[Download] Tải Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền
Nội dung Text: Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

Download


“Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền” trình bày tổng quan về chu kỳ bán hàng; đánh giá rủi ro môi trường trong chu kỳ; thử nghiệm cơ bản trong chu kỳ doanh thu.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền File Word, PDF về máy

Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

  1. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    BÀI 4: KIỂM TOÁN CHU KỲ BÁN HÀNG VÀ THU TIỀN

    Nội dung

     Tổng quan về chu kỳ bán hàng.
     Đánh giá rủi ro môi trường trong chu kỳ.
     Thử nghiệm cơ bản trong chu kỳ doanh thu.

    Mục tiêu Thời lượng học
    Sau khi học bài này, học viên nắm được:  8 tiết.
     Bản chất của chu kỳ bán hàng trong
    quan hệ với những tài khoản có liên
    quan trong thực hiện kiểm toán.
     Trình tự thực hiện kiểm toán chu kỳ
    bán hàng.
     Cách thức xem xét, đánh giá rủi ro
    trong quan hệ với trình tự thực hiện
    cuộc kiểm toán báo cáo tài chính.
     Kiểm toán doanh thu và các tài khoản
    có liên quan.
     Kiểm toán khoản phải thu khách hàng
    và những tài khoản có liên quan.
     Vận dụng các kỹ thuật khác nhau trong
    kiểm tra các cơ sở dẫn liệu trong chu kỳ.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 77

  2. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI

    Tình huống dẫn nhập
    Công ty FOODCO chuyên nhập khẩu các loại thực phẩm và
    bán sỉ qua mạng lưới 200 nhà phân phối trên cả nước. Khi
    tìm hiểu quy trình bán hàng của Công ty, kiểm toán viên
    được phân công kiểm toán chu kỳ đã ghi nhận các thủ tục
    kiểm soát sau đây1:
    Các đơn hàng từ đại lý gửi về sẽ được nhân viên phòng Kinh
    doanh đối chiếu với số liệu về tình hình thanh toán nợ của
    đại lý và chính sách bán chịu của Công ty để xác định có
    được mua chịu hay không, thời hạn trả chậm cũng như số lượng được mua. Sau đó, Phiếu giao
    hàng được lập trình, in và được Trưởng phòng Kinh doanh ký duyệt.
    Hóa đơn được lập trên cơ sở số lượng hàng thực giao do Thủ kho ghi trên Phiếu giao hàng và
    bảng giá của Công ty cùng với các chính sách chiết khấu. Hóa đơn trước khi gửi cho đại lý sẽ
    được đính kèm theo Phiếu giao hàng, chuyển đến một nhân viên kiểm tra số lượng, tính toán
    và kiểm tra các chính sách chiết khấu. Sau đó, nhân viên này trình Trưởng Phòng ký duyệt và
    làm cơ sở cho ghi sổ kế toán.
    Hàng tuần, nhân viên giao hàng và nhân viên bộ phận lập hóa đơn sẽ đối chiếu để phát hiện các
    trường hợp số liệu không khớp và thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp.
    Hàng tháng, kế toán theo dõi nợ phải thu lập bảng kê tình hình công nợ gửi cho từng đại lý bao
    gồm số dư đầu kỳ, các nghiệp bán hàng, thanh toán trong kỳ và số dư cuối kỳ của đại lý đó. Thông
    tin phản hồi từ đại lý được gửi về một nhân viên độc lập để xem xét và xử lý các chênh lệch.

    Câu hỏi
    1. Mục đích của những thủ tục kiểm soát trên là gì?
    2. Thông qua đó, kiểm toán viên có thể nhận diện được những cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài
    chính bị ảnh hưởng bởi những sai phạm có thể xảy ra. Trong trường hợp những sai phạm
    tồn tại, kiểm toán viên hãy đề xuất những thử nghiệm kiểm soát tương ứng với mỗi thủ tục
    kiểm soát nêu trên.

    1
    Trích đề thi Kiểm toán và Dịch vụ có đảm bảo nâng cao năm 2010

    78 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  3. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    4.1. Tổng quan về chu kỳ bán hàng

    4.1.1. Bản chất của chu kỳ bán hàng
    Bán hàng là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hoá qua quá trình trao đổi hàng –
    tiền giữa khách thể kiểm toán với khách hàng của họ. Với ý nghĩa như vậy, quá trình
    này được bắt đầu từ yêu cầu mua của khách hàng (đơn đặt hàng, hợp đồng mua hàng….)
    và kết thúc bằng việc thu tiền từ khách hàng.
    Trong trường hợp này, hàng hoá và tiền tệ được xác định theo bản chất kinh tế của chúng:
     Hàng hoá/sản phẩm là những tài sản hay dịch vụ chứa đựng giá trị và có thể bán được.
     Tiền tệ là phương tiện thanh toán nhờ đó mọi quan hệ giao dịch thanh toán được
    giải quyết tức thời.
    Tuy nhiên, ranh giới của bán hàng (tiêu) và thu tiền
    (thụ) được thể chế hoá trong từng thời kỳ và cho
    từng đối tượng cũng có điểm cụ thể khác nhau.
    Ví dụ, phạm vi của hàng hoá có hoặc không bao
    hàm đất đai, sức lao động…. là tuỳ thuộc vào quan
    hệ xã hội trong từng thời kỳ; Hoặc khái niệm thu
    tiền cũng có thể chỉ được tính khi tiền đã trao tay
    hay chuyển vào tài khoản của người bán song cũng
    có thể tính cả những trường hợp khách hàng đã
    chấp nhận trả tiền v.v….
    Do vậy, trong kiểm toán phải dựa vào các văn bản pháp lý để xem xét ranh giới của
    các đối tượng kiểm toán nói trên. Liên quan tới Chu trình bán hàng, kiểm toán viên
    trước hết phải dựa vào Chuẩn mực Kế toán và các văn bản hướng dẫn về ghi nhận
    doanh thu có liên quan.
    Câu hỏi 4.1:
    Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam Số 14, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu khi nghiệp vụ
    bán hàng thoả mãn những điều kiện nào?
    Trả lời:
    Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam Số 14, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu khi nghiệp vụ
    bán hàng thoả mãn những điều kiện sau đây:
     Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm.
     Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý, quyền kiểm soát sản phẩm.
     Doanh thu xác định tương đối chắc chắn.
     Doanh nghiệp đã thu hay sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng.
     Xác định được chi phí liên quan tới bán hàng.

    Bán hàng là một quá trình có mục đích thống nhất song phương thức thực hiện mục
    đích này rất đa dạng. Chẳng hạn, theo phương thức trao đổi và thanh toán, doanh nghiệp
    có thể có bán hàng theo phương thức thu tiền trực tiếp về két hoặc thu qua ngân hàng,
    bán hàng theo phương thức giao hàng trực tiếp nhưng sẽ thu tiền sau (bán chịu), bán
    hàng theo phương thức chuyển hàng theo yêu cầu của khách hàng và chờ khách hàng
    chấp nhận sau khi kiểm tra chất lượng, số lượng hàng hoá và sau đó thanh toán tiền,…
    Theo cách thức cụ thể trong quá trình trao đổi, hàng hoá sản xuất ra, dịch vụ hoàn
    thành có thể bán trực tiếp cho người tiêu dùng theo phương thức bán lẻ hoặc gián tiếp

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 79

  4. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    qua phương thức bán buôn, bán hàng qua đại lý… Với mỗi phương thức này, trình tự
    của quá trình bán hàng diễn ra khác nhau, các thủ tục giao, nhận, thanh toán cũng khác
    nhau, tổ chức công tác kế toán, kiểm soát cũng khác nhau. Do đó, nội dung và cách
    thức kiểm toán cụ thể cũng khác nhau.
    Để thể hiện được những nguyên lý chung của kiểm toán vào chu trình này, nội dung
    và phương pháp kiểm toán nêu sau đây sẽ đề cập đến những vấn đề chung nhất trên cơ
    sở hoạt động của loại công ty điển hình của chu kỳ bán hàng (kể cả các doanh nghiệp
    sản xuất bán hàng theo phương thức này).
    Tổng hợp các giao dịch bán hàng và những tài khoản có liên quan tới hạch toán trong
    chu trình bán hàng được khái quát trong sơ đồ 4.1 dưới đây.

