[Download] Tải Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán – Tải về File Word, PDF

Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán

Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán
Nội dung Text: Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán

Download


Bài viết đề xuất mô hình giảng dạy, các hoạt động có thể đưa vào giảng dạy để vượt qua những thách thức đó. Từcác bài học kích thích tư duy được đưa ra, giảng viên có thể giúp cho sinh viên phát triển kỹ năng tư duy sáng tạo và phê phán theo yêu cầu của nơi làm việc trong thời đại công nghệ 4.0.

Bạn đang xem: [Download] Tải Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán File Word, PDF về máy

Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán

  1. P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS – SOCIETY

    ÁP DỤNG CÁC KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO
    VÀ TƯ DUY PHẢN BIỆN TRONG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
    GIẢNG DẠY KẾ TOÁN
    APPLYING TECHNIQUES FOR CREATIVE THINKING AND CRITICAL THINKING
    FOR ACCOUNITNG CURRICULUM

    Nguyễn Phương Anh

    TÓM TẮT 1. GIỚI THIỆU
    Trong thời đại kỷ nguyên số, khi mà máy móc có thể thay thế con người một Từ những năm 1980, đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra
    phần công việc, một số báo cáo kế toán đã chỉ ra rằng công việc kế toán không sự tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế toàn cầu hoá đặt ra
    chỉ dừng lại ở việc ghi chép các sự kiện kế toán trong doanh nghiệp. Nền kinh tế yêu cầu về một thị trường lao động tinh vi về công nghệ.
    toàn cầu phát triển mạnh mẽ đã đặt ra yêu cầu mới cấp thiết cho kế toán viên Với sự phát triển của công nghệ, những yêu cầu kỹ năng
    cũng như áp lực lên các trường đại học về một chương trình đào tạo kế toán có nghề nghiệp cũng cao hơn. Bên cạnh đó, những cơ hội việc
    năng lực sáng tạo và tư duy phản biện. Bài báo này đề xuất mô hình giảng dạy, làm và mô tả công việc cũng được thay đổi để phù hợp với
    các hoạt động có thể đưa vào giảng dạy để vượt qua những thách thức đó. Từ các bối cảnh kinh tế mới. Hơn nữa, đòi hỏi về trách nhiệm trong
    bài học kích thích tư duy được đưa ra, giảng viên có thể giúp cho sinh viên phát môi trường học thuật và sự phù hợp với yêu cầu từ phía
    triển kỹ năng tư duy sáng tạo và phê phán theo yêu cầu của nơi làm việc trong người học đã làm tăng các nghiên cứu đương đại về giảng
    thời đại công nghệ 4.0. Các hoạt động tư duy và các ví dụ được nêu chi tiết trong dạy đại học trong cuộc cách mạng mạnh mẽ về thay đổi
    bài báo để phát triển chương trình giảng dạy kế toán được phát triển theo quan quan niệm về quá trình dạy và học. Ví dụ, môi trường học
    điểm lấy người học là trung tâm, điều này trái ngược với quan điểm trước đây lấy tập trong kỷ nguyên mới chịu tác động mạnh mẽ bởi các
    giáo viên là trung tâm. công nghệ tương tác và phân phối, cho phép người học
    Từ khóa: Kỹ thuật tư duy, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, chương trình đào tạo tham gia vào một mạng lưới tài nguyên và thông tin vô
    kế toán. cùng phức tạp và phong phú. Các chương trình giảng dạy
    không thể thay đổi liên tục theo sự thay đổi công nghệ,
    ABSTRACT nhưng nó có thể được điều chỉnh theo cách thức tổ chức
    In the age of digital and technology, when computers could do replacement mới để nâng cao các kỹ năng nhận thức cho người học có
    for humans in terms of technical works, some accounting reports and researches khả năng làm việc trong các môi trường công nghệ giàu
    showed that accountants are no longer record accounting facts and events. The thông tin và không ngừng thay đổi.
    increasingly global economy put pressure on universities to have an innovative Các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán đề xuất
    accounting program as well as a requirement of creative and critical accountants. chương trình giảng dạy, họ ngày càng quan tâm đến tầm
    This paper suggests a range of techniques for thinking skills development. From quan trọng của việc hỗ trợ kỹ năng tư duy trong giáo dục
    thought-provoking lessons, instructors help students develop creative and đại học. Nhận thức này là kết quả từ thực tế tại các doanh
    critical thinking skills as required in 4.0 revolution. These techniques and nghiệp, nơi luôn đòi hỏi các nhân viên chủ động linh hoạt,
    examples promotes student-centred learning approach, in contrast to the sáng tạo và có những tầm nhìn xa hơn các con số. Các
    traditional method of teacher-centred. nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ các phương pháp sư phạm
    Keywords: Thinking techniques, creative thinking, critical thinking, accounting có mục tiêu phát triển khả năng của sinh viên trong việc
    curriculum. tổng hợp các thông tin rời rạc, các sự kiện từ các nguồn
    khác nhau và đánh giá mức độ quan trọng của thông tin.
    Các nghiên cứu đề xuất các khoá học giúp sinh viên vượt ra
    Khoa Kế toán Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội ngoài những nội dung và đào tạo về mặt kỹ thuật, mà tập
    Email: phuonganh.qtkd.ftu@gmail.com trung vào các hoạt động giáo dục phát triển năng lực tư
    Ngày nhận bài: 15/01/2020 duy sáng tạo và tư duy phản biện. Mặc dù có những nỗ lực
    Ngày nhận bài sửa sau phản biện: 16/6/2020 cơ bản, để xây dựng chương trình kế toán hoàn toàn phát
    Ngày chấp nhận đăng: 26/02/2021 huy được các kỹ năng tư duy bậc cao cho sinh viên vẫn còn
    một chặng đường dài khó khăn, bài báo đưa ra một khung

    Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 57 – No. 1 (Feb 2021) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 149

  2. KINH TẾ XÃ HỘI P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619

    tích hợp các chiến lực có thể được sử dụng để xây dựng 3. TƯ DUY SÁNG TẠO VÀ TƯ DUY PHẢN BIỆN
    một chương trình kế toán phù hợp, phát huy tư duy sáng Hầu hết các kế toán viên hành nghề đều phải đối mặt
    tạo cho người học trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. với các nhiệm vụ như lập kế họach, dự báo, thiết kế và sắp
    2. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VỀ TÂM LÝ HỌC NHẬN THỨC xếp các chức năng kế toán. Những công việc này đều đòi
    Tâm lý học nhận thức đã nêu ra một số kết quả có ý nghĩa hỏi sự sáng tạo và đổi mới để cải tiến quy trình, cách thức.
    quan trọng cho việc dạy và học [8]. Một trong số những phát Sáng tạo không chỉ thể hiện ở sự mới, suy nghĩ khác biệt,
    hiện cơ bản đó là con người bị giới hạn thông tin hoặc trí dừng lại ở một ý tưởng hay một giải pháp. Mà sáng tạo còn
    nhớ trong ngắn hạn. Vì vậy, một số chiến lược đã được đề thể hiện ở đặt nhiều câu hỏi, đi tìm các câu trả lời, đưa ra
    xuất để giúp con người vượt qua những giới hạn đó bằng nhiều lựa chọn và lựa chọn phương án thích hợp. Tư duy
    cách liên kết thông tin mới với những kiến thức sẵn có, như sáng tạo bắt đầu hình thành khi vấn đề lần đầu phát sinh
    tạo ra những câu chuyện tương tự thông qua câu chuyện cá và một ý tưởng mới phù hợp với vấn đề đó sẽ được coi là
    nhân, sử dụng sơ đồ, hình ảnh, các tóm tắt… Bên cạnh các sản phẩm của quá trình tư duy sáng tạo.
    chiến lược tập trung đến người học, các nghiên cứu nhận Một số đặc điểm đại diện cho tư duy sáng tạo, đó là: tính
    thức cũng chỉ ra tầm quan trọng của phương pháp và linh hoạt, lưu loát, sự nhảy cảm với các vấn đề, tính độc đáo
    chương trình giảng dạy đến quá trình tiếp nhận tri thức. và khả năng phân tích, tổng hợp cũng như sắp xếp các ý
    Newmann chỉ ra rằng ba yếu tố của một chương trình tưởng một cách mạch lạc. Các bài kiểm tra phổ biến về tư
    đào tạo thành công: kiến thức chuyên sâu, kỹ năng thành duy sáng tạo cũng được thiết kế dựa trên 4 đặc điểm của tư
    thạo và thái độ [12]. Mặc dù kiến thức thường được quan duy sáng tạo, đó là số lượng các ý tưởng, tính linh hoạt của ý
    tâm đầu tiên, nhưng mỗi yếu tố đều có vai trò quyết định tưởng, tính đột phá hay khác biệt của ý tưởng và cuối cùng là
    đến sự thành công của khoá học. Như vậy, một lớp học mức độ chi tiết của ý tưởng. Quan trọng là Paul Torrance,
    thành công không chỉ cung cấp tri thức mà còn thể hiện nhà phát triển của nhiều chương trình và thử nghiệm về Tư
    tính liên tục giữa các chủ đề cho phép sinh viên có thời duy sáng tạo, đã khẳng định rằng sáng tạo có thể học được.
    gian suy nghĩ về các câu trả lời khác nhau, cho các giải Một học giả về sáng tạo nổi tiếng khác, Gary Davis cũng
    pháp khác nhau, để thúc đẩy các ý tưởng sáng tạo. đưa ra bốn trụ cột của sự sáng tạo: con người, sản phẩm, quá
    Các nghiên cứu nhận thức về hiệu quả và quá trình giải trình và môi trường [9]. Các nghiên cứu được thực hiện để
    quyết vấn đề của con người cũng cho những phát hiện thú kiểm tra mối quan hệ giữa đặc điểm tính cách với tư duy
    vị và nhất quán. Ví dụ, những người ít thành công thường do sáng tạo. Kết quả cho thấy những người có mức độ sáng tạo
    thiếu kiến thức, không biết tự đặt câu hỏi, dành thời gian để cao thường là người hay chấp nhận rủi ro, kiên trì, tham
    tìm hiểu và mô tả vấn đề một cách rõ ràng, cụ thể [8]. vọng, thích tư duy, nghiền ngẫm, luôn tò mò và có sở thích
    Chương trình đào tạo Kế toán truyền thống cũng tập trung rộng, thích trải nghiệm những sự mới lạ, có khiếu hài hước.
    vào việc truyền đạt các sự kiện riêng biệt (như các sự kiện Những con người sáng tạo sẽ luôn tránh các cách suy nghĩ
    kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp) và có câu trả lời chính bảo thủ, phiến diện và luôn cảnh giác với sự thiếu hụt về tri
    xác cho các vấn đề rất cụ thể (định khoản, ghi sổ). Điều này thức. Tuy nhiên, Davis cũng nhấn mạnh rằng không phải tất
    vô hình khuyến khích người học không có tư duy toàn diện cả những phẩm chất của người sáng tạo đều tốt đẹp, mà họ
    giải quyết các vấn đề phức tạp, tiếp cận các tình huống thực cũng có thể tự cho mình là trung tâm, thích tranh cãi, không
    tế “muôn hình vạn trạng”. Các chương trình kế toán hi phải tuân thủ các quy tắc và cẩu thả [9].
    đảm bảo sinh viên được xây dựng một nền tảng kiến thức Khác với sáng tạo là một quy trình đề ra hệ thống các giải
    đầy đủ để giải quyết các vấn đề trong thực tế, có các suy luận pháp, các lựa chọn thì tư duy phê phán sẽ được sử dụng để
    chất lượng và kế hoạch giải quyết vấn đề sáng tạo. Vì vậy, lựa chọn giải pháp. Tư duy phản biện là khả năng đưa ra các
    cần có những môn học, các hoạt động tập trung vào tư duy đánh giá thích hợp trong các tình huống thực tế và phức tạp,
    phê phán và sáng tạo để đạt những mục tiêu đó. dựa trên các thông tin sẵn có và đã được xử lý. Tư duy phê
    Thông thường, các đề xuất được đưa ra để chuyển đổi phán được định nghĩa là một nỗ lực không ngừng để kiểm
    các chương trình kế toán thường chỉ dẫn đến sự thay đổi tra, đánh giá các thông tin sẵn có để đưa ra kết luận. Quá
    về tên gọi, sắp xếp lại các môn học, thay thế một số môn trình tư duy phản biện bao gồm:
    học mới, thay vì thay đổi hẳn bản chất của môi trường học 1. điều tra và tìm kiếm các bằng chứng
    tập, góc độ và phương pháp tiếp cận môn học. Câu hỏi 2. lựa chọn thông tin thích hợp
    cần được trả lời là “Làm thế nào để giúp người học trau 3. phân biệt các sự kiện liên quan và sự kiện không
    dồi kỹ năng tư duy trong quá trình học tập?”. Việc đưa các liên quan
    khái niệm tư duy sáng tạo và phê phán một cách trực tiếp 4. phân tích mức độ tin cậy của thông tin
    vào chương trình giảng dạy kế toán có thể cung cấp các 5. xác định mức độ mạnh yếu của các ý kiến tranh luận
    kỹ năng tổng quát và đánh giá cần thiết cho môi trường 6. xác định các mối quan hệ và lựa chọn thay thế
    kinh doanh toàn cầu hay không?. Tất nhiên, một số nhà
    7. đưa ra một số ví dụ cụ thể
    nghiên cứu giáo dục gần đây khẳng định một khung
    8. đưa ra các giả định và lập luận
    chương trình tốt nhất sẽ phải đồng thời xây dựng nền
    tảng kiến thức cho sinh viên, kỹ năng tư duy bậc cao và 9. bảo vệ ý tưởng và kiểm định giả thuyết
    định hướng để thành công. 10. rút ra kết luận và suy luận thích hợp.

