[Download] Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh – Tải về File Docx, PDF

Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh

Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh
Nội dung Text: Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh

Download


Bài viết tiến hành một nghiên cứu về tác động của việc học tập trực tuyến khác nhau của sinh viên tại các trường đại học. Nghiên cứu này đặc biệt bàn luận về những nỗ lực của nhà trường để thực hiện các lớp học trực tuyến bao gồm đánh giá chủ quan và khách quan, trải nghiệm học tập và sự quan tâm của sinh viên khi tham dự các lớp học trực tuyến.

Bạn đang xem: [Download] Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh File Docx, PDF về máy

Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh

  1. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI DỊCH SARS-CoV-2
    ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH

    THE IMPACT OF THE SARS-CoV-2 PANDEMIC
    FOR EDUCATIONAL ACTIVITIES AT TRA VINH UNIVERSITY

    TS. Nguyễn Văn Nguyện1

    Tóm tắt – Đại dịch SARS-CoV-2 đã làm đình chỉ mọi hoạt động của các
    trường cao đẳng và đại học trên toàn cầu. Lệnh phong tỏa không những làm ảnh
    hưởng đến hệ thống giáo dục và đào tạo tại Trường Đại học Trà Vinh mà còn ảnh
    hưởng đến khả năng tương thích của người học. Lệnh phong tỏa đã khiến việc
    giảng dạy diễn ra dưới hình thức trực tuyến, với quy mô chưa từng có. Trong
    tham luận này, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu về tác động của việc học tập
    trực tuyến khác nhau của sinh viên tại các trường đại học. Nghiên cứu này đặc
    biệt bàn luận về những nỗ lực của nhà trường để thực hiện các lớp học trực tuyến
    bao gồm đánh giá chủ quan và khách quan, trải nghiệm học tập và sự quan tâm
    của sinh viên khi tham dự các lớp học trực tuyến. Nghiên cứu được thực hiện
    bằng cách thu thập các câu trả lời từ sinh viên cả trong và ngoài nước ở cấp đại
    học và sau đại học. Các câu trả lời được thu thập từ các khoa khác nhau để đánh
    giá sự tương đồng và khác biệt đáng kể giữa các hình thức học tập truyền thống
    và trực tuyến. Nghiên cứu đi phân tích kết quả và thời gian học tập,… và đưa ra
    các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng học tập trực tuyến.
    Từ khóa: đại dịch SARS-CoV-2, giáo dục trực tuyến, Trường Đại học
    Trà Vinh.
    1. MỞ ĐẦU
    Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã có văn bản yêu cầu các Sở GDĐT, cơ
    sở giáo dục đại học thực hiện một số nội dung nhằm đảm bảo an ninh, an toàn
    trong dạy và học trực tuyến. Học trực tuyến là sự chuyển đổi từ các lớp học mặt
    đối mặt thông thường [1]. Hệ thống giáo dục cứng nhắc đã thất bại trong việc
    chuẩn bị cho sinh viên học tập sau khủng hoảng, tuy nhiên, quá trình chuyển đổi
    nhanh chóng và dễ dàng hơn. Nhiều nỗ lực được thực hiện trong giai đoạn hậu
    phong tỏa này để thúc đẩy việc áp dụng các lớp học trực tuyến hỗ trợ việc học tập.
    Những nỗ lực nhanh chóng như vậy trong khoảng thời gian ngắn hơn đã cho phép