    Sơ đồ 4.1: Hạch toán trong chu trình doanh thu

    4.1.2. Kiểm soát nội bộ trong chu kỳ bán hàng
    Với bản chất và hình thức biểu hiện trên, có thể cụ thể hoá chu kỳ bán hàng thành các
    chức năng với các bước công việc tương ứng như: Xem xét nhu cầu và quyết định bán
    hàng; xem xét khả năng của khách hàng và quyết định bán chịu; vận chuyển và bốc xếp
    hàng hoá, lập hoá đơn bán hàng, ghi sổ hàng bán, ghi sổ khoản phải thu và thu tiền.
    Mỗi bước công việc nói trên lại bao gồm nhiều
    nghiệp vụ với những minh chứng bằng các chứng từ
    tương ứng. Hiểu được các chức năng, các chứng từ
    cùng quá trình luân chuyển của chúng mới có thể
    đưa ra những quyết định đúng đắn trong kiểm toán.
    Tất nhiên, với mỗi loại hình doanh nghiệp, cơ cấu
    các chức năng và chứng từ về bán hàng – thu tiền
    cũng có những điểm khác nhau và đòi hỏi phải cụ
    thể hoá trong từng cuộc kiểm toán.
    Thông thường, với một số doanh nghiệp, những biểu hiện cụ thể của mỗi chức năng và
    bộ phận đảm nhiệm chức năng đó có khác nhau song chung nhất, Chu trình bán hàng

    80 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  5. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    đều bao gồm các chức năng chính như: Xử lý đặt hàng của người mua; xét duyệt bán
    chịu; chuyển giao hàng hoá; lập hoá đơn bán hàng; xử lý và ghi sổ các khoản về doanh
    thu và về thu tiền, xoá sổ các khoản phải thu không thu được; lập dự phòng nợ khó đòi.
    Tiếp nhận đơn đặt hàng của mua
    Chu kỳ này bắt đầu từ việc nhận được đơn đặt hàng
    của người mua hoặc chuẩn bị cho đơn đặt hàng của
    người bán. Đặt hàng của người mua có thể là đơn
    đặt hàng, là phiếu yêu cầu mua hàng, là yêu cầu qua
    thư, fax, điện thoại, thư điện tử,… và sau đó là hợp
    đồng về mua – bán hàng hoá, dịch vụ…
    Về mặt pháp lý, đơn đặt hàng là việc bày tỏ sự sẵn
    sàng mua hàng hoá theo những điều kiện xác định.
    Do đó, có thể xem đây là điểm bắt đầu của toàn bộ
    chu kỳ bán hàng. Trên cơ sở pháp lý này, người bán
    có thể xem xét để đưa ra quyết định bán (qua phiếu
    bán hàng) và lập hoá đơn bán hàng.
    Các giấy tờ đặt hàng bán thường bao gồm những nội dung cung cấp cơ sở cho việc
    xác định tất cả các nghiệp vụ bán hàng đều được phê chuẩn và ghi chép đầy đủ. Các
    thủ tục kiểm soát bao gồm:
     Yêu cầu sử dụng thủ tục đánh số trước đối với các đơn đặt hàng.
     Chữ ký hợp pháp của người bán hàng và khách hàng.
     Sự phê chuẩn liên quan tới chế độ bán hàng.
     Mô tả một phần nghiệp vụ bán, giá bán, các điều khoản chuyển giao hàng, và địa
    điểm lập hoá đơn hợp pháp trước khi chuyển hàng.
    Câu hỏi 4.2:
    Anh/Chị hãy mô tả quá trình tiếp nhận đơn đặt hàng qua internet để thấy được quá trình ghi
    chép, kiểm soát trong giai đoạn này?
    Trả lời: Nếu một đơn đặt hàng không thể hiện bằng tài liệu thì những thông tin tương tự
    cũng thường được ghi lại theo mẫu đơn đặt hàng trên máy tính và được chuyển cho người
    bán. Trong một số trường hợp khác, người mua có thể xem các mẫu hàng qua catalog, sau
    đó tiến hành đặt hàng qua điện thoại. Với những trường hợp như vậy, thông tin được lưu lại
    trong những file máy tính và mỗi nghiệp vụ được nhận diện duy nhất. Những file máy tính
    chứa đựng tất cả những thông tin về các đơn đặt hàng diễn ra trong một khoảng thời gian và
    có thể được sử dụng cho việc kiểm soát cũng như là cho mục đích điều chỉnh có liên quan.

    Kiểm tra dự trữ hàng tồn kho
    Nhiều đơn vị có hệ thống máy tính có thể cung cấp thông tin cho khách hàng về số
    lượng hàng tồn kho hiện tại và ngày giao hàng dự kiến. Thông thường những trường
    hợp này, doanh nghiệp sẽ không có một tài liệu “chuẩn hoá” so với trường hợp làm
    thủ công, nhưng bù lại khách hàng được cung cấp thông tin ngay lập tức về các điều
    khoản đặt hàng cũng như là ngày giao hàng dự kiến.
    Xác nhận việc đặt hàng
    Nếu một tài liệu đặt hàng được gửi trở lại có liên quan tới việc chuyển giao hàng sau
    đó cho khách hàng, thì doanh nghiệp sẽ chuẩn bị một bản xác nhận về việc đặt hàng
    và gửi cho khách hàng.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 81

  6. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Trong trường hợp đơn đặt hàng gửi trả lại không điền đầy đủ thời gian cụ thể thì khách
    hàng thường ngầm định là đơn đặt hàng đã không được chấp nhận. Thông thường, doanh
    nghiệp sẽ lập một bản danh sách chi tiết những đơn đặt hàng được gửi trở lại để chuẩn bị
    cho các nhu cầu của khách hàng và chuẩn bị lượng hàng cần phải dự trữ cho tương lai.
    Ngoài cách thức xác nhận đơn đặt hàng như trên, doanh nghiệp có thể thực hiện xác
    nhận đặt hàng theo nhiều cách thức khác nhau.
    Phê chuẩn bán chịu
    Do bán hàng gắn liền với thu tiền trong cùng một
    khái niệm “tiêu thụ” nên ngay từ thoả thuận ban
    đầu, sau khi quyết định bán cần xem xét và quyết
    định bán chịu một phần hoặc toàn bộ lô hàng.
    Quyết định này có thể đồng thời thể hiện trên hợp
    đồng kinh tế như một điều kiện đã được thoả thuận
    trong quan hệ mua bán trong hợp đồng. Tuy nhiên,
    ở nhiều công ty việc phê chuẩn bán chịu được tiến hành trên các lệnh bán hàng trước
    khi vận chuyển hàng hoá.
    Công việc phê duyệt thường do một người am hiểu về tài chính và về khách hàng xét
    duyệt. Việc xét duyệt có thể được tính toán cụ thể trên lợi ích của cả hai bên theo
    hướng khuyến khích người mua trả tiền nhanh qua tỷ lệ chiết khấu khác nhau theo
    thời hạn thanh toán. Trên thực tế, cũng có doanh nghiệp bỏ qua chức năng này trong
    khi thực hiện bán hàng. Vì thế, doanh nghiệp có thể phải đối mặt với khả năng tăng nợ
    khó đòi và thất thu do khách hàng mất khả năng thanh toán hoặc cố tình không thanh
    toán do sơ hở trong thỏa thuận ban đầu.
    Câu hỏi 4.3:
    Theo anh/chị, việc phê chuẩn bán chịu được thực hiện trong đơn vị nhận đặt hàng qua
    mạng có đặc thù gì?
    Trả lời: Hiện tại, các chính sách phê chuẩn bán chịu được thực hiện tại đơn vị bán hàng để
    làm giảm thiểu những khoản phải thu không thu được. Nhiều công ty đặt hàng qua e-mail
    và công ty nhận đơn đặt hàng từ mạng internet. Với việc thực hiện thanh toán bằng thẻ tín
    dụng sẽ xoá bỏ được những rủi ro đối với thu hồi nợ. Trong phê chuẩn bán chịu, một số
    công ty yêu cầu phải kiểm tra công ty đặt hàng và thường chỉ thực hiện việc giao hàng cho
    tới khi các thông tin đã được kiểm tra rõ ràng đảm bảo cho việc thanh toán. Mặc dù,
    phương thức bán này có nhiều ưu điểm cả trong thanh toán và kiểm soát hoạt động nghiệp
    vụ nhưng tự bản thân nó cũng thể hiện nhiều điểm bất lợi, chẳng hạn doanh nghiệp phải trả
    chi phí cho dịch vụ thanh toán này, thẻ có thể bị làm giả dẫn tới mất tiền,…

    Ghi nhớ

    Quá trình phê chuẩn bán chịu thường gồm việc đánh giá về các đơn đặt hàng và thông tin
    nợ của khách hàng thông qua hệ thống máy tính. Từ đó doanh nghiệp sẽ xác định có thực
    hiện việc bán chịu hay nới rộng thời gian thanh toán cho khách hàng hay không. Các file dữ
    liệu thường được truy cập theo quy định để xác định đơn hàng bán chịu có vượt quá thời
    gian nợ tối đa được phê chuẩn lúc trước. Tuy nhiên, nếu điều này xảy ra đơn đặt hàng bán
    chịu bị từ chối hoặc cũng có thể được xem xét lại bởi bộ phận tín dụng.