    150 Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 – Số 1 (02/2021) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn

  3. P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS – SOCIETY

    Trong thực tế, tư duy phê phán tập trung vào việc đánh Như vậy, chương trình kế toán hiện đại cần tập trung
    giá logic và phân loại, mà không dựa trên suy nghĩ chủ vào phát triển tư duy và định hướng về trách nhiệm của
    quan hay phán đoán dựa trên cảm xúc cá nhân. người học. Giảng viên, thay vì tập trung trình bày các nội
    Để xây dựng một khung chương trình đào tạo kế toán dung và đánh giá sinh viên thông qua yêu cầu sinh viên
    thành công, cả tư duy sáng tạo và phê phán đều cần được làm lại, thì quan điểm mới sẽ là nhấn mạnh vào đối thoại,
    quan tâm. Tư duy sáng tạo và tư duy phản biện có thể tích dựa trên nền tảng tri thức đã có, cùng sinh viên xây dựng
    hợp với nhau để giúp sinh viên phát triển các ý tưởng mới lại kiến thức của sinh viên, tăng sự tự chủ và trách nhiệm
    ban đầu dựa trên những lập luận logic hợp lý. Nhu cầu về của sinh viên với việc học [2].
    đánh giá thông tin, tiếp cận vấn đề độc đáo, lắng nghe ý Theo kiểu truyền thống, người dạy sẽ luôn có câu trả lời
    kiến người khác, thậm chí cả các quan điểm trái chiều xuất cho mọi câu hỏi và vấn đề được đặt ra. Mà những câu trả lời
    phát từ chính hai loại tư duy này. Tư duy sáng tạo là bước này cũng được trình bày rõ ràng và chi tiết trong các cuốn
    đầu quan trọng trong giai đoạn giải quyết vấn đề thì tư duy sách được viết bởi các tác giả là chuyên gia, hiệp hội nghề
    phê phán chính là bước tiếp theo bổ sung trong giai đoạn nghiệp, giáo sư. Điều này dẫn đến một quan niệm sai lầm
    tiến hành giải quyết vấn đề. Hai kỹ năng này tuy độc lập rằng các kỹ năng và kiến thức kế toán hoàn toàn được gói
    nhưng lại bổ sung cho nhau. Tư duy sáng tạo hướng đến gọn trong một tập hợp các tiêu chuẩn và thực hành và bắt
    giai đoạn sản xuất ý tưởng thì tư duy phê phán nhằm tạo ra buộc người học phải ghi nhớ chính xác, người học sẽ
    sự đánh giá, phá vỡ những định kiến sẵn có. không có cơ hội được phân tích ý nghĩa và vì sao lại áp
    Đối với sinh viên kế toán, tư duy sáng tạo và tư duy dụng các nguyên tắc kế toán đó. Với cách tiếp cận này, các
    phản biện thể hiện tầm quan trọng ở chỗ giúp cho sinh lớp học sẽ được duy trì ổn định và kỷ luật cao. Trong một
    viên tiếp cận vấn đề một cách toàn diện hơn. Do đó, các thời gian ngắn, người học sẽ phải tiếp nhận một lượng
    vấn đề được lựa chọn trong chương trình giảng dạy cần tạo thông tin khổng lồ, các thông tin với mối quan hệ rời rạc và
    cơ hội cho sinh viên sáng tạo cũng như đánh giá mức độ có thể không nhất quán với nhau. Các bài kiểm tra sẽ chỉ
    quan trọng của các giải pháp trước khi đi đến lựa chọn cuối đánh giá được khả năng người học tái tạo lại được câu trả
    cùng. Để khi ra thực tế, sinh viên sẽ phải đối mặt với các lời đúng và áp dụng các quy trình chuẩn hoá trong một số
    vấn đề, các lĩnh vực kế toán phức tạp và chồng chéo, chứ tình huống nhất định.
    không phải một vấn đề riêng lẻ. Ngược lại, với phương pháp giảng daỵ tư vấn
    4. THAY ĐỔI HƯỚNG TIẾP CẬN TRUYỀN THỐNG SANG (consulting teaching approach), người học sẽ được phát
    HIỆN ĐẠI triển tư duy trừu tượng, định nghĩa vấn đề và diễn giải nó,
    Mặc dù các trường đại học luôn cam kết đổi mới sau đó đi tìm giải pháp. Phương pháp naỳ buộc người học
