[Download] Tải Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30 – Tải về File Word, PDF

Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30

Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30
Nội dung Text: Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30

Download


Bài báo là một sự bổ sung cho khoảng trống nghiên cứu đó. Nghiên cứu dựa theo lý thuyết định giá chênh lệch phát triển bởi Ross (1976) để đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi không kỳ vọng của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến lợi tức của chỉ số VN30. Phương pháp bình phương nhỏ nhất với sai số chuẩn HAC theo cách của Newey và West (1987) được sử dụng để ước lượng các mô hình trong nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu cho thấy liên quan đến lợi tức của chỉ số VN30, thay đổi không kỳ vọng của lạm phát và tỷ giá ảnh hưởng âm, thay đổi không kỳ vọng của tỷ số S&P 500 ảnh hưởng dương, thay đổi không kỳ vọng của tăng trưởng sản xuất công nghiệp và cấu trúc kỳ hạn của lãi suất không ảnh hưởng. Kết quả của nghiên cứu là một sự tham khảo có giá trị đối với những nhà đầu tư và quản lý các quỹ chỉ số có tài sản cơ sở là chỉ số VN30.

Bạn đang xem: [Download] Tải Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30 – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30 File Word, PDF về máy

Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30

  1. ISSN: 1859-2171 TNU Journal of Science and Technology 225(07): 400 – 404
    e-ISSN: 2615-9562

    ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ
    LÊN LỢI TỨC CỦA CHỈ SỐ VN30
    Hoàng Văn Hải
    Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – ĐH Thái nguyên

    TÓM TẮT
    VN30 là một trong số các chỉ số quan trọng nhất để đánh giá sức khỏe của nền kinh tế. Tuy nhiên
    trong những năm gần đây, có một sự thiếu hụt những nghiên cứu đánh giá một cách đầy đủ mức
    độ ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô cơ bản đối với sự biến động của chỉ số này. Bài báo là
    một sự bổ sung cho khoảng trống nghiên cứu đó. Nghiên cứu dựa theo lý thuyết định giá chênh
    lệch phát triển bởi Ross (1976) để đánh giá ảnh hưởng của sự thay đổi không kỳ vọng của các
    nhân tố kinh tế vĩ mô đến lợi tức của chỉ số VN30. Phương pháp bình phương nhỏ nhất với sai số
    chuẩn HAC theo cách của Newey và West (1987) được sử dụng để ước lượng các mô hình trong
    nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu cho thấy liên quan đến lợi tức của chỉ số VN30, thay đổi
    không kỳ vọng của lạm phát và tỷ giá ảnh hưởng âm, thay đổi không kỳ vọng của tỷ số S&P 500
    ảnh hưởng dương, thay đổi không kỳ vọng của tăng trưởng sản xuất công nghiệp và cấu trúc kỳ
    hạn của lãi suất không ảnh hưởng. Kết quả của nghiên cứu là một sự tham khảo có giá trị đối với
    những nhà đầu tư và quản lý các quỹ chỉ số có tài sản cơ sở là chỉ số VN30.
    Từ khóa: Tài chính; lạm phát; tỷ giá; tăng trưởng sản xuất công nghiệp; cấu trúc kỳ hạn của lãi
    suất; S&P 500; VN30.

    Ngày nhận bài: 30/4/2020; Ngày hoàn thiện: 05/6/2020; Ngày đăng: 23/6/2020

    IMPACTS OF MACROECONOMIC FACTORS
    ON VN30 INDEX’ S RATE OF RETURN
    Hoang Van Hai
    TNU – University of Economic and Bussiness Administration

    ABSTRACT
    VN30 is one of the most important indexes to judge the economy‟s health. However, there is a
    shortage of researches comprehensively assessing the degree of influence of fundamental
    macroeconomic factors on the index‟s fluctuation in recent years. The paper is an complement for
    that researching gap. The research follows arbitrage theory developed by Ross (1976) to judge the
    impact of unexpected changes of macroeconomic factors on VN30 index „s rate of return. The
    ordinary least square with standard errors HAC following Newey và West (1987) is used to
    estimate models in the research. The result indicates that regarding to VN30 index„s rate of return,
    unexpected changes of inflation and exchange rate are negatively related, unexpected of S&P 500
    index is positively related, unexpected changes of industrial production growth and term structure
    have no influence. These findings are a valuable reference for investors and managers of exchange
    traded funds taking the index as the basic asset.
    Keywords: Finance; inflation; exchange rate; industrial production growth; term structure;
    S&P500; VN30.