    82 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  7. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Chuẩn bị chuyển giao hàng
    Nhiều đơn vị đã ứng dụng máy tính vào quá trình phân phối, đặc biệt là giai đoạn
    chuyển giao hàng từ bộ phận lưu kho. Trong những trường hợp như vậy, công ty
    thường phát hành thẻ lấy hàng cùng với đơn đặt hàng.
    Một số đơn vị khác cũng “tự động hoá” quá trình lập thẻ lấy hàng để chuyển giao cho
    khách hàng. Khi chuẩn bị hàng giao cho khách, những miếng giấy nhỏ được chuẩn bị để
    đưa cho bộ phận chuyển giao và để kiểm tra tất cả những đơn đặt hàng được chuyển giao.
    Cũng có một số công ty khác xây dựng các bảng mã vạch để khách hàng có thể kiểm
    tra việc nhận hàng một cách dễ dàng.
    Chuyển giao hàng và kiểm tra việc chuyển giao hàng
    Hầu hết hàng hoá được chuyển giao cho khách hàng
    thông qua các nhà vận chuyển chẳng hạn như các
    công ty vận tải đường bộ, đường sắt, hoặc đường
    hàng không. Các công ty vận chuyển này phải phát
    hành hoá đơn vận chuyển. Trong đó, công ty vận tải
    mô tả toàn bộ những nội dung cần truyền đạt cho
    khách hàng từ người bán, các điều khoản chuyển
    giao hàng, và địa chỉ giao hàng. Hoá đơn vận chuyển
    là một tài liệu có tính pháp lý thể hiện trách nhiệm đối với người chuyển giao hàng.
    Thông thường, người đại diện của hãng vận chuyển sẽ ký những hoá đơn vận chuyển
    ghi nhớ về việc nhận hàng hoá để chuyển giao.
    Bộ phận giao hàng phải khẳng định về hoạt động giao hàng bằng việc: hoàn thành giấy
    giao nhận và gửi nó trở lại cho bộ phận xuất hoá đơn, hoặc những bản ghi điện tử ghi lại
    toàn bộ những gì đã được chuyển giao và truyền thông tin về việc giao hàng cho bộ
    phận phát hành hoá đơn, chuẩn bị các tài liệu chuyển giao hàng độc lập, copy các tài
    liệu chuyển giao hàng độc lập và gửi cho bộ phận xuất hoá đơn. Cách tiếp cận phổ biến
    nhất cho kiểm tra đối với việc chuyển giao hàng và đảm bảo rằng chúng được viết hoá
    đơn đúng là hoàn thành giấy giao nhận và gửi một bản sao tới bộ phận xuất hoá đơn.
    Trong một số trường hợp khác, doanh nghiệp có bộ phận vận chuyển thực hiện việc
    giao hàng thì các căn cứ về hàng hoá đã thực sự được chuyển giao vẫn được tuân thủ.
    Tuy nhiên, căn cứ cho việc đã thực hiện chuyển giao hàng có thể thay đổi phụ thuộc
    vào các thủ tục do nhà quản lý yêu cầu: chữ ký của người nhận trên hoá đơn, biên bản
    bàn giao hàng,…
    Chuẩn bị hoá đơn
    Các hoá đơn thường được chuẩn bị khi có thông báo về việc hàng hoá đã được chuyển
    giao cho bên mua. Tuy nhiên, một vài công ty có thể chuẩn bị hoá đơn ngay sau khi
    các ghi chép của kế toán chỉ ra số hàng tồn kho đủ để giao hàng. Những công ty này
    cần phải thực hiện những thủ tục kiểm soát để đảm bảo rằng các hoá đơn không được
    chuyển giao cho tới khi có bằng chứng về việc chuyển giao hàng hoá chắc chắn.
    Các hoá đơn có thể chuyển cho khách hàng bằng những tài liệu in trên giấy và gửi một
    liên cho khách hàng hoặc chuyển hoá đơn điện tử cho khách hàng. Vào thời điểm hoá
    đơn được phát hành, kế toán ghi nhận doanh thu và ghi nhận các khoản có liên quan
    trong nghiệp vụ bán lên các tài khoản. Dĩ nhiên số liệu trên hoá đơn phải phù hợp với
    đơn đặt hàng khi các điều khoản bán hàng, điều khoản thanh toán và giá cho nghiệp
    vụ bán được chấp nhận.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 83

  8. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Câu hỏi 4.4:
    Theo anh/chị, doanh nghiệp có thể xuất hóa đơn vào thời điểm xuất kho hàng hóa không?
    Trả lời: Trên thực tế, một số công ty thường xuất hoá đơn vào thời điểm xuất kho hàng
    hoá, sản phẩm và chuyển cho khách hàng. Đây là việc làm không đúng, có thể làm tăng các
    rủi ro trong quá trình thực hiện bán hàng cũng như hoạt động kế toán có liên quan.

    Gửi báo cáo hàng tháng cho khách hàng
    Nhiều công ty chuẩn bị báo cáo hàng tháng với các khoản mục “mở” và gửi cho khách
    hàng theo đường thư điện tử. Các báo cáo tháng thường cung cấp một danh mục chi tiết
    các hoạt động mua hàng của khách hàng trong tháng trước và một thông báo về các khoản
    mục khác liên quan. Số lượng các nghiệp vụ trong nhiều đơn vị cho thấy những báo cáo
    về tài khoản có liên quan được chuẩn bị thường dựa vào một chu kỳ cơ sở.
    Câu hỏi 4.5:
    Anh/chị hãy lấy một ví dụ minh họa cho việc đối chiếu định kỳ hàng tháng với khách hàng
    trong quan hệ với việc thu tiền từ khách hàng dựa vào một khoảng thời gian xác định.
    Trả lời: Ví dụ, nếu bạn có một thẻ thanh toán TechcomBank VISA, bạn có thể nhận được
    một báo cáo trong phạm vi từ ngày mồng 5 cho tới ngày cuối cùng là ngày 16 trong tháng;
    một người khác có thể nhận được báo cáo trong khoảng thời gian từ ngày 20 cho tới ngày
    cuối cùng là ngày 29 của tháng ấy. Nếu kiểm toán viên chọn một báo cáo cụ thể để khẳng
    định tính đúng đắn của tài khoản phải thu bằng việc đối chiếu trực tiếp với khách hàng
    tương ứng thì những thông tin về thời điểm và cách thức mà một khách hàng chuẩn bị báo
    cáo hàng tháng để đối chiếu có vai trò quan trọng.

    Hoá đơn thanh toán tiền
    Kiểm soát đối với hoá đơn thu tiền thường xác định như là một phần riêng rẽ của việc
    thu tiền và của chu kỳ quản lý tiền. Tuy nhiên, việc ghi chép chính xác tất cả các hoá
    đơn thu tiền là cần thiết cho đánh giá cuối cùng về tiền và tài khoản phải thu khách
    hàng. Vì vậy, giống như là một phần của cơ cấu kiểm soát đối với tài khoản phải thu,
    các thủ tục kiểm soát đảm bảo tính đầy đủ và tính chính xác của các ghi chép hoá đơn
    thu tiền thường được đánh giá là quan trọng.

    4.2. Đánh giá rủi ro môi trường trong chu kỳ

    4.2.1. Ý nghĩa của việc đánh giá rủi ro môi trường trong quan hệ với các bước
    kiểm toán
    Đánh giá rủi ro là quá trình tiếp theo trong mọi cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên tiếp
    tục thu thập thông tin giúp anh ta có thể cập nhật việc đánh giá rủi ro về khách hàng,
    về ngành mà công ty khách hàng đang hoạt động bao gồm cả những vấn đề tiềm tàng
    có liên quan tới khả năng gian lận. Quá trình đánh giá tiếp theo đối với rủi ro kinh
    doanh được bổ sung thêm bằng việc đánh giá rủi ro môi trường (rủi ro tiềm tàng và rủi
    ro kiểm soát) kết hợp với quá trình xử lý những nghiệp vụ quan trọng.
    Các bước kiểm toán kết hợp với đánh giá rủi ro môi trường cho chu kỳ doanh thu bao
    gồm các bước công việc cụ thể sau:
     Tiếp tục cập nhật những thông tin về rủi ro kinh doanh, bao gồm việc nhận diện các
    nhân tố rủi ro về bất cứ hành vi gian lận nào trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán
    ban đầu. Bổ sung cho lập kế hoạch kiểm toán từ những thông tin về rủi ro mới.

    84 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  9. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

     Đạt được những hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ trong chu kỳ doanh thu
    thông qua việc liên hệ với công việc kiểm toán ở kỳ trước, từ quá trình kiểm tra từ
    đầu đến cuối, từ phỏng vấn với nhân viên của công ty khách hàng và từ kiểm tra
    các tài liệu về hệ thống kiểm soát của công ty khách hàng.
     Ghi lại trên tài liệu những hoạt động kế toán trong chu kỳ doanh thu và những
    kiểm soát quan trọng có thể dẫn tới đánh giá về rủi ro kiểm soát ở mức thấp hơn
    mức tối đa. Nhận diện những tài liệu và những thủ tục quan trọng được sử dụng
    trong quá trình.
     Phát triển đánh giá ban đầu về rủi ro môi trường dựa vào sự hiểu biết về hoạt động
    của hệ thống kiểm soát. Dựa vào đánh giá này, kiểm toán viên quyết định có đạt
    được sự hiểu biết về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trong quá trình
    hoạt động để điều chỉnh mức đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn mức tối đa nhưng
    vẫn đảm bảo có lợi về chi phí hay không.
     Nếu rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức tối đa, kiểm toán viên nên xác định
    những loại sai phạm thường xảy ra nhất trong hệ thống. Cần lưu ý là khả năng sai
    phạm tiềm tàng được xem như là cơ sở cho lập kế hoạch các thử nghiệm cơ bản
    đối với các số dư tài khoản.
     Nếu mức đánh giá rủi ro kiểm soát thấp hơn có thể được điều chỉnh từ việc đạt
    được sự hiểu biết về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ thì kiểm toán viên
    phát triển các thủ tục kiểm toán cụ thể để kiểm tra hoạt động kiểm soát nội bộ.
     Thực hiện các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên xác định cách thức sử dụng kết
    quả chẳng hạn như các thử nghiệm cho việc thực hiện phần còn lại của cuộc kiểm
    toán, và ghi lại việc kiểm tra trên tài liệu.
     Xác định xem có thực hiện điều chỉnh mức đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát
    dựa vào kết quả các thử nghiệm và lưu lại trên tài liệu những ứng dụng cho phần
    còn lại của chương trình kiểm toán hay không.