    chương trình đào tạo kế toán theo hướng tư duy, lấy người phải có trách nhiệm với việc học của mình. Phương pháp
    học làm trung tâm, khuyến khích sinh viên đổi mới sáng này không có nghĩa là nội dung bài học được bỏ qua hoặc
    tạo, các cuộc khảo sát lại chỉ ra rằng các chương trình kế xem nhẹ, mà chỉ là người học sẽ được chọn lọc kiến thức và
    toán về cơ bản vẫn chưa thay đổi về mặt bản chất, cốt lõi sử dụng nó để giải quyết các tình huống thực tế. Các ví dụ
    vẫn không bị ảnh hưởng bởi các nỗ lực đổi mới. Các khoá được trình bày trong các bài học chính là các vấn đề trong
    học mới chỉ được cải tiến bằng cách tích hợp thêm một số thế giới thực, và sinh viên sẽ phải vận dụng kiến thức để
    công nghệ mới, giảng viên thường đổi mới bằng cách sử giải quyết chúng, điều này khiến kiến thức không bị phân
    dụng các phương tiện điện tử để giảng dạy và truyền đạt mảnh và rời rạc. Ví dụ, hàng tồn kho có thể xuất hiện trong
    thông tin. Tuy nhiên, thực tế, về nội dung chương trình, khi ba môn học: kiểm soát hàng tồn kho trong kiểm toán, các
    khảo sát sinh viên được đào tạo về kế toán kiểm toán đang khái niệm, chi phí hàng tồn kho trong kế toán quản trị và
    làm việc tại một số doanh nghiệp, 80% người học cho rằng hệ thống định giá hành tồn kho được giải thích trong kế
    chương trình đào tạo kế toán còn nặng tính hàn lâm, 70% toán tài chính. Thay vì giảng dạy từng phần về hàng tồn
    chưa nắm bắt được công việc ngay mà phải hướng dẫn lại kho trong ba môn học riêng biệt, một mô-đun về hàng tồn
    [1]. Các nhà giáo dục kế toán phải đối mặt với một vấn đề kho sẽ có thể tích hợp tất cả các chủ đề. Qua đó, mối quan
    nan giải: tiếp tục tập trung vào các quy trình, hệ thống hệ giữa kiểm toán, kế toán tài chính và kế toán quản trị về
    chuẩn mực với phần lớn là các tài liệu, văn bản hay sử dụng hàng tồn kho được thể hiện rõ ràng, cho cái nhìn toàn cảnh
    các chủ đề để giải quyết các vấn đề tổng quát. Người học và các kiến thức được liên kết với nhau, thay vì dàn trải qua
    nên được xem như một chủ thể tiếp nhận tri thức hay xây ba môn học. Phương pháp hiện đại cũng cho phép sinh
    dựng tri thức. Bởi vì, nếu được xem như một chủ thể xây viên được tự do học tập theo các cách khác nhau và giảng
    dựng tri thức, sinh viên cần có thời gian để đưa ra các ý viên phải chấp nhận sự khác biệt trong một tập thể. Học
    tưởng, cấu trúc lại các kiến thức được truyền đạt từ giáo sinh, trong một lớp học hiện đại, sẽ được tiếp cận với rất
    viên. Theo quan điểm đó, giáo viên thay vì trình bày một nhiều hoạt động và phương pháp đánh gía, như: làm bài
    bài giảng và yêu cầu sinh viên nhắc lại, thì phải tương tác luận, viết báo cáo, nghiên cứu cá nhân hoặc theo nhóm,
    với sinh viên bằng cách đặt câu hỏi, khuyến khích sinh viên phỏng vấn, thuyết trình, thiết kế đề xuất và mô phỏng. Kỹ
    chủ động tìm kiếm các ý tưởng, đặt ra các tình huống, mâu năng tư duy của người học sẽ được đánh giá thông qua khả
    thuẫn để sinh viên đưa ra các giả thuyết, dành thời gian để năng cung cấp các ví dụ, tranh luận, phản biện, đưa ra các
    sinh viên khám phá các mối quan hệ tiềm ẩn [7]. giả định, bình luận các quan điểm chính, trích dẫn các tài

    Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 57 – No. 1 (Feb 2021) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 151