    Received: 30/4/2020; Revised: 05/6/2020; Published: 23/6/2020

    Email: hoanghai@tueba.edu.vn

    400 http://jst.tnu.edu.vn; Email: jst@tnu.edu.vn

  2. Hoàng Văn Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(07): 400 – 404

    1. Giới thiệu xung lượng/ động lượng (momentum) hay
    Cùng với sự tăng trưởng cao của nền kinh tế ngành sản xuất (Ví dụ, xem [7] – [9]). Điều này
    và sự hội nhập sâu, rộng của đất nước với nền có lợi đối với nhà đầu tư có sự quan tâm đến cổ
    kinh tế thế giới thì thị trường chứng khoán phiếu dựa trên những thuộc tính nêu trên nhưng
    Việt Nam đang thu hút được sự quan tâm của lại cung cấp ít thông tin với những nhà đầu tư
    các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Các công và những nhà quản lý các các quỹ chỉ số nơi mà
    cụ tài chính để các nhà đầu tư tìm kiếm lợi lợi nhuận luôn phụ thuộc vào sự biến động của
    nhuận cũng như phòng ngừa rủi ro theo sự một chỉ số chính nào đó trên thị trường chứng
    phát triển của thị trường cũng ngày một khoán. Với những nghiên cứu khác (Ví dụ, xem
    phong phú. Trong đó không thể không kể đến [4], [5]) tuy biến phụ thuộc là lợi tức của chỉ số
    sự ra đời của các quỹ chỉ số ETF (exchange thị trường VNINDEX, tuy nhiên sẽ không lý trí
    trade fund). Trong số các chỉ số được cung nếu nhà đầu tư hoặc nhà quản lý quỹ chỉ số lấy
    cấp bởi sở giao dịch chứng khoán thành phố VN30 làm tài sản cơ sở lại căn cứ vào chỉ số
    Hồ Chí Minh (HOSE) thì VN30 là một trong VNINDEX để ra quyết định, cái họ cần là
    số những chỉ số quan trọng nhất vì nó là tài những thông tin liên quan đến chỉ số VN30.
    sản cơ sở cho những quỹ chỉ số (ETF) và phái Xuất phát từ những vấn đề trên, nghiên cứu
    sinh chỉ số ở hiện tại cũng như trong tương tập trung vào phân tích ảnh hưởng của biến
    lai. Sự biến động của tỷ số này liên quan đến động không kỳ vọng đến từ lạm phát, tỷ giá,
    những rủi ro của các nhân tố kinh tế vĩ mô là tăng trưởng của sản xuất công nghiệp, cấu
    mối quan tâm của nghiên cứu. trúc kỳ vọng của lãi suất, và chỉ số S&P 500
    Ảnh hưởng rủi ro của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến lợi tức của chỉ số VN30. Kết quả của
    lên lợi tức của cổ phiếu/danh mục đầu tư đã nghiên cứu là một sự tham khảo có giá trị đối
    nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu với những nhà đầu tư và quản lý các quỹ chỉ
    trong nhiều thập kỷ kể từ khi Ross (1976) [1] số có tài sản cơ sở là chỉ số này.
    phát triển lý thuyết định giá chênh lệch APT. Kết quả của nghiên cứu cho thấy liên quan đến
    Theo đó thì APT cung cấp một khung lý thuyết lợi tức của chỉ số VN30, thay đổi không kỳ
    giải thích lợi tức kỳ vọng của một tài sản ở điều vọng của lạm phát và tỷ giá ảnh hưởng âm,
    kiện cân bằng như là một hàm tuyến tính của rủi thay đổi không kỳ vọng của tỷ số S&P 500 ảnh
    ro của tài sản với một tập hợp các nhân tố đại hưởng dương, thay đổi không kỳ vọng của
    diện cho các rủi ro của thị trường. Trong bài tăng trưởng sản xuất công nghiệp và cấu trúc
    báo, tác giả không định rõ đó là nhân tố nào tuy kỳ vọng của lãi suất không ảnh hưởng.
    nhiên chúng ta có thể tìm thấy một tập hợp các Cấu trúc của bài báo như sau: Trong mục 2,
    nhân tố này ở các nghiên cứu có liên quan. tác giả miêu tả mô hình và phương pháp ước
    Theo các nghiên cứu [2]-[4] thì biến động của lượng tưng ứng, cách ước lượng giá trị kỳ
    lạm phát có ảnh hưởng đến lợi tức của tài sản. vọng của các biến giải thích và nguồn gốc của
    Nghiên cứu của [2], [4], [5] chỉ ra rằng rủi ro số liệu. Kết quả nghiên cứu được trình bày
    của tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến lợi tức của trong mục 3. Mục 4 là kết luận.
    cổ phiếu. Biến động của tăng trưởng sản xuất 2. Phương pháp nghiên cứu
    công nghiệp được [3], [6] chỉ ra là có ảnh
    2.1. Mô hình
    hưởng đến lợi tức của danh mục đầu tư. Lãi suất
    ngắn hạn chỉ số Nikkei và MSC được [4] chỉ ra Theo tinh thần của lý thuyết định giá chênh
    là có ảnh đến lợi tức của chỉ số VNINDEX. Với lệch APT (Arbitrage pricing theory) được đề
    các nghiên cứu được tiến hành tại Việt Nam, xuất bởi Ross (1976), mô hình hồi quy trong
    một số sử dụng biến phụ thuộc là những danh nghiên cứu như sau1:
    mục đầu tư bao gồm các cổ phiếu nhóm lại với
    nhau dựa trên những tiêu chí có tính công ty
    như giá trị thị trường (market value), giá trị sổ 1
    Tác giả sẽ cung cấp tài liệu chứng minh sự phù hợp
    sách trên giá trị thị trường (book to market), của mô hình và các biến theo yêu cầu