    4.2.2. Rủi ro tiềm tàng
    Nghiệp vụ bán hàng là những nghiệp vụ thường xuyên ở trong đơn vị và các nghiệp
    vụ này thường không có rủi ro cao bất thường.
    Hoạt động bán hàng trong mỗi loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm khác nhau.
    Trong những công ty bán lẻ, bán hàng là quá trình thường xuyên và chúng được kiểm
    soát bằng hệ thống thanh toán qua máy tính. Mỗi ghi chép về nghiệp vụ bán hàng
    được đối chiếu chi tiết bởi các nhân viên thu ngân với số tiền tại quầy hoặc tại ngân
    hàng. Tuy nhiên, một số đơn vị thì hoạt động bán hàng lại không phải là một hoạt
    động thường xuyên hoặc ban quản trị có thể bỏ qua một quá trình thông thường để có
    được hoạt động bán hàng đặc biệt hoặc đạt được mục tiêu lợi nhuận.
    Nhiều nghiên cứu và thống kê đã chỉ ra rằng có một tỷ lệ lớn (%) về khả năng sai
    phạm được phát hiện là có liên quan tới việc ghi nhận nghiệp vụ bán hàng. Vì vậy ở
    trên thế giới đã có rất nhiều vụ kiện chống lại công ty khách hàng và các kiểm toán
    viên của họ xung quanh việc ghi nhận doanh thu không chính xác.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 85

  10. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Câu hỏi 4.6:
    Anh/chị hãy dẫn chứng về một số sai phạm tiềm tàng trong ghi nhận doanh thu trong chu kỳ
    bán hàng.
    Trả lời: Thông thường những sai phạm liên quan tới chu kỳ này bao gồm:
     Không ghi nhận doanh thu đối với hàng đã chuyển giao.
     Che giấu những bức thư gửi khách hàng về việc không thể thu hồi với sản phẩm bị trả lại.
     Ghi nhận nghiệp vụ tiêu thụ bằng phương thức uỷ thác như là doanh thu cuối cùng.
     Chuyển giao sản phẩm trước khi các khách hàng yêu cầu hoặc đồng ý chuyển giao.
     Ghi sai về giá bán…

    Ghi nhớ

    Mặc dù là những khoản mục chủ yếu trong cùng một chu trình nhưng đặc điểm kiểm soát,
    hoạt động và quản lý cụ thể đối với chúng không giống nhau. Vì vậy, khi xem xét về rủi ro
    tiềm tàng, kiểm toán viên nên xem xét chúng theo từng loại riêng gồm nghiệp vụ bán hàng
    và nghiệp vụ thu tiền từ các khoản phải thu khách hàng.
    Thứ nhất: Đối với nghiệp vụ bán hàng
    Những nghiệp vụ bán hàng phức tạp thường dẫn tới
    những khó khăn nhất định trong quan hệ với việc
    xác định thời điểm ghi nhận/xác định doanh thu.
    Chẳng hạn, một nghiệp vụ bán hàng cho khách
    hàng theo hình thức bán trực tiếp, chưa thu tiền
    ngay có thể chỉ được ghi nhận nếu thỏa mãn các
    điều kiện xác nhận về khoản nợ phải thu – liên quan
    tới nghĩa vụ bảo hành sản phẩm, hoặc khách hàng
    có thể xin kéo dài thời gian có thể trả lại hàng (trong trường hợp, hợp đồng bán có
    điều khoản khách hàng có thể trả lại hàng trong phạm vi 30 ngày).
    Trong Chuẩn mực Kế toán quốc tế và Chuẩn mực Kế toán Việt Nam Số 14 cũng có xác
    định một số tình huống bán hàng phức tạp nêu trên. Trên thực tế kiểm toán, những tình
    huống như vậy diễn ra ngày càng nhiều do sự phát triển của các giao dịch và sự thay đổi của
    môi trường và điều kiện kinh doanh mà các chính sách kế toán, chuẩn mực kế toán,… chưa
    theo kịp. Trong trường hợp này, kiểm toán viên cần chú ý tới một số vấn đề phát sinh:
     Thời điểm phù hợp cho việc ghi nhận doanh thu.
     Tác động của những điều khoản bất thường và thời điểm quyền sở hữu được chuyển
    giao cho khách hàng.
     Doanh thu được ghi nhận khi hàng hóa được chuyển giao và là những hàng mới.
     Phương pháp kế toán phù hợp trong ghi nhận nghiệp vụ bán hàng được thực hiện
    với sự trợ giúp (bên ngoài) hoặc những tình huống không bình thường hoặc số
    lượng hàng bán bị trả lại không thể dự đoán được.
    Câu hỏi 4.7:
    Anh/chị hãy minh họa một trường hợp trong ghi nhận doanh thu để thấy được những khó
    khăn trong xác định thời điểm ghi nhận doanh thu theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam.
    Trả lời: Ví dụ, ghi nhận doanh thu trong ngành hàng không: Việc ghi nhận doanh thu
    vào thời điểm bán vé hay thời điểm mọi thủ tục với khách hàng kết thúc, hay một thời
    điểm khác. Trong trường hợp này, thời điểm ghi nhận doanh thu cần xác định rõ trong
    quan hệ với thời gian bay của khách hàng và cần tính tới khả năng khách hủy vé. Vì
    vậy, việc ghi nhận vào thời điểm bán hay bất cứ một thời điểm nào khác đều chứa đựng
    rủi ro khi ghi nhận doanh thu.

    86 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  11. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Kiểm toán viên có thể nhận diện nhiều loại rủi ro khi mở rộng sự hiểu biết của mình
    về môi trường kiểm soát và các loại nghiệp vụ bán hàng do công ty khách hàng ghi
    nhận. Thông thường, kiểm toán viên có thể xem xét chúng theo mỗi loại sau đây:
    Ghi nhận doanh thu đối với nghiệp vụ bán hàng thông thường
    Hầu hết nghiệp vụ bán hàng được ghi nhận khi thực hiện chuyển giao quyền sở hữu
    hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng. Tuy nhiên, trong điều kiện mỗi ngành/lĩnh vực
    cụ thể, việc ghi nhận doanh thu lại gắn với những tiêu chuẩn cụ thể khác nhau.
    Chẳng hạn, các công ty hoạt động trong các dự án xây dựng có thời gian dài ghi nhận
    doanh thu dựa vào tỷ lệ phần trăm hoàn thành công trình. Kiểm toán viên phải xác
    định khách hàng có những thủ tục phù hợp để xác định tỷ lệ hoàn thành hay không.
    Kiểm toán viên cũng cần nhận thức rõ sự khác biệt trong việc áp dụng tỷ lệ này.
    Ví dụ, các công ty trong những ngành khác nhau có cách áp dụng, đánh giá mức độ
    hoàn thành không giống nhau để ghi nhận doanh thu trước một sự thay đổi.
    Ghi nhận doanh thu trong điều kiện tồn tại những điều khoản bán hàng không
    thông thường
    Một số nghiệp vụ bán hàng chứa đựng những điều
    khoản không thông thường sẽ thu hút kiểm toán
    viên tập trung kiểm tra theo hướng nghiệp vụ bán
    hàng này có thể xảy ra hay không.
    Chẳng hạn, một hợp đồng bán hàng có thể đã được
    ký kết nhưng hàng hoá sẽ không được chuyển giao
    cho tới một ngày không xác định cụ thể và khách
    hàng có quyền trả lại hàng hoá cho chủ hàng (trong một khoảng thời gian xác định).
    Trong trường hợp này, việc xác định thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng là thời
    điểm nào? Thời điểm bán hay thời điểm mà thời gian trả lại hàng kết thúc?
    Khách hàng thường cho rằng nên ghi nhận doanh khi thoả thuận bán hàng được ký
    kết. Kiểm toán viên có thể phải kiểm tra cả thoả thuận bán hàng và xác định có rủi ro
    cụ thể tồn tại liên quan tới khả năng nghiệp vụ bán hàng không được thực hiện. Trong
    một số trường hợp, kiểm toán viên thậm trí có thể phải tìm kiếm những ý kiến của luật
    sư nhằm sử dụng những ý kiến của họ như là bằng chứng bổ sung để xem xét tiếp nếu
    một nghiệp vụ bán hàng như vậy đã được kế toán ghi nhận.
    Xác định thời điểm chuyển giao hàng và tính đúng kỳ trong ghi nhận doanh thu
    Hầu hết các nghiệp vụ bán hàng được kế toán ghi nhận khi hàng hoá được chuyển giao.
    Tuy nhiên, một số doanh nghiệp có thể cố gắng “thổi phồng” doanh thu bán hàng ở kỳ
    hiện tại bằng việc chuyển giao nhiều hàng hơn so với đơn đặt hàng vào thời điểm cuối
    năm hoặc ghi nhận nghiệp vụ bán hàng năm sau vào sổ sách của năm nay (trade loading).
    Kiểm toán viên phải đánh giá khả năng ban quản trị có thể “thúc ép” hệ thống kế toán
    nhằm ghi nhận sai lệch doanh thu bán hàng theo cách thức nêu trên.
    Bán hàng với điều kiện khách hàng được phép trả lại hàng (thông thường)
    Nhiều công ty thông báo số liệu hàng bán bị trả lại với số lượng không bình thường,
    mặc dù có những ràng buộc về điều kiện trả lại hàng nhất định (thuộc về chính sách
    bán hàng của công ty). Trong trường hợp này, kiểm toán viên phải đánh giá cơ
    cấu/cấu trúc kiểm soát nội bộ đối với hoạt động bán hàng của công ty. Trong điều kiện
    hệ thống kiểm soát nội bộ không hiệu lực, thông tin về doanh thu, hàng bán bị trả lại
    có thể bị bóp méo một cách nghiêm trọng.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 87