    1
    Viện Phát triển Nguồn Nhân lực – Trường Đại học Trà Vinh; Email:
    nguyenvannguyenrdi@tvu.edu.vn
    203

  2. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    việc giáo dục không gây sức ép cho học sinh và chính điều này đã vạch ra nhiệm
    vụ rõ ràng hơn bao giờ hết. Các lớp học trực tuyến được thay vào như một người
    bạn đồng hành không thể thiếu để giải quyết điểm yếu trên một lộ trình học tập
    đồng nhất phù hợp với tất cả trong việc cải thiện kết quả học tập [2].
    Điểm khác biệt duy nhất là việc sinh viên và giảng viên áp dụng công nghệ
    vào dạy và học, tuy nhiên, những khía cạnh khác vẫn giữ nguyên. Hơn hẳn các
    lớp học truyền thống, lợi thế của các lớp học trực tuyến bao hàm cả tính linh hoạt
    [3] và việc truyền tải theo địa lí đến mọi nơi ngay lập tức. Tính năng điểm danh tự
    động làm phong phú thêm hoạt động trải nghiệm học tập và hợp tác [4] giữa giáo
    viên và học sinh trên cả nước. Các lớp học trực tuyến cung cấp nhiều công cụ giao
    tiếp hơn bao gồm trò chuyện, nhóm, diễn đàn thảo luận, kênh truyền thông xã hội
    và liên lạc đa phương tiện. Sinh viên có thể học thông qua nhiều thiết bị khác
    nhau như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính xách tay và các thiết bị
    thông minh khác.
    Một số chiến lược được áp dụng cho giảng dạy trực tuyến, đánh giá quá
    trình và các kì thi trong hệ thống giáo dục trực tuyến, giúp giáo viên và học sinh
    áp dụng nhanh hơn và dễ dàng hơn. Các lớp học trực tuyến phát triển gắn với
    công nghệ truyền thông và thông tin đảm bảo đã cải thiện việc tiếp thu và phát
    triển kiến thức và kĩ năng ở nhiều vùng xa xôi hẻo lánh.
    Trong tham luận này, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu về tác động hoặc
    ảnh hưởng của các trải nghiệm học tập trực tuyến khác nhau của sinh viên trong
    các trường đại học. Nghiên cứu này đặc biệt bàn luận về những nỗ lực của các
    trường để thực hiện các lớp học trực tuyến bao gồm đánh giá chủ quan và khách
    quan, trải nghiệm học tập và sự quan tâm của họ khi tham dự các lớp học trực
    tuyến.
    2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    Nghiên cứu hiện tại xem xét mô hình học tập trực tuyến tại Trường Đại học
    Trà Vinh, thỏa mãn các loại hình nghiên cứu trực tuyến bao gồm: loại hỗ trợ trực
    tuyến, đào tạo đồng bộ, đào tạo không đồng bộ và đào tạo kết hợp. Loại đầu tiên
    là cơ sở kiến thức cho sinh viên với diễn đàn web, diễn đàn thảo luận và hỗ trợ về
    nhiều chủ đề. Loại thứ hai cho phép giáo viên cung cấp đánh giá quá trình học của
    sinh viên hằng ngày bằng cách không theo thời gian thực. Loại thứ ba cho phép
    sinh viên tham gia vào các lớp học theo thời gian thực, giảng viên giảng bài phát
    trực tiếp bằng cách sử dụng máy chủ chương trình. Loại này cho phép sinh viên
    đăng kí trước và tham gia vào các lớp học, đồng thời được ghi nhận điểm danh
    tham dự hằng ngày, được trả lời vấn đáp và tương tác trực tiếp với giảng viên.
    Việc đào tạo không đồng bộ cung cấp sự hỗ trợ hoặc cơ sở cho tất cả các phương
    thức học tập trực tuyến khác. Cuối cùng, Trường hỗ trợ đào tạo kết hợp, đó là nỗ
    lực kết hợp giữa tương tác trực tiếp và tương tác trực tuyến.