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: jst@tnu.edu.vn 401

  3. Hoàng Văn Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(07): 400 – 404

    Biến phụ thuộc là R được định nghĩa là lợi được tính bằng hiệu của cấu trúc kỳ hạn của
    tức của chỉ số VN30 ở cuối tháng t và được lãi suất quan sát ở tháng t trừ đi giá trị kỳ
    tính như sau: R(t)= 100*(lnVN30(t)- vọng của nó ở cuối tháng t-1. Nhân tố kinh tế
    lnVN30(t-1)). Trong đó VN30(t) và VN30(t- vĩ mô này cung cấp thông tin dự báo về chu
    1) lần lượt là giá trị quan sát của chỉ số VN30 kỳ của nền kinh tế (Ví dụ, xem [3], [6], [7]).
    ở cuối tháng t và t-1. Trong nghiên cứu của Anh và Hải [4] các
    UI được định nghĩa là sự thay đổi không kỳ biến lãi suất ngắn hạn và mức cung tiến M2
    vọng (không dự đoán được) của lạm phát và được đưa vào mô hình hồi quy với vai trò là
    được tính bằng hiệu của giá trị lạm phát quan các biến giải thích, tuy nhiên điều này dường
    sát ở tháng t trừ đi giá trị kỳ vọng của nó ở như không hợp lý. Ngân hàng trung ương
    cuối tháng t-1. tăng (giảm) mức cung tiền M2 để nhằm giảm
    FX được định nghĩa là sự thay đổi không theo (tăng) lãi suất ngắn hạn với mục tiêu kích
    kỳ vọng (không dự đoán được) của tỷ giá hối thích (giảm nhiệt) tăng trưởng kinh tế. Nhà
    đoái của đồng Việt Nam so với đồng đô la đầu tư căn cứ vào việc tăng giảm này để đưa
    Mỹ và được tính bằng hiệu của tỷ giá quan sát ra những dự báo về sức khỏe nền kinh tế ở
    trung bình ở tháng t trừ đi giá trị kỳ vọng của những giai đoạn tiếp theo. Do đó M2 được
    nó ở cuối tháng t-1. xem là một trong những chỉ số dự báo về chu
    kỳ của nền kinh tế (Ví dụ, xem thêm [10]).
    MP được định nghĩa là sự thay đổi không
    Tuy nhiên liên quan đến vấn đề này thì cấu
    theo kỳ vọng (không dự đoán được) của tốc
    trúc về lãi suất thường được các nghiên cứu
    độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp và
    sử dụng (Ví dụ, xem [2], [3], [7]) thay vì mức
    được tính bằng hiệu của tốc độ tăng trưởng
    cung tiền M2 và lãi suất ngắn hạn theo đó sự
    quan sát ở tháng t trừ đi giá trị kỳ vọng của nó
    tăng (giảm) của cấu trúc này là điềm báo cho
    ở cuối tháng t-1. Biến này cho biết về thực tín hiệu xấu (tốt) của sức khỏe nền kinh tế.
    trạng của nền kinh tế (Ví dụ, xem [3], [6]). Do đó bài bào chọn đưa biến này vào mô hình
    US&P500 là thay đổi không theo kỳ vọng còn M2 và lãi suất ngắn hạn chỉ được đưa vào
    (không đoán được) của chỉ số S&P 500 trong mô hình như là một cách để kiểm tra tính bền
    tháng t được tính bằng hiệu của giá trị quan vững của nó.
    sát của chỉ số ở cuối tháng t trừ đi giá trị kỳ Liên quan đến cách tính giá trị kỳ vọng của
    vọng của nó ở cuối tháng t-1. Xuất phát từ các biến, các chuỗi thời gian theo tháng của
    thực tế về tầm ảnh hưởng của thị trường tài lạm phát, M2, tỷ giá và S&P500 là không
    chính Mỹ lên các thị trường tài chính toàn cầu dừng nên nghiên cứu sử dụng giá trị quan sát
    và S&P 500 là một trong số những công cụ của biến ở tháng t-1 là giá trị kỳ vọng của nó
    tin cậy để đo sức khỏe của thị trường này, kết ở tháng t, như vậy US&P500 được tính bởi
    hợp với sự tham khảo nghiên cứu của [4], tác công thức US&P500(t) = 100*(lnS&P500(t)-
    giả đã đưa chỉ số này vào mô hình để đánh lnS&P500(t-1)) trong đó S&P500(t) và
    giá sự ảnh hưởng của những biến động của thị S&P500 (t-1) lần lượt là giá trị quan sát của
    trường chứng khoán Mỹ đến sự biến động của chỉ số S&P500 ở cuối tháng t và t-1. Còn với
    chỉ số VN30. các biến lãi suất ngắn hạn, tăng trưởng của
    DTERM được định nghĩa là sự thay đổi sản xuất công nghiệp, và cấu trúc kỳ hạn của
    không theo kỳ vọng (không dự đoán được) lãi suất là các chuỗi thời gian dừng nên để
    của cấu trúc kỳ hạn của lãi suất2. Biến này ước lượng giá trị kỳ vọng của chúng, nghiên
    cứu sử dụng mô hình AR(1).
    2
    Hiệu số giữa lợi tức của trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 Để ước lượng các mô hình hồi quy, phương
    năm và 3 tháng, tuy nhiên ở Việt Nam, do không có trái pháp bình phương nhỏ nhất được sử dụng với
    phiếu chính phủ kỳ hạn 3 tháng nên kỳ hạn 1 năm được
    dùng để thay thế. sai số chuẩn được điều chỉnh cho phương sai
    402 http://jst.tnu.edu.vn; Email: jst@tnu.edu.vn