  12. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Câu hỏi 4.8:
    Anh/chị hãy lấy một ví dụ minh họa về rủi ro tiềm tàng trong chu kỳ bán hàng?
    Trả lời: Ví dụ, nếu một công ty áp dụng những chính sách khá cứng rắn với bộ phận bán
    hàng có thể dẫn tới người phụ trách bán hàng của công ty đã đặt ra mục những mục tiêu
    bán hàng/doanh số cụ thể dưới áp lực tài chính của cấp trên. Mục tiêu bán hàng đã được
    xây dựng với giả thiết rằng công ty tiếp tục giữ mức tăng trưởng doanh thu như năm trước
    (10%) ngay cả khi công ty đã mất những khách hàng chính và doanh thu bán hàng thực tế
    đang suy giảm. Trong điều kiện này, rất có thể doanh thu đã được ghi nhận tăng lên mặc dù
    chưa bán được hoặc hàng bán bị trả lại bị ghi giảm xuống nhằm đạt được mục tiêu doanh số
    theo kế hoạch.

    Thứ hai: Đối với khoản Phải thu khách hàng
    Rủi ro ban đầu đối với các khoản phải thu khách hàng là khoản mục phải thu khách
    hàng thuần được trình bày trên bảng cân đối kế toán không thể thu hồi được vì các
    khoản phải thu khách hàng được ghi nhận không thể hiện đúng quyền hoặc không lập
    dự phòng hoặc tồn tại những khoản phải thu không thu được. Nếu các nghiệp vụ bán
    hàng không tồn tại thì khoản phải thu khách hàng liên quan sẽ không thể tồn tại.
    Câu hỏi 4.9:
    Anh/chị hãy liệt kê một số rủi ro tiềm tàng phổ biến đối với khoản phải thu khách hàng
    trong chu kỳ bán hàng ảnh hưởng tới kiểm toán?
    Trả lời: Một số loại rủi ro tiềm tàng đối với khoản phải thu khách hàng trong quan hệ với
    chu kỳ doanh thu bao gồm:
     Việc bán chịu được ghi nhận như là những nghiệp vụ bán hàng thông thường hơn là
    những nghiệp vụ tài chính.
     Khoản phải thu khách hàng được công bố như là khoản ký quỹ tương ứng với những
    khoản vay xác định có giới hạn về điều kiện sử dụng. Việc công bố những giới hạn cụ
    thể (về việc sử dụng) là yêu cầu bắt buộc.
     Các khoản phải thu khách hàng không được phân loại đúng như thực tế khi mà khả năng
    thu hồi được khoản phải thu ấy trong năm tiếp theo là rất thấp.
     Thu hồi đối với khoản phải thu phụ thuộc vào những sự kiện cụ thể không thể dự đoán
    được ở thời điểm hiện tại.

    4.2.3. Môi trường kiểm soát ảnh hưởng tới bán hàng
    Tác động của môi trường kiểm soát đối với toàn bộ
    hoạt động của đơn vị nói chung và đối với hoạt
    động bán hàng nói riêng chủ yếu là tính liêm chính
    của ban quản trị, tình hình tài chính của đơn vị ấy,
    áp lực tài chính đối với đơn vị và động cơ của ban
    quản trị để đạt được những mục tiêu tài chính khác
    nhau. Một số công ty đã xây dựng kế hoạch/mục
    tiêu lớn và có thể đã không xem xét kỹ trong quá
    trình xây dựng mục tiêu cũng như đánh giá năng
    lực, nguồn lực trong quá trình lập kế hoạch. Vì thế,
    mục tiêu của công ty khó có thể đạt được.

    88 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  13. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Kiểm toán viên cần tìm hiểu về môi trường kiểm soát của công ty khách hàng để xác định
    những động lực hoặc kỳ vọng của ban quản trị, những tác động tiềm tàng từ phía những
    sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của công ty khách hàng và
    sự mở rộng quy mô hoạt động. Những vấn đề này có thể làm cho ban giám đốc và uỷ ban
    kiểm toán (nếu có) thực hiện giám sát chặt chẽ hơn đối với quá trình ghi nhận doanh thu.
    Câu hỏi 4.10:
    Anh/chị hãy lấy ví dụ minh họa về quan điểm của ban quản trị trong bán hàng có thể ảnh
    hưởng lớn tới doanh số bán hàng?
    Trả lời: Ví dụ sau đây minh họa về sự yếu kém trong kiểm soát liên quan tới bán hàng mà
    nguyên nhân xuất phát từ quan điểm bán hàng của ban quản trị: Một công ty máy tính có
    chính sách bán hàng rất chặt chẽ đối với các nhà bán lẻ nhưng lại có chính sách hàng bán bị
    trả lại “tự do”. Nhà quản trị của công ty đã quyết định, nếu các sản phẩm bị trả lại trong
    một khoảng thời gian ngắn thì công ty sẽ kiểm tra sản phẩm lại, tiếp tục đóng gói và gửi
    chúng đi bán như là những sản phẩm mới. Như vậy, nếu khách hàng của công ty phát hiện
    được điều này, thiệt hại của công ty máy tính kia sẽ là không thể đánh giá được.
    Kiểm toán viên cũng nên thông báo cho công ty về những thông tin có thể chỉ ra khả năng
    đổ vỡ của môi trường kiểm soát. Những nguồn thông tin hữu ích được kiểm toán viên sử
    dụng là:
     Những bài báo tài chính (ở các báo chính thống, chuyên nghiệp) về công ty.
     Những bài báo thương mại về các sản phẩm của công ty hoặc về những sản phẩm
    của đối thủ cạnh tranh.
     Số liệu thống kê về sự tăng trưởng của ngành.
     Các kết quả của thủ tục phân tích ban đầu chỉ ra mối liên hệ đối với số dư không
    bình thường của những tài khoản liên quan.
    Ghi nhớ

    Những nguồn thông tin ban đầu sẽ được kiểm tra một cách hệ thống thông qua môi trường
    kiểm soát của công ty khách hàng. Nếu rủi ro kiểm soát là cao, kiểm toán viên sẽ điều
    chỉnh các thủ tục kiểm toán để đạt được hiểu biết chi tiết về những nghiệp vụ không thông
    thường, thực hiện nhiều hơn các thủ tục kiểm tra chia cắt kỳ kế toán, thực hiện xác nhận,
    thực hiện nhiều thủ tục kiểm tra đối với ghi nhận doanh thu và ghi nhận hàng bán bị trả lại.