  4. KINH TẾ XÃ HỘI P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619

    liệu tham khảo, biện minh cho kết luận và cung cấp một viên được giải phóng khỏi việc phải suy nghĩ liên tục về các
    bản báo cáo hoàn chỉnh và có tính thuyết phục [12]. câu trả lời chính xác sẵn có trong sách. Sau đó, giáo viên sẽ
    Sau đây, bài báo sẽ trình bày các kỹ thuật kích thích tư hướng dẫn sinh viên chia sẻ về những ý tưởng ban đầu đó.
    duy có thể được sử dụng trong lớp học. Phần lớn các kỹ 5.5. Mô phỏng và đóng vai (Simulations and Role Plays)
    thuật này có thể được áp dụng ngay mà không bị những Bên cạnh hoạt động viết để tư duy, người hướng dẫn có
    hạn chế về thời gian và nguồn lực. Hơn nữa, gần như bất cứ thể sử dụng kỹ thuật mô phỏng và đóng vai để kích thích
    môn học kế toán nào cũng có thể áp dụng những kỹ thuật tư duy. Ví dụ một kịch bản đóng vai có thể xoay quanh một
    này và sinh viên có thể sử dụng chúng trong rất nhiều các tình huống một kiểm toán viên tìm thấy một lượng đáng kể
    tình huống thực tế khác. các tài liệu kế toán về hàng tồn kho có sai sót trong một
    5. CÁC KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO cuộc kiểm toán tại một công ty lớn. Thông qua vai trò của
    5.1. Động não (Brainstorming) những người tham gia khác nhau trong kịch bản trên, sinh
    Kỹ thuật đầu tiên được sử dụng để kích thích sáng tạo viên sẽ có thể được học trong cách tình huống rắc rối mà
    chính là Động não. Động não được sử dụng để khuyến họ có thể gặp phải trên thực tế trong lĩnh vực này.
    khích càng nhiều ý tưởng càng tốt, càng ý tưởng càng lạ và Bên cạnh đó, mô phỏng bằng máy tính cũng hỗ trợ sinh
    độc đáo càng tốt. Giảng viên không đánh giá các ý tưởng viên trong thu thập thông tin và dự báo rủi ro. Máy tính có
    mà chỉ kích thích người học đưa ra các ý tưởng mới, thậm thể liên tục đưa ra các thông tin bổ sung, các ý tưởng mới,
    chí mở rộng và kết hợp các ý tưởng với nhau. Ví dụ, trong các sự kiện từ những quan điểm khác nhau.
    lớp học về kế toán chi phí, giảng viên có thể đưa ra kịch
    5.6. Kỹ thuật Sáu chiếc mũ (Six hats)
    bản ở một bệnh viện, yêu cầu sinh viên nghiên cứu các ý
    tưởng để giảm chi phí cho mỗi bệnh nhân. Sau khi hoàn Trong kỹ thuật Sáu chiếc mũ của Edward de Bono’s, đội
    thành nghiên cứu, mỗi sinh viên sẽ được cung cấp một số mỗi một màu mũ đặc biệt đòi hỏi sinh viên chỉ được tham
    dữ liệu cơ bản của kịch bản, sau đó suy nghĩ và gửi giải gia vào một chế độ tư duy duy nhất. Màu mũ trắng tập
    pháp dự kiến cho cả lớp. Giải pháp của sinh viên trong lớp trung vào thông tin; mũ đỏ đưa ra cảm giác, những ý kiến
    sẽ được mang ra so sánh, đánh giá. không có chứng minh hay giải thích; mũ vàng đưa ra các ý
    5.2. Động não ngược (Reverse Branstorming) kiến lạc quan, tích cực, có logic; mũ đen chỉ ra các điểm cần
    lưu ý, các mặt yếu kém, bất lợi; mũ xanh lá cây đưa ra các
    Mặc dù kỹ thuật động não được sử dụng khá phổ biến ở
    giải pháp, ý tưởng cho vấn đề; mũ xanh da trời xác định
    chương trình đại học, động não ngược sẽ giúp cho bài học
    trọng tâm, mục đích của cuộc thảo luận, tập hợp ý kiến,