  4. Hoàng Văn Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(07): 400 – 404

    sai số thay đổi và tự tương quan theo cách của chỉ số lấy hai chỉ số này làm tài sản cơ bản
    Newey và West (1987). không nên được xếp vào cùng một danh mục
    2.2. Dữ liệu đầu tư với mục đích giảm thiểu rủi ro.
    Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trong giai đoạn từ Hệ số ước lượng của DTERM âm không có ý
    01/2013 đến 12/2019. Dữ liệu về chỉ số VN30 nghĩa thống kê, điều này cho thấy sự thay đổi
    và S&P 500 (giá trị cuối trong tháng), lãi suất không theo kỳ vọng của chu kỳ kinh tế trong
    của trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm và 1 ngắn hạn là không ảnh hưởng đến chỉ số
    năm được lấy từ trang web của Fusion Media VN30. Nhà đầu tư có thể cần có thời gian để
    Limited. Dữ liệu về lạm phát, tỷ giá bình khẳng định “sức khỏe” của nền kinh tế.
    quân trong tháng của đồng Việt Nam so với Khi đưa vào mô hình (1) thêm 2 biến là thay
    đô la Mỹ, tốc độ tăng trưởng của sản xuất đổi không kỳ vọng của mức cung tiền DM2
    công nghiệp, mức cung tiền M2 và lãi suất và lãi suất ngắn hạn DIR ta thấy giá trị và
    ngắn hạn được lấy từ trang web của CEIC. mức ý nghĩa thống kê của các biến giải thích
    3. Kết quả trong mô hình ban đầu thay đổi không lớn và
    giữ nguyên dấu3. Giá trị ước lượng của các
    Kết quả ước lượng mô hình (1) được cho ở
    biến thêm vào DM2 và DIR là không có ý
    bảng 1. Theo đó hệ số ước lượng của UI âm
    nghĩa thống kê. Có thể trong dài hạn chúng sẽ
    và có ý nghĩa thống kê mạnh (prob < 0,05).
    có tác động nhưng trong ngắn hạn thì chưa có
    Kết quả này cho thấy khi UI tăng (giảm) thì R
    đủ bằng chứng để khẳng định sự hiện diện
    sẽ giảm (tăng). Như vậy sự không chắc chắn
    của những tác động đó.
    của lạm phát sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến lợi
    Bảng 1. Kết quả ước lượng của các mô hình hồi quy
    tức của chỉ số VN30 do đó chỉ số này không
    thể dùng như là một công cụ phòng ngừa rủi Hệ số ước lượng và (prob)
    ro đối với lạm phát. Biến
    Mô hình ban Mô hình khi thêm
    Hệ số ước lượng của FX âm và có ý nghĩa đầu DM2 và DIR
    thống kê yếu (0,05 < prob < 0,1). Kết quả này C
    0.603517 0.484849
    cho thấy khi FX tăng (giảm) thì R sẽ giảm (0.3760) (0.5097)
    -2.449527*** -2.475120***
    (tăng). Như vậy việc tăng của tỷ giá sẽ ảnh UI
    (0.0036) (0.0060)
    hưởng tiêu cực đến lợi tức của chỉ số VN30. -0.018099* -0.018405*
    FX
    Như vậy chỉ số này không thể dùng như là (0.0693) (0.0656)
    một công cụ phòng ngừa rủi ro đến từ sự yếu 0.024027 0.020744
    MP
    (0.6006) (0.6602)
    đi của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ.
    -0.477414 -0.551371
    DTERM
    Hệ số ước lượng của MP là dương và không (0.4860) (0.3816)
    có ý nghĩa thống kê. Điều này cho thấy lợi tức 0.416670** 0.396321**
    US&P500
    của chỉ số VN30 trong ngắn hạn không bị chi (0.0103) (0.0105)
    4.66E-05
    phối bởi sự thay đổi bất ngờ của yếu tố có DM2
    (0.7706)
    tính thực kinh tế (real economy) như là tăng -0.634692
    DIR
    trưởng kinh tế. (0.4676)
    Adj R2 0.191994 0.178199
    Hệ số ước lượng của US&P 500 dương và có
    4.896871*** 3.540124***
    ý nghĩa thống kê mạnh (prob < 0,05). Kết quả F-test
    (0.000607) (0.002440)
    này cho thấy khi US&P 500 tăng (giảm) thì R Durbin-
    1.806084 1.822527
    sẽ tăng (giảm). Như vậy những bất ngờ tích Watson
    cực (tiêu cực) liên quan đến chỉ số S&P 500 (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
    có ảnh hưởng tích cực (tiêu cực) đến lợi tức
    của chỉ số VN30. Do đó cổ phiếu của các quỹ 3
    Cách tính DM2 và DIR tương tự như các biến khác
    http://jst.tnu.edu.vn; Email: jst@tnu.edu.vn 403