    4.2.4. Mở rộng hiểu biết về hoạt động kiểm soát nội bộ trong chu kỳ
    Một kiểm toán viên sau khi đã đạt được sự hiểu biết
    về môi trường kiểm soát thì nên tập trung vào những
    yếu tố còn lại của hoạt động kiểm soát nội bộ: đánh
    giá rủi ro kiểm soát, hoạt động kiểm soát, thông tin
    và truyền thông, giám sát các hoạt động kiểm soát.
    Mặc dù kiểm toán viên cần tìm hiểu tất cả các yếu
    tố của hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng kiểm toán
    viên thường tập trung vào đánh giá hoạt động giám sát hoạt động kiểm soát.
    Trong trường hợp, kiểm toán viên đánh giá hoạt động kiểm soát là phù hợp thì kiểm
    toán viên có thể không cần thiết phải thực hiện bổ sung những công việc khác nhằm
    hỗ trợ cho đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức trung bình. Tuy nhiên, kiểm toán viên phải
    đạt được sự hiểu biết toàn diện về hoạt động kiểm soát nội bộ của đơn vị. Để thực
    hiện điều này, kiểm toán viên thường sử dụng kỹ thuật kiểm tra từ đầu đến cuối,
    phỏng vấn, quan sát và kiểm tra tài liệu.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 89

  14. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ theo các mục tiêu cụ thể như sau:
     Hiện hữu/Xảy ra
    Các nghiệp vụ bán hàng chỉ được ghi nhận khi
    quyền sở hữu đối với hàng hoá đã được chuyển
    giao, dịch vụ đã hoàn thành cung cấp cho khách
    hàng và công ty đã nhận được tiền hoặc một
    khoản phải thu. Thủ tục kiểm soát phải đảm bảo
    rằng một nghiệp vụ bán hàng sẽ chỉ được ghi
    nhận khi hoạt động chuyển giao trên đã xảy ra.
    Sự hiện hữu của nghiệp vụ bán hàng có thể được
    chứng minh thông qua các báo cáo hàng tháng
    của khách hàng. Những báo cáo này được lập và
    gửi cho công ty hoàn toàn độc lập với bộ phận xử lý nghiệp vụ ban đầu. Hơn thế,
    hoạt động kiểm soát được thực hiện bằng một trình tự nhất định đối với tất cả các
    yêu cầu của khách hàng để phân tách bộ phận phải thu khách hàng hoặc bộ phận
    dịch vụ khách hàng để xác định những sai sót tiềm tàng trong quá trình ghi chép.
    Hai nội dung cụ thể có liên quan tới mục tiêu hiện hữu chính là sự phê chuẩn các
    nghiệp vụ bán hàng và ghi chép nghiệp vụ bán hàng đúng thời điểm.
     Trọn vẹn
    Các thủ tục kiểm soát việc ghi chép đầy đủ các nghiệp vụ bán hàng để đảm bảo
    rằng tất cả các nghiệp vụ đều được ghi chép. Các hoạt động kiểm soát tồn tại trong
    thực hiện mục tiêu này thường gồm:
    o Thực hiện việc đánh số trước đối với những tài liệu và hoá đơn bán hàng, ghi
    lại đối với tất cả những số liệu ấy.
    o Ghi chép ngay lập tức các nghiệp vụ vào hệ thống máy tính và gán mã duy nhất
    cho nghiệp vụ bằng các ứng dụng của máy tính.
    o Đối chiếu số liệu từ hoá đơn vận chuyển với hoá đơn bán hàng.

     Quyền và nghĩa vụ:
    Hoạt động kiểm soát nên tồn tại để đảm bảo rằng các tài sản được ghi chép từ hoạt
    động bán hàng là thuộc công ty khách hàng. Chúng ta có thể thấy một số hoạt
    động kiểm soát này tương tự như những hoạt động kiểm soát được sử dụng để đảm
    bảo mục tiêu tồn tại.
     Đánh giá:
    Việc xác định đúng giá trị của các nghiệp vụ bán hàng là tương đối dễ dàng. Các
    nghiệp vụ bán hàng thường được phê chuẩn về giá và được liệt kê trong file máy
    tính, được truy cập bởi thủ quỹ hoặc đại diện bán hàng. Các thủ tục kiểm soát cần
    phải được thiết kế để đảm bảo việc nhập liệu đúng theo giá phê chuẩn. Các thủ tục
    kiểm soát có thể bao gồm:
    o Giới hạn quyền truy cập đối với các files tới việc phê chuẩn của cá nhân.
    o In một bản danh sách sự thay đổi về giá để chính bộ phận phê chuẩn giá kiểm tra lại.
    o Giới hạn sự phê chuẩn đối với giám đốc marketing hoặc một vài các nhân khác
    có trách nhiệm về giá bán.

    90 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  15. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Ghi nhớ

    Vấn đề đánh giá thường phát sinh trong quan hệ với những điều khoản bán hàng không
    thông thường hoặc không chắc chắn. Chẳng hạn, việc bán chịu cho khách hàng có thể dựa
    vào công ty bán hàng, uỷ quyền bán, và các hợp đồng bán hàng. Những hợp đồng bán hàng
    phức tạp nên được xem xét để xác định các trách nhiệm của khách hàng và bản chất kinh tế
    của hợp đồng.

     Trình bày và công bố:
    Các thủ tục kiểm soát chủ yếu đảm bảo việc trình bày và công bố đúng đắn bao gồm:
    o Sơ đồ tài khoản hạch toán các nghiệp vụ bán hàng phát sinh.
    o Đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên.
    o Xem xét tính phức tạp hoặc không bình thường của các nghiệp vụ bởi các cá
    nhân có kinh nghiệm.
    o Tin học hoá những nghiệp vụ tiêu chuẩn để đảm bảo tính thống nhất trong
    phân loại và xử lý nghiệp vụ.
    Ghi nhớ

    Sau khi một nghiệp vụ đã được nhận diện thì công việc tiếp theo của kế toán mới là ghi nhận.
    Điều này là cần thiết cho một hệ thống kế toán với các thủ tục kiểm soát phù hợp để kiểm
    tra về tính trung thực của các nghiệp vụ: không có nghiệp vụ bị bỏ sót, hoặc được ghi thêm,
    được sửa chữa trong quá trình kế toán. Thủ tục kiểm soát bao gồm việc đối chiếu các yếu tố
    nhập liệu với kết quả, và các thủ tục được thiết kế để kiểm tra theo trình tự kế toán nhằm
    phát hiện ra các nghiệp vụ bị bỏ sót hoặc không thông thường.

    4.2.5. Giám sát hoạt động kiểm soát
    Để đánh giá rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên nên xem xét một số hoạt động giám sát
    sau đây trong chu trình bán hàng của công ty khách hàng:
     So sánh doanh thu bán hàng và giá vốn hàng bán với số liệu kế hoạch.
     Các báo cáo loại trừ cho ban quản trị về các nghiệp vụ không thông thường hoặc số
    lượng tiền, ví dụ: những báo cáo bị điều tra, những hành động sửa chữa sai phạm.
     Các báo cáo về số lượng nghiệp vụ do máy tính tạo ra vượt quá tiêu chuẩn cho phép.
     Kiểm toán nội bộ về hoạt động kiểm soát doanh thu và các nghiệp vụ không thông
    thường có liên quan.
     Xem xét lại của kiểm soát nội bộ từ bộ phận quản lý của chi nhánh hoặc phòng ban
    và chất lượng của các báo cáo loại trừ liên quan tới việc ra quyết định quản trị.
     Các báo cáo từ máy tính đối chiếu các nghiệp vụ nhập vào máy tính và các nghiệp
    vụ được xử lý.
     Giám sát nội dung các khoản phải thu khách hàng.
     Các báo cáo định kỳ về tất cả các nghiệp vụ đã được xử lý nhưng vượt quá số điều
    chỉnh công bố ở kỳ trước.
     Kiểm tra tuần tự, độc lập những khiếu nại của khách hàng.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 91

  16. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Ghi nhớ

    Giám sát hoạt động kiểm soát được đánh giá là vô cùng quan trọng. Trong một vài tình
    huống, kiểm toán viên có thể phát triển đánh giá về rủi ro kiểm soát bằng cách tập trung
    trước hết vào chất lượng hoạt động giám sát đối với hoạt động kiểm soát. Tuy nhiên trong
    những tình huống ấy, yêu cầu đối với bằng chứng kiểm toán là về những hoạt động kiểm
    soát đang hoạt động đúng. Chẳng hạn, báo cáo kiểm toán nội bộ hoặc những bằng chứng
    mà ban quản trị đã thu thập được tiếp sau việc kiểm tra các nghiệp vụ không thông thường
    và thực hiện những hoạt động sửa chữa.
    Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải nhận diện những thủ tục kiểm soát cụ
    thể trong quá trình xử lý nghiệp vụ của công ty khách hàng. Những mục tiêu kiểm
    soát và các thủ tục kiểm soát cơ bản thường không thay đổi bất thường giữa các hệ
    thống kế toán giống nhau trong những đơn vị khác nhau.
    Bảng 4.1 sẽ khái quát những hoạt động kiểm soát đa dạng để thoả mãn những mục
    tiêu kiểm soát cụ thể (Kiểm tra hoạt động kiểm soát như thế nào và thực hiện kiểm
    toán như thế nào nếu hệ thống kiểm soát không hoạt động hiệu quả).
    Bảng 4.1: Ví dụ về hoạt động kiểm soát và thủ tục kiểm tra trong kiểm toán
    chu kỳ doanh thu
    Kiểm tra hoạt động
    Mục tiêu Hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm toán
    kiểm soát
    1. Các nghiệp vụ Doanh thu được ghi đúng Chọn một mẫu các nghiệp Đơn vị có thể không kiểm
    được ghi chép là theo đơn đặt hàng và các vụ bán hàng và đối chiếu toán được. Thực hiện kiểm
    đúng đắn chứng từ vận chuyển. ngược với trình tự kế toán. tra tập trung vào bảng cân
    Sử dụng GAS để kiểm tra sự đối kế toán. Mở rộng thử
    khớp đúng doanh thu với nghiệp cơ bản đối với khoản
    chứng từ vận chuyển hoặc phải thu khách hàng và tiền.
    đơn đặt hàng.