    sây sắc và hiệu qủa hơn bằng cách đặt ra các câu hỏi ngược.
    tóm tắt, kết luận và ra quyết định.
    Thay vì, hỏi cách giảm chi phí, câu hỏi ngược sẽ là làm thế
    nào để tăng chi phí tại bệnh viện. Bằng cách kết hợp hai kỹ Việc phân công vai trò với các màu mũ khác nhau sẽ cho
    thuật sinh viên sẽ được động não theo cả hai chiều. phép người học suy nghĩ về tình huống dưới nhiều góc độ.
    5.3. Thay đổi – khả năng – lựa chọn (Alternatives- Một sinh viên hay bi quan có thể được giao cho đội chiếc mũ
    Possibilities – Choices) lạc quan hoặc trở thành người tạo ý tưởng cho cả nhóm.
    Các bài tập cần khuyến khích người học thoát khỏi các Ví dụ, ghi nhận dự phòng nợ khó đòi trên bảng cân đối
    suy nghĩ kiểu cũ rập khuôn, mà nên được cá nhân hoá. Kỹ kế toán, sử dụng kỹ thuật 6 chiếc mũ, mũ trắng đại diện
    thuật Thay đổi – khả năng – lựa chọn là một công cụ hữu ích cho cơ sở kiến thức về trách nhiệm pháp lý, mũ đỏ là cảm
    để mở rộng suy nghĩ của người học ngoài câu trả lời đúng. xúc của các cổ đông về khoản nợ xấu, nón xanh là các lựa
    Ví dụ, trong một lớp học về lập dự toán ngân sách, sinh chọn thay thế sáng tạo để nhận trách nhiệm pháp lý này,
    viên có thể được hỏi ở các giai đoạn khác nhau trong quá mũ đen thể hiện quan điểm bảo thủ trong ghi nhận kế
    trình lập ngân sách. Các thay đổi, khả năng, lựa chọn khác toán, mũ vàng biểu thị quan điểm lạc quan, tích cực; mũ
    nhau được đưa ra liên tục có thể định hướng sinh viên có xanh da trời đưa ra kết luận và quyết định.
    quyết định khác nhau, điều này làm nổi bật sự biến động 5.7. Kết nối ý tưởng (Linking of Ideas)
    liên tục của các quyết định kế toán. Kỹ thuật sáng tạo này có thể giúp người học một cách
    5.4. Tự do viết (Free writing) trực quan về các ý tưởng, liên kết kiến thức và xây dựng
    Một kỹ thuật khác cho tư duy sáng tạo là để học sinh mối liên kết chéo trên các linh vực kế toán. Các công cụ trực
    được tự do viết, muốn viết gì thì viết về một chủ đề quan quan như bản đồ tư duy, tháp cấp bậc hay mạng lưới cho
    tâm. Ví dụ cùng là mô tả về cơ cấu vốn và rủi ro, trong một pháp liên kết các ý tưởng và các ý tưởng mới có thể xuất
    lớp học, sẽ có những sinh viên viết về cơ cấu vốn dưới góc hiện tại bất cứ điểm nào trên bản đồ, vào bất cứ lúc nào
    độ là chủ sở hữu, nhưng cũng có sinh viên xem xét từ góc độ trong cuộc thảo luận.
    là người cho vay, hay dưới góc độ là nhà quản trị. Trong kỹ Trong lớp học, sơ đồ tư duy cho phép sinh viên nhận
    thuật này, sinh viên được yêu cầu viết tất cả những gì họ biết thức được sự kết nối giữa các khái niệm và cung cấp thông
    về chủ đề từ quan điểm của mình trong một khoảng thời tin để khám phá các lĩnh vực yêu thích. Ví dụ, bằng cách bắt
    gian nhất định. Quy tắc ở đây là sinh viên phải viết liên tục, đầu với các loại câu hỏi chung và thực tế về chi phí, giảng
    gần như không dừng lại trong một thời gian giới hạn. Như viên có thể xác định kiến thức mà sinh viên tự chuẩn bị ở
    vậy, bằng cách viết ra những ý tưởng đầu tiên bật ra, sinh nhà tại điểm khởi đầu của bản đồ, sau đó mở rộng ra với