  5. Hoàng Văn Hải Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN 225(07): 400 – 404

    4. Kết luận [2]. W. Bailey, “Risk and return in the Philippine
    equity market: A multifactor exploration,”
    Nghiên cứu đã áp dụng lý thuyết định giá Pacific-Basin Finance Journal, vol. 4, pp.
    chênh lệch để đánh giá sự ảnh hưởng của thay 197-218, 1996.
    đổi không kỳ vọng của các nhân tố kinh tế vĩ [3]. N. F. Chen, R. Roll, and S. A. Ross,
    mô đến lợi tức của chỉ số VN30. Các nhân tố “Economic forces and the stock market,”
    Journal of Business, vol. 59, no. 3, pp. 383-
    này là lạm phát, tỷ giá, tăng trưởng của sản 403, Jul 1986.
    xuất công nghiệp, cấu trúc kỳ hạn của lãi suất, [4]. T. T. A. Vo, and T. H. Nguyen, “Researching
    và chỉ số S&P500. Kết quả của nghiên cứu impacts of macro factors on return rate of
    cho thấy liên quan đến lợi tức của chỉ số stocks listed on HSX,” Journal of Economic
    VN30, thay đổi không kỳ vọng của lạm phát Development, vol. 275, no. 9, pp. 16-27,
    Sep 2013.
    và tỷ giá ảnh hưởng âm, thay đổi không kỳ [5]. P. K. Narayan, and S. Narayan, “Modelling
    vọng của tỷ số S&P 500 ảnh hưởng dương, the impact of oil prices on Vietnam‟s stock
    thay đổi không kỳ vọng của tăng trưởng sản prices,” Applied Energy, vol. 87, pp. 356-
    xuất công nghiệp và cấu trúc kỳ hạn của lãi 361, 2010.
    [6]. K. Aretz, S. M. Bartram, and P. F. Pope,
    suất không ảnh hưởng. Như vậy nhà đầu tư
    “Macroeconomic risks and characteristic-
    không nên dùng chỉ số VN30 như là một công based factor models,” Journal of Banking &
    cụ phòng ngừa rủi ro đến từ lạm phát và sự Finance , vol. 34, pp. 1383-1399, 2010.
    yếu đi của đồng Việt Nam so với đô la Mỹ. [7]. T. Q. Vo, and T.N. L. Dang, “Macroeconomic
    Ngoài ra cổ phiếu của các quỹ chỉ số lấy hai factors and stock prices-A case of real estate
    stocks on Ho Chi Minh stock exchange,”
    chỉ số VN30 và S&P 500 làm tài sản cơ bản Journal of Science Ho Chi Minh City Open
    không nên được xếp vào cùng một danh mục University, vol. 2, no. 18, pp. 63-75, 2016.
    đầu tư với mục đích giảm thiểu rủi ro. Về mặt [8]. A. P. Nguyen, and V. H. Tran, “Applying
    quản lý vĩ mô, chính phủ cần chú trọng đến Fama and French three factors model and
    capital asset pricing model in the stock
    ổn định lạm phát và tỷ giá vì sự phát triển bền
    exchange of Vietnam,” International
    vững của nền kinh tế và thị trường chứng Research Journal of Finance and Economics,
    khoán, một kênh huy động vốn quan trọng vol. 95, pp. 116-120, 2012.
    của doanh nghiệp. [9]. A. P. Nguyen, “Pricing model with liquidity
    risk in Vietnam‟s stock market,” International
    TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES Research Journal of Finance and Economics,
    [1]. S. A. Ross, “The arbitrage theory of capital vol. 152, pp. 39-45, 2016.
    asset pricing,” Journal of Economic Theory, [10]. CFA Institute, Economics level 1, pp. 238,
    vol. 13, pp. 341-360, 1976. 2017.

    404 http://jst.tnu.edu.vn; Email: jst@tnu.edu.vn

Download tài liệu Ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên lợi tức của chỉ số VN30 File Word, PDF về máy