    Bán trực tiếp thu tiền mặt Kiểm tra để xem xét tổng Tương tự như trên.
    tiến hành đồng thời với việc doanh thu bán hàng là phù
    thu tiền từ khách hàng. hợp với số tiền ghi trên hoá
    Chứng từ là căn cứ để trả đơn nhận được và gửi vào
    lại hàng. ngân hàng.
    2. Các nghiệp vụ Hệ thống thủ công: Một chữ Lấy mẫu các nghiệp vụ bán Có thể dẫn tới việc kiểm
    được phê ký phê chuẩn thông qua hàng được ghi và kiểm tra toán viên xác định và đánh
    chuẩn chính sách tín dụng và điều ngược theo trình tự kế toán. giá rủi ro kiểm soát cao hơn
    kiện bán hàng phải thực Thực hiện lại quá trình chấp nếu các nghiệp vụ bán hàng
    hiện trước khi chuyển hàng. nhận nợ. không được phê chuẩn vẫn
    được thực hiện và có thể
    không thu được tiền.
    Hệ thống điện tử: Chỉ có sự Kiểm tra việc truy cập vào Tương tự như trên.
    phê chuẩn đối với nghiệp vụ hoạt động kiểm soát như
    bán hàng đầu tiền phải truy một phần của thử nghiệm
    cập đối với chương trình kiểm soát đối với hệ thống
    máy tính. Chương trình máy máy tính.
    tính đánh giá việc bán chịu. Kiểm tra dữ liệu để kiểm tra
    hoạt động kiểm soát trong
    môi trường máy tính.
    Các nghiệp vụ bán hàng Kiểm tra hợp đồng bán hàng. Đưa ra quyết định nếu
    phức tạp, nghiệp vụ bán nghiệp vụ bán hàng được
    hàng lớn phải có hợp đồng ghi chép đúng.
    do nhà quản lý cao cấp ký.

    92 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  17. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Kiểm tra hoạt động
    Mục tiêu Hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm toán
    kiểm soát
    3. Các nghiệp vụ Máy tính ghi lại các nghiệp Xem xét việc giám sát hoạt Công ty có thể có những
    được ghi chép vụ theo các đơn đặt hàng động kiểm soát,… đánh giá nghiệp vụ bán hàng không
    đúng thời điểm và thông tin về hàng vận của ban quản trị về các được ghi nhận. Thảo luận
    chuyển. Các nghiệp vụ được nghiệp vụ ghi vào trong hệ với ban quản trị để quyết
    nhập liệu nhưng nó chưa thống và không được định nếu ban quản trị có kế
    được thực hiện được nhận chuyển giao, chưa phát hoạch xuất hoá đơn.
    diện và trình bày trong báo hành hoá đơn.
    cáo loại trừ.
    Các báo cáo hàng tháng Xem xét nội dung của những Doanh thu có thể bị ghi sai
    được gửi cho khách hàng. khiếu nại nhận được. Điều tra năm. Mở rộng thủ tục kiểm
    để quyết định nếu báo cáo tra việc chia cắt kỳ kế toán.
    này có mẫu.
    4. Các nghiệp vụ Đánh số trước các chứng từ Kiểm tra việc đối chiếu để Mở rộng thủ tục kiểm tra việc
    bán hàng được vận chuyển và hoá đơn và xác định hoạt động kiểm chia cắt kỳ kế toán vào cuối
    ghi nhận định kỳ thực hiện đếm. soát đang hoạt động. năm để xác định xem có phải
    tất cả các nghiệp vụ bán
    Cập nhật trực tuyến các Sử dụng kỹ thuật máy tính
    hàng đều được ghi chép
    nghiệp vụ và ghi lại độc lập. để kiểm tra các dấu vết.
    đúng năm không.
    Giám sát: Các nghiệp vụ Xem xét báo cáo quản trị và
    được kiểm tra đem so sánh bằng chứng về những giám
    với kết quả xác minh khác. sát đã thực hiện.
    5. Quyền và nghĩa Hoá đơn và hợp đồng bán Xem xét những hợp đồng Xem xét để quyết định nếu
    vụ hàng chỉ rõ những điều bán hàng thông thường và tồn tại rủi ro đối với khoản
    khoản bán. các hoá đơn. phải thu không được ghi
    chép đúng và có thể không
    thu được.
    Doanh thu được ghi chép khi Xem xét quá trình ghi nhận Xác nhận các điều khoản
    có bằng chứng chắc chắn về doanh thu. Chọn mẫu doanh bán hàng với khách hàng.
    sự chuyển giao quyền sở thu bán hàng và sử dụng
    hữu (chuyển giao hàng). hoá đơn vận chuyển đối
    chiếu ngược lại theo trình tự
    kế toán.
    6. Các ghiệp vụ Giá bán lấy từ danh sách giá Kiểm tra việc truy cập hệ Quyết định nếu doanh thu
    bán hàng ghi được phê chuẩn từ máy tính. thống kiểm soát. Chọn mẫu có thể không thu hồi được
    chép theo các hoá đơn bán hàng và đối hoặc nếu bị ảnh hưởng bởi
    GAAS chiếu giá của hàng bán với các quy định của Chính phủ.
    danh sách giá. Nếu không, sẽ không có vấn
    đề gì hơn là xác định nếu
    phải thu khách hàng có thể
    thu được.
    Yêu cầu có phê chuẩn của Lấy mẫu các nghiệp vụ để Yêu cầu ban quản trị hoặc
    cấp cao với các nghiệp vụ kiểm tra việc phê chuẩn của ban giám đốc xem xét thông
    có số tiền lớn và phức tạp. quản lý cấp cao. qua các nghiệp vụ phức tạp.
    7. Nghiệp vụ được Sơ đồ tài khoản hạch toán Chọn mẫu nghiệp vụ và Mở rộng kiểm tra đối với
    phân loại đúng được cập nhật và sử dụng. kiểm tra dấu vết tới sổ cái doanh thu và phải thu khách
    tổng hợp để xem xét việc hàng để xác định tất cả các
    phân loại đúng đắn. điều khoản trên hợp đồng,
    doanh thu chưa thu tiền và
    doanh thu thu tiền trực tiếp.
    Chương trình máy tính được Khi kiểm tra hoạt động kiểm Mở rộng việc xác nhận đối
    kiểm tra trước khi thực hiện. soát chung, xác định hoạt với khách hàng.
    động kiểm soát đối với sự
    thay đổi chương trình đang
    hoạt động.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 93

  18. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    4.2.6. Kiểm soát đối với hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán và bảo hành sản phẩm
    Trong vô vàn những dấu hiệu sai phạm, những khoản hàng bán bị trả lại và giảm giá
    hàng bán không bình thường có thể là những dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ những hoạt
    động không bình thường của công ty. Vì vậy, một vấn đề cơ bản mà công ty phải xử
    lý chính là phát triển hệ thống kiểm soát để đảm bảo việc ghi chép đúng, kịp thời đối
    với tất cả số hàng bán bị trả lại.
    Câu hỏi 4.11:
    Anh/chị hãy liệt kê những hoạt động kiểm soát chủ yếu trong ghi nhận hàng bán bị trả lại
    hoặc giảm giá hàng bán.
    Trả lời: Thông thường các hoạt động kiểm soát chủ yếu đối với việc nhận diện và ghi chép
    kịp thời những hàng hoá bị trả lại hoặc những khoản giảm giá gồm:
     Chính sách hàng bán bị trả lại phải thể hiện trên hợp đồng và dự phòng về bảo hành sản
    phẩm được ghi rõ trên hợp đồng bán hàng.
     Các thủ tục thông thường để phê chuẩn đối với hàng bán bị trả lại.
     Các thủ tục thông thường để xem xét phê chuẩn chính sách tín dụng hoặc thực hiện bảo
    hành liên quan tới việc trả lại hàng mua.
     Các thủ tục kế toán thông thường đối với hàng bán bị trả lại chẳng hạn như là việc ghi
    chép đối với hàng bán bị trả lại trên các chứng từ được đánh số trước, được đếm lại để
    khẳng định việc ghi chép các nghiệp vụ có hợp lý hay không.
     Các thủ tục thông thường để nhận diện một khoản nợ xác định, hàng hoá có được đánh
    giá lại theo dự phòng, bảo hành hoặc trả lại cho khách hàng.
     Quy định các thủ tục kế toán đối với các khoản mục bị trả lại cho trường hợp chấp nhận
    gia hạn đối với toàn bộ một khoản phải thu khách hàng.