    152 Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 – Số 1 (02/2021) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn

  5. P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS – SOCIETY

    các khái niệm cụ thể hơn. Mạng lưới ý tưởng trong lớp kế xét vấn đề phiến diện, giúp sinh viên nhận ra điểm mạnh,
    toán chi phí dần được mở rộng. Giảng viên có thể mở rộng điểm yếu điểm hấp dẫn mà họ có thể bỏ qua nếu không áp
    bằng cách cho các sự kiện thay thế, các khả năng mới hoặc dụng kỹ thuật này.
    mở rộng theo một hướng bất kỳ do sinh viên lụa chọn. Như 6.3. K-W-L
    vậy, ý tưởng và quan điểm của sinh viên sẽ mở rộng mạng
    Tương tự như kỹ thuật PMI, công cụ K-W-L đề xuất rằng,
    lưới kiến thức chứ không phải là của người hướng dẫn.
    với mỗi bài học, giảng viên cần yêu cầu sinh viên trả lời ba
    5.8. Thẻ kiểm tra ý tưởng (Idea Spurring Checklists) câu hỏi: (1) What do you Know? (bạn biết gì) (2) What do
    Một công cụ tư duy sáng tạo có liên quan cao cho các you Want to know? (bạn muốn biết gì) (3) What did you
    chuyên gia tư vấn doanh nghiệp là việc sử dụng danh sách Learn? (bạn đã học gì). Câu trả lời cho ba câu hỏi K-W-L sẽ
    kiểm tra ý tưởng. Danh sách này nhắc nhở người tham gia cung cấp cho người dạy những thông tin ban đầu của sinh
    đề xuất các ý tưởng mới bằng các câu hỏi khuyến khích họ viên về kiến thức sinh viên đã có, điểm mạnh và mối quan
    sửa đổi, thêm, đảo ngược, thay thế, điều chỉnh, tối đa hoá, tâm hàng đầu.
    tối thiểu hoá, sắp xếp lại [9]. Những cau hỏi nảy sinh ý
    6.4. Tóm tắt (Summing up)
    tưởng rất có giá trị trong việc tạo điều kiện cho ý tưởng và
    dòng ý tưởng liên kết nhau. Một kỹ thuật cực kỳ hữu ích cho việc tích hợp kiến thức
    Ví dụ, trong lớp học về lập báo cáo thông tin tài chính, là tóm tắt. Kỹ năng này rất quan trọng để thành công trong
    sinh viên được cung cấp một danh sách các câu hỏi để xây học tập và kinh doanh. Yêu cầu về tìm kiếm thông tin, ghi
    dựng báo cáo hấp dẫn hoặc độc đáo. Sinh viên liệt kê các chép, tổng hợp trở nên quan trọng. Khi mà các buổi họp,
    đặc điểm chính của một phần hành, sau đó nghĩ cách để hội thảo cung cấp một lượng lớn các thông tin, thì việc yêu
    sửa đổi hoặc cải thiện từng thuộc tính. cầu sinh viên làm quen với việc tóm tắt các thông tin quan
    Liên quan đến sử dụng danh sách kiểm tra ý tưởng, khả trọng, tự ghi chú các nội dung trọng tâm sẽ mang lại lợi ích
    năng suy nghĩ đối lập cũng được phát triển. Suy nghĩ đối trong dài hạn. Ví dụ, trước mỗi buổi học, ngừoi học sẽ được
    lập là đặc trưng của tư duy sáng tạo. Bằng cách đặt ra yêu cầu nộp bản tóm tắt về những gì đã đọc được về chủ
    những câu hỏi đối lập, xem xét đồng thời các mặt đối lập đề của buổi học; hoặc sau buổi học, giảng viên dành 5 phút
    và khả năng xảy ra, các ý tưởng độc đáo có thể được nảy để sinh viên tóm tắt lại những nội dung trọng tâm của buổi
    sinh từ những suy nghĩ trái ngược. học để tổng hợp lại kiến thức. Bruer cũng chỉ ra rằng việc
    chia sẻ những tóm tắt của sinh viên với nhau cũng giúp cho
    5.9. Tư duy tổng hợp (Synectics)
    quá trình tiếp nhận tri thức.
    Một kỹ thuật có thể thúc đẩy năng lực sáng tạo là làm
    thống nhất các bộ phận mà tưởng chừng như chúng là tách 6.5. Một phút viết ra (Minute Papers)
    biệt. Tư duy tổng hợp là một quá trình kết hợp các yếu tố Kỹ thuật một phút yêu cầu sinh viên viết thật ngắn gọn
    hoặc khái niệm dường như không liên quan trong một bối một phần liên quan đến bài giảng trong một phút. Ví dụ,
    cảnh quen thuộc [9]. Ví dụ, trong lớp học kế toán, giảng viên sinh viên được yêu cầu trong một phút, viết ra tất cả những
    có thể yêu cầu sinh viên xem xét về mối quan hệ giữa kế điểm mạnh và điểm yếu của phương pháp tính giá hàng
    toán với một nhà sử học hoặc một nhà xã hội học. Hoặc giả tồn kho nhập sau xuất trước (LIFO), từ quan điểm của một
    định, một kế toán với đạo đức nghề nghiệp sẽ làm gì khi giám đốc tài chính của công ty cung ứng vật liệu xây dựng.
    phát hiện sai sót kế toán được tạo ra bởi người chủ của mình. Như vậy, kỹ thuật này giúp cho sinh viên kích thích tư duy
    6. CÁC KỸ THUẬT PHÁT TRIỂN TƯ DUY PHẢN BIỆN phê phán, đánh giá về một vấn đề ngay lập tức.
    6.1. Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các ý tưởng (Ranking 6.6. Case-based Reasoning và Problem-based Learning
    Braistorming ideas) Một kỹ thuật tư duy phê phán được sử dụng phổ biến là
    Sau khi động não để kích thích tư duy sáng tạo, tư duy nghiên cứu trường hợp. Nghiên cứu trường hợp cung cấp
    phản biện đuợc kích thích bằng việc tập hợp các ý tưởng và các tình huống kinh doanh một cách đa dạng giúp sinh
    sắp xếp chúng theo thứ tự ưu tiên. Qua đó, những ý tưởng viên tham gia thảo luận, suy ngẫm và tranh luận để bảo vệ
    không phù hợp được loại bỏ. Ví dụ, quay trở lại với tình ý kiến của mình. Với sự phát triển công nghệ, các trường
    huống cắt giảm chi phí trong bệnh viện, các ý tưởng sẽ được đại học có thể sử dụng để tạo ra các tình huống kinh doanh
    phân loại và sắp xếp theo thứ tự không làm ảnh hưởng đến như thực tế.
    chất lượng khám chữa bệnh. Sinh viên sẽ xem lại các ý tưởng
    Một dự án thực tế đã thành công trong việc kết hợp kỹ
    giảm chi phí nhưng sắp xếp theo thứ tự hợp lý.
    thuật case-based và ứng dụng công nghệ thông tin là dự
    6.2. Cân nhắc lợi hại và tất cả các yếu tố (Pros and Cons, án phân tích tình huống trên nền tảng web của trường Đại
    Considering All factors) học West Virginia (Hoa Kỳ). Dự án được phát triển dựa trên
    Phương pháp Plus-Minus-Interesting (PMI) và mục tiêu thiết lập mối quan hệ giữa những người tham gia
    Considering all factors (CAF) là công cụ hữu ích trong việc dự án và tăng kỹ năng tư duy phê phán của sinh viên tham
    đánh giá các ý tưởng, đặc biệt là khi sinh viên làm các bài gia dự án. Sau khi hoàn thành khoá học kế toán, sinh viên
    luận. Ví dụ, sử dụng kỹ thuật PMI, sinh viên sẽ liệt kê các sẽ được chỉ định ngẫu nhiên vào một trong chín nhóm
    điểm mạnh, điểm yếu, những điểm hấp dẫn về vấn đề được ngành để phân tích các vấn đề kế toán có thể gặp phải
    đề cập. Điều này giúp sinh viên có thể tránh được việc xem trong thực tế do những người đang làm việc trong linh vực

    Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 57 – No. 1 (Feb 2021) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 153

