ chức, phối hợp thực hiện tốt các khâu công
    việc trong doanh nghiệp, nhằm đạt được các
    mục tiêu như tối đa hóa doanh thu, lợi nhuận, tối
    thiểu hóa chi phí.
     Thu thập, xử lý thông tin về tình hình biến động
    của tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, lợi
    nhuận và các quan hệ tài chính khác theo phạm vị của bộ phận và toàn doanh nghiệp.
     Kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các định mức chi phí, dự toán ngân sách, kế
    hoạch đã xây dựng.
     Phân tích đánh giá thông tin, cung cấp cho các nhà quản trị thông qua hệ thống báo
    cáo kế toán quản trị. Tư vấn cho các nhà quản trị đưa ra quyết định.

    1.5.3. Nội dung tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp
    Để phục vụ nhu cầu thông tin của các nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định điều
    hành mọi hoạt động kinh doanh trong các tổ chức hoạt động. Nội dung tổ chức kế toán
    quản trị có vai trò quan trọng trong hoạt động tổng thể của doanh nghiệp. Tổ chức
    kế toán quản trị bao gồm tổ chức bộ máy kế toán và tổ chức các phần hành kế toán
    quản trị.

    1.5.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp
    Trong thực tiễn, các doanh nghiệp thường tổ chức bộ máy kế toán quản trị theo một
    trong hai kiểu sau:
     Tổ chức bộ máy kế toán quản trị và kế toán tài chính theo kiểu kết hợp. Theo kiểu
    này các chuyên gia kế toán đồng thời đảm nhiệm hai nhiệm vụ: Thu nhận và xử lý
    thông tin kế toán tài chính và kế toán quản trị. Tổ chức bộ máy này thường được
    vận dụng ở các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, số lượng các nghiệp vụ kinh

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 11

  12. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    tế phát sinh với tần suất ít. Kiểu này có ưu điểm là kết hợp chặt chẽ thông tin kế
    toán tài chính và kế toán quản trị, tiết kiệm được chi phí, thu nhận thông tin nhanh.
    Song có hạn chế là chưa chuyên môn hóa hai loại kế toán theo công nghệ hiện đại.
    Các công việc của kế toán được thực hiện cho mỗi phần hành kế toán thường cụ
    thể hóa như sau:
     Tổ chức bộ máy kế toán quản trị và kế toán tài chính theo kiểu tách biệt. Theo kiểu
    này các chuyên gia kế toán quản trị độc lập với chuyên gia kế toán tài chính. Mô
    hình này thường được vận dụng ở các doanh nghiệp có quy mô lớn, số lượng các
    nghiệp vụ kinh tế phát sinh với tần suất nhiều, kinh doanh đa ngành, đa nghề. Mô
    hình này có ưu điểm là tách biệt thông tin kế toán tài chính độc lập với kế toán
    quan trị theo hướng cả hai đều có thể hiện đại hóa. Song có hạn chế là chưa khái
    quát được thông tin của hai phân hệ với nhau. Các công việc cụ thể của kế toán
    quản trị được cụ thể hóa như sau:
    o Lập dự toán, định mức chi phí, ngân sách
    cho các bộ phận và toàn doanh nghiệp.
    o Căn cứ vào chứng từ ban đầu, hướng dẫn…
    để ghi vào các sổ kế toán quản trị theo nhu
    cầu của các nhà quản trị.
    o Tiến hành lập các báo cáo kế toán quản trị
    theo yêu cầu của nhà quản lý và thực tế các doanh nghiệp.
    o Phân tích, đánh giá kết quả thu được so với các dự toán, định mức đã xây dựng
    để đưa ra các thông tin thích hợp.
    o Thu nhận thông tin thích hợp để phục vụ ra quyết định kinh doanh tối ưu.

    1.5.3.2. Tổ chức các phần hành kế toán quản trị trong doanh nghiệp
     Xây dựng định mức chi phí và hệ thống dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh.
     Phân loại chi phí trong doanh nghiệp.
     Xác định đối tượng chịu chi phí và tính giá thành sản phẩm.
     Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, sản lượng và lợi nhuận.
     Phân tích biến động chi phí và kiểm soát chi phí.
     Đánh giá tránh nhiệm của các trung tâm trong doanh nghiệp.
     Phân tích thông tin kế toán quản trị để đưa ra các quyết định kinh doanh.

    12 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

  13. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    Tóm lược cuối bài
     Kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thông tin của một tổ chức. Mục
    tiêu chủ yếu của kế toán quản trị: cung cấp thông tin cho nhà quản trị để lập kế hoạch và ra
    quyết định; trợ giúp nhà quản trị trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức;
    thúc đẩy các nhà quản trị đạt được các mục tiêu của tổ chức và đo lường hiệu quả hoạt động
    của các nhà quản trị và các bộ phận trực thuộc trong tổ chức.
     Kế toán quản trị khác với kế toán tài chính ở nhiều điểm: đối tượng sử dụng thông tin kế toán
    quản trị là các nhà quản trị bên trong doanh nghiệp. Kế toán quản trị không có tính pháp lệnh
    và không tuân thủ các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán. Tổ chức kế toán quản trị cũng
    xuất phát từ đặc điểm kinh doanh của các doanh nghiệp và yêu cầu thông tin của nhà quản trị
    các cấp.
     Ngày nay kế toán quản trị được xem là một chuyên môn độc lập cả về lý thuyết và thực tiễn
    được xã hội thừa nhận.

    TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203 13

  14. Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị

    Câu hỏi ôn tập
    1. Đối tượng nghiên cứu của kế toán quản trị là gì?
    2. Cho biết những điểm giống và khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính?
    3. Tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong doanh nghiệp thường tiến hành như thế nào?
    4. Các nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp bao gồm phần hành nào?

    14 TXKTQT01_Bai1_v1.0015102203

Download tài liệu Bài giảng Kế toán quản trị 1 – Bài 1: Tổng quan về kế toán quản trị File Word, PDF về máy