    4.2.7. Vai trò của chính sách tín dụng đối với phê chuẩn nghiệp vụ bán hàng
    Những số dư tài khoản phải thu khách hàng được đề
    cập tới đầu tiên từ hoạt động bán chịu, tiếp sau là các
    nghiệp vụ thu tiền. Việc ghi chép đúng đắn các
    nghiệp vụ bán hàng ảnh hưởng trực tiếp tới đánh giá
    các khoản phải thu khách hàng, đặc biệt là quá trình
    đảm bảo về những thủ tục phê chuẩn nợ sau khi
    khoản nợ được chấp nhận.
    Các thủ tục kiểm soát nên đảm bảo về khả năng chỉ có rủi ro tín dụng mới được đơn vị
    chấp nhận. Các thủ tục kiểm soát dưới đây sẽ trợ giúp cho các mục tiêu này:
     Chính sách nợ thông thường có thể được thực hiện phê chuẩn tự động đối với hầu
    hết các nghiệp vụ liên quan và chỉ yêu cầu phê chuẩn cụ thể đối với những nghiệp
    vụ có số tiền lớn và không thông thường.
     Định kỳ những nhà quản lý cấp cao thực hiện đánh giá đối với chính sách phê
    chuẩn nợ của công ty để xác định sự thay đổi cần thiết (vì các sự kiện kinh tế hiện
    tại hoặc những khoản nợ xấu).
     Tiếp tục giám sát các khoản phải thu khách hàng để thu thập bằng chứng về rủi ro
    tăng lên.
     Phân chia trách nhiệm phù hợp trong bộ phận tín dụng bằng sự phê chuẩn cụ thể để
    xoá sổ đối với những khoản phải thu độc lập với cá nhân thu tiền từ khách hàng.

    94 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

  19. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Trong một số ngành, chẳng hạn như trong lĩnh vực tài chính, những quy định do pháp
    luật quy định có xu hướng làm giảm thiểu rủi ro tín dụng đối với đơn vị ấy.
    Ví dụ như các ngân hàng thường có những giới hạn về số tiền cho vay đối với một
    đơn vị cụ thể. Trong những trường hợp ấy, kiểm toán viên phải đưa ra những lời cảnh
    báo đối với những thủ tục mà khách hàng sử dụng để nhận diện tất cả những con nợ
    có liên quan tới chính sách trên để số tiền vay không vượt quá mức quy định. Các tổ
    chức tín dụng thường có những thủ tục cụ thể đặt ra đối với những khoản vay lớn. Tuy
    nhiên kết quả lại không như mong đợi, thực tế thì các tổ chức tài chính đã không hoàn
    thành công việc kiểm soát ấy bằng việc phát triển các thủ tục kiểm soát để đảm bảo
    rằng những khoản vay vẫn giữ nguyên khả năng thu hồi, và giá trị thu hồi lớn hơn so
    với số tiền vay.

    4.2.8. Đánh giá ban đầu về rủi ro môi trường
    Hệ thống kiểm soát nội bộ có thể được mô tả chi tiết trên lưu đồ, bảng tường thuật
    hoặc bảng câu hỏi. Việc sử dụng cách thức mô tả chi tiết, các bạn có thể xem lại Bài 3
    Hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp. Trừ khi công ty khách hàng có những
    hoạt động kiểm soát khác bổ sung cho những yếu điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ,
    kiểm toán viên nên xem xét rủi ro về khả năng sai phạm cụ thể trong việc thiết kế các
    thử nghiệm trực tiếp số dư ở trong chương trình kiểm toán.
    Câu hỏi 4.12:
    Theo anh/chị, kiểm toán viên sẽ làm gì sau khi hiểu và mô tả về hệ thống kế toán và các thủ
    tục kiểm soát?
    Trả lời: Sau khi hiểu và mô tả về hệ thống kế toán và các thủ tục kiểm soát, kiểm toán viên
    phát triển đánh giá về rủi ro kiểm soát ban đầu đối với mỗi tài khoản. Nếu kiểm toán viên xác
    định rằng việc đánh giá rủi ro kiểm soát có thể giảm xuống tới một mức thấp phù hợp thì kiểm
    toán viên sẽ xác định về khả năng giảm chi phí kiểm toán bằng việc thực hiện các thử nghiệm
    kiểm soát (để kiểm tra các hoạt động kiểm soát đã hoạt động như mô tả). Trong một vài trường
    hợp thì kiểm toán viên xác định chi phí đối với việc kiểm tra trực tiếp với số dư tài khoản thấp
    hơn so với thử nghiệm kiểm soát trong điều kiện mức rủi ro phát hiện dự kiến là thấp.

    Kiểm tra tính hiệu lực của thủ tục kiểm soát
    Nếu kiểm toán viên đánh giá ban đầu về rủi ro môi trường là thấp và đưa ra kết luận
    có thể giảm các thử nghiệm cơ bản xuống tới mức đem lại hiệu quả về chi phí thì kiểm
    toán viên phải đảm bảo rằng hệ thống kiểm soát hoạt động hiệu quả.
    Ví dụ, để đạt được sự hiểu biết về hệ thống kiểm
    soát nội bộ, kiểm toán viên có thể xác định xem
    việc kiểm soát giá trị của hàng hoá đã được thực
    hiện. Kiểm toán viên phải xác định hệ thống kiểm
    soát đang hoạt động hiệu quả, cụ thể là: tất cả giá
    ghi trên hoá đơn đều phải lấy từ danh sách giá bán
    sản phẩm đã được phê chuẩn; chỉ có những thay đổi
    về giá được phê chuẩn mới được sử dụng để ghi
    chép. Nếu không có sự đảm bảo về hiệu lực của hệ
    thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán viên sẽ phải thực hiện các thử nghiệm trực tiếp để
    xác định các hoá đơn có được tính đúng giá trị hay không.

    ACC509_Bai 4_v1.0011105225 95

  20. Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền

    Các kỹ thuật để kiểm tra tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ trong công ty
    khách hàng mà kiểm toán viên có thể sử dụng bao gồm:
     Kiểm tra thủ công
    Chọn một mẫu các nghiệp vụ đã ghi sổ và xác định xem giá ghi sổ có phù hợp với
    giá đã được phê chuẩn của hàng hoá tương ứng.
     Kiểm tra bằng máy tính đối với hệ thống kiểm soát điện tử
    Kiểm tra hoạt động kiểm soát bằng máy tính từ những thử nghiệm kiểm soát
    chung hoặc những kỹ thuật kiểm toán hiện tại. Trong tình huống này, kiểm toán
    viên có thể kiểm tra để xác định các hoạt động kiểm soát đối với việc truy cập các
    files chứa đựng thông tin về giá đang hoạt động đúng.
     Giám sát hệ thống kiểm soát
    Ban quản trị có thể có thực hiện giám sát đối với hệ thống kiểm soát để kiểm tra
    tính đúng đắn về giá bán của hàng hoá.
    Ví dụ, ban quản trị có thể đặt mục tiêu về lãi gộp theo dòng sản phẩm và nhận báo
    cáo về kết quả thực tế hàng tháng. Ban quản trị có thể điều tra bất cứ kết quả trên
    báo cáo nào không đạt được kết quả mong muốn để xác minh nếu kết quả ấy dẫn
    tới những vấn đề lớn về chi phí hoặc giá bán. Kiểm toán viên có thể xem xét
    những báo cáo ấy, xác minh nếu có chênh lệch và xác định xem ban quản trị đã
    làm gì sau khi phát hiện ra những vấn đề trên.

    Ghi nhớ

    Kiểm toán viên phải quyết định cách tiếp cận hoặc kết hợp các phương pháp để thu thập
    được những bằng chứng tốt nhất với chi phí kiểm toán thấp. Nhiều kiểm toán viên sử dụng
    cách tiếp cận là chọn mẫu các nghiệp vụ và xác định xem chúng có được ghi chép theo mức
    giá được phê chuẩn hay không. Tuy nhiên, thủ tục này là một thử nghiệp gián tiếp về hệ
    thống kiểm soát.
    Kiểm toán viên lưu ý rằng khi giá là đúng thì kiểm toán viên có thể suy rộng kết luận đối
    với toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kiểm soát đang hoạt động đúng mà không
    cần có các thử nghiệp trực tiếp đối với hệ thống kiểm soát. Thủ tục này thường được sử
    dụng vì nó cung cấp bằng chứng về sự đúng đắn của quá trình xử lý. Cũng vì thế nó có thể
    được xem xét như là một thử nghiệp song song (Dual Test), vừa kiểm tra được hệ thống
    kiểm soát lại vừa kiểm tra được tính chính xác của số dư tài khoản.

    Câu hỏi 4.13:
    Theo anh/chị, sau khi thu thập được các bằng chứng kiểm toán bằng các thử nghiệm kiểm
    soát, kiểm toán viên sử dụng những bằng chứng này để làm gì?

    Trả lời: Sau khi thu thập được các bằng chứng kiểm toán bằng các thử nghiệm kiểm soát,
    kiểm toán viên sử dụng những bằng chứng này để đánh giá lại rủi ro kiểm soát. Trong hầu hết
    các trường hợp, hoạt động kiểm soát đang hoạt động hiệu quả sẽ đưa đến quyết định giảm
    mức rủi ro kiểm soát. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp khác hoạt động kiểm soát hoạt
    động không hiệu quả thì sai phạm có thể tồn tại trên sổ cái tài khoản. Với khả năng sai phạm
    tiềm tàng, kiểm toán viên phải điều chỉnh chương trình kiểm toán để nhận diện các loại sai
    phạm có thể xảy ra và phát triển các thủ tục kiểm toán để xác định những sai phạm phức tạp.

    96 ACC509_Bai 4_v1.0011105225

Download tài liệu Bài giảng Bài 4: Kiểm toán chu kỳ bán hàng và thu tiền File Word, PDF về máy