  6. KINH TẾ XÃ HỘI P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619

    kế toán kiểm toán tạo ra. Những người đó bao gồm: 1 vì, khi các ứng dụng kế toán được tạo ra và cải tiến, máy
    trưởng nhóm kiểm toán từ Ernst & Young, 1 kiểm toán nhà tính sẽ làm thay con người các công việc mang tính kỹ
    nước, 1 giảng viên đại học, 1 kế toán trưởng của doanh thuật nghiệp vụ, còn tư duy sáng tạo và phê phán mới
    nghiệp và một số nhân viên khác từ các tổ chức này. Về cung cấp những kỹ năng được yêu cầu ở nơi làm việc trong
    công nghệ, email được sử dụng để trao đổi, sinh viên có thời đại công nghệ.
    thể tương tác với nhóm tác giả qua văn phòng nhóm ảo để
    chia sẻ thông tin, chuyển tệp dữ liệu. Các buổi họp cũng TÀI LIỆU THAM KHẢO
    được diễn ra như thực tế thông qua các phòng họp trực
    [1]. Lương Thị Yến,2019. Nâng cao chất lượng đào tạo ngành kế toán kiểm
    tuyến. Sinh viên được tham gia phỏng vấn, đặt câu hỏi cho
    toán trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
    của sinh viên dựa trên các tiêu chí: chất lượng, tính đầy đủ,
    [2]. American Psychological Association, 1993. Learnercentered psychological
    logic, sự phù hợp và tính khả thi của từng giải pháp mà sinh
    principles: Guidelines for school reform and restructuring.Washington.DC.
    viên đưa ra. Thực tế, sau khi hoàn thành khoá học, sinh viên
    American Psychological Association and the Midcontinent Regional Educational
    trong dự án thành công hơn khi bắt đầu phát triển sự
    Laboratory.
    nghiệp trong thế giới thực với nhiều vấn đề phức tạp và
    [3]. Andrews J.D.,PytlikB.P., 1984. Revision techniques for accountants: Means
    được đánh giá cao khi giải quyết các vấn đề kế toán phát
    for more effective communication. Issues in Accounting Education, 00, 152-163.
    sinh tại nơi làm việc.
    [4]. Archbald D. A., Newmann F. M.,1992 .Approaches to assessing academic
    6.7. Tranh luận achievement. In H. Berlak, F. M. Newmann, E. Adams, D. A. Archbald, T. Burgess,
    Các cuộc tranh luận cũng thúc đẩy tư duy phản biện J. Raven, T.A. Romberg, (Eds). Toward a new science of educational testing and
    của sinh viên. Trong lớp học, giảng viên có thể thiết kế một assessment(pp. 139-180). Albany, NY. State University of New York Press.
    tình huống về việc một kế toán viên bị buộc tội gian lận, [5]. Battista M. S.1978. The effect of instructional technology and learner
    sinh viên sẽ được cung cấp các thông tin để giải quyết tình characteristics on cognitive achievement in college accounting. Accounting
    huống dưới các vai trò khác nhau nhưng kế toán viên, kiểm Review,53,477-485.
    soát viên, thẩm phán, luật sư bào chữa, nhân chứng, nhà [6]. Beyer B. K.1988. Developing a thinking skills program. Boston, MA, Allyn
    cung cấp, khách hàng,… Trong thử nghiệm giả này, sinh & Bacon.
    viên có thể được khuyến khích để phân tích các mối quan [7]. Brooks J. G.1990. Teachers and students: Constructivists forging new
    hệ, suy luận logic, phân tích mức độ tin cậy của nguồn connections. Educational Leadership. 47,68-71.
    thông tin, tìm kiếm bằng chứng và tranh luận để ra quyết [8]. Bruer J. T.1993. Schools for thought: A science of learning in the
    định và phán quyết. classroom. Cambridge, MA. The MIT Press.
    7. KẾT LUẬN [9]. Davis G.A.1992. Creativity is forever (3rd ed.). Dubuque, Iowa.
    Mặc dù, các kỹ thuật tư duy có thể được sử dụng rộng Kendall/Hunt Publishing. de Bono, E.1994. de Bono’s thinking course. Revised
    rãi tại các lớp học kế toán, người hướng dẫn vẫn cần phải edition (2rd ed.).New York. Facts On File.
    lưu ý đến một số điểm sau. Thứ nhất, mặc dù các kỹ thuật [10]. Duffy T. M., Cunningham D. J.1996. Constructivism: Implications for the
    tư duy sáng tạo và phê phán có thể được sử dụng xuyên design and delivery of instruction.
    suốt môn học, người dạy có thể sẽ đưa chúng vào với mục [11]. Ennis R.1989. Critical thinking and subject specificity. Educational
    đích lấp đầy khoảng trống trong bài dạy của mình chứ Researcher, 18(3), 4-10.
    không phải để nó phát huy hiệu quả thực sự. Thứ hai, mỗi [12]. Newmann F. W., 1992. The prospects for classroom thoughtfulness in
    một kỹ thuật đề có những lợi ích và nhược điểm, và người high school social studies. In Bonk, C.J, Smith, G.S.,1998. Alternativeinstructional
    dạy phải nhận thức được điều đó. Ví dụ, nghiên cứu trường strategy for creative and critical thinking in the accounting curriculum. Journal of
    hợp thường được áp dụng quá mức sẽ gây tốn thời gian, Accounting Education, Vol 16, No 2, 216-293.
    không hiệu quả về nội dung, các tình huống dễ lặp đi lặp [13]. Bonk C.J, Smith G.S.,1998. Alternativeinstructional strategy for creative
    lại hoặc lỗi thời. Thứ ba, lợi ích của các kỹ thuật tư duy có and critical thinking in the accounting curriculum. Journal of Accounting
    thể không được thể hiện ngay lập tức trong các kỳ thi trên Education, Vol 16, No 2, 216-293.
    thực tế. Việc đánh giá kỹ năng tư duy của sinh viên là một [14]. Dương Hương,2019. Năm kỹ thuật rèn luyện tư duy sáng tạo.
    được chứng minh trong một số khoảng thời gian nhất định. [15]. FPT,2010. Phương pháp tư duy 6 chiếc mũ-chìa khoá giải quyết xung đột
    Trong khi phương pháp giảng dạy truyền thống tập ý kiến trong nhóm.
    trung vào việc trình bày thông tin, giảng viên theo phương [16]. Viện Doanh trí Văn Hiến, 2019. Kỹ năng tư duy sáng tạo và phản biện.
    pháp hiện đại sẽ tập trung xây dựng kỹ năng tư duy cho
    thử nghiệm các phương pháp hiện đại. Câu trả lời là hạn
    chế giảng dạy nghiệp vụ trong chương trình giảng dạy kế AUTHOR INFORMATION
    toán. Từ đó, sinh viên sẽ nhận thức định hướng nghề Nguyen Phuong Anh
    nghiệp hơn là những kỹ thuật tính toán trong kế toán. Bởi Faculty of Accouting – Auditing, Hanoi University of Industry

    154 Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 57 – Số 1 (02/2021) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn

Download tài liệu Áp dụng các kỹ thuật phát triển tư duy sáng tạo và tư duy phản biện trong xây dựng chương trình giảng dạy kế toán File Word, PDF về máy