    204

  3. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Môi trường lớp học trực tuyến cung cấp với các phương tiện Internet thích
    hợp, liên lạc văn bản/âm thanh/video để giúp cho sinh viên trong việc học tập.
    Lớp học trực tuyến là một bản sao của lớp học truyền thống thông thường theo
    cách thức kĩ thuật số. Trong lớp học này, giảng viên được phép hướng dẫn và sinh
    viên tham gia vào cùng thời gian thực thông qua các thiết bị hỗ trợ Internet. Lớp
    học trực tuyến vẫn bảo toàn giống với các lớp học truyền thống bao gồm bảng
    trắng, khả năng trình chiếu video, điểm danh, thảo luận, nêu ý tưởng và thảo luận
    góp ý trong thời gian thực. Nó cho phép các giảng viên tiến hành các bài kiểm tra
    trong thời gian thực xác định trước/sau các bài học với các báo cáo được tạo sẵn
    của những người tham dự, tức là các sinh viên.
    Toàn bộ nghiên cứu được thực hiện dưới dạng phân tích nhân tố [5]-[8] liên
    quan đến việc phân tích lớp học trực tuyến trong việc phát triển khả năng và kĩ
    năng học tập của học sinh. Nghiên cứu thu thập bảng câu hỏi và chuyển đổi thang
    đo năm điểm Likert thành các biến số từ cao nhất đến thấp nhất. Các biến sau đó
    được giảm xuống thành các yếu tố nổi bật và phân tích nhân tố được thực hiện
    bằng phương pháp phân tích thành phần chính tìm ra các yếu tố cần thiết để phát
    triển các kiến thức và kĩ năng của học sinh thông qua các lớp học trực tuyến.
    Nghiên cứu xem xét một số biến bao gồm: (1) Lí do tham gia học tập trực
    tuyến; (2) Làm thế nào để truy cập vào lớp học trực tuyến; (3) Khó khăn về mặt kĩ
    thuật trong học tập trực tuyến; (4) Khó khăn khi nộp bài tập trực tuyến; (5) Tính
    linh hoạt của người tham gia trong các phương thức học tập; (6) Mức độ sử dụng
    lớp học trực tuyến theo sinh viên trong các trường hợp khác nhau; (7) Mức độ hài
    lòng về các lớp học trực tuyến [9]; (8) Nhận thức tương lai của sinh viên về lớp
    học trực tuyến; (9) Hiệu quả của lớp học trực tuyến đối với sinh viên dựa trên các
    đánh giá chủ quan và khách quan theo quan điểm của giảng viên.
    3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
    Bảng 1 cho thấy rằng số người trả lời nhiều nhất trong nghiên cứu này là
    sinh viên và một số ít là giảng viên. Từ Bảng 2, chúng ta nhận thấy rằng hầu hết
    các sinh viên (n = 1044) đã dành hơn bốn tiếng cho các lớp học trực tuyến và một
    số người trả lời (n = 700) trong vòng 4 tiếng và tỉ lệ rất ít cho số giờ là 3, 2 và 1
    tiếng. Bảng 3 chỉ ra rằng hầu hết những người trả lời đều hài lòng với các chủ đề
    được lựa chọn trong nghiên cứu, hài lòng với cách các giảng viên truyền tải bài
    học, hài lòng với sáng kiến lớp học trực tuyến của Trường và dành thời gian của
    họ để có trải nghiệm học tập tốt hơn. Bảng 4 thể hiện rằng phần lớn người trả lời
    sử dụng điện thoại thông minh và máy tính bảng, tuy nhiên, càng bất ngờ hơn khi
    chỉ một số sinh viên sử dụng máy tính bàn và máy tính xách tay. Từ Bảng 5, hầu
    hết các vấn đề phổ biến trong lớp học trực tuyến là việc kết nối âm thanh/video và
    kết nối Internet kém. Gần một nửa số người được hỏi đã nêu các vấn đề với việc
    đăng nhập vào cổng thông tin và một số khác đề cập về các tính năng tương tác.
    Tuy nhiên, hầu hết những người trả lời đã không gặp khó khăn tại thời điểm được

    205

  4. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    hỏi (tức là vài ngày sau khi áp dụng với toàn bộ môi trường lớp học trực tuyến).
    Ngoài ra, từ Bảng 6, hầu hết các sinh viên đều gặp khó khăn trong việc nộp các
    bài tập trực tuyến thông qua cổng thông tin học tập từ xa. Trong giai đoạn đầu của
    lớp học trực tuyến (mà hầu hết được thông qua sớm hơn lớp học trực tuyến như
    trong Bảng 8) thì Bảng 7 cho thấy cách học trực tiếp có mức độ linh hoạt cao hơn
    và việc nhận thức tiếp tục giảm nhẹ khi các sinh viên tiếp tục trải nghiệm bản chất
    thực của trải nghiệm lớp học trực tuyến. Cuối cùng, một nửa số người được hỏi đã
    ghi nhận rằng cả nền tảng học tập trực tuyến và trực tiếp đều đủ giá trị để học
    trong suốt thời gian bị đình chỉ như trong Bảng 8 đề cập. Người ta thấy rằng các
    sinh viên có mức độ hài lòng trên lớp học trực tuyến là cao (Bảng 9) và hầu hết
    trong số họ sẽ sử dụng nó cho việc học tập trong tương lai (Bảng 10).
    Bảng 1: Đối tượng trả lời được cân nhắc trong nghiên cứu

    Đối tượng Số câu trả lời

    Giảng viên 100

    Sinh viên 2055

    Tổng cộng 2155

    Dữ liệu 1: Đối tượng trả lời được cân nhắc trong nghiên cứu

    206

  5. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 2: Tổng số giờ dành cho các lớp học trực tuyến

    Số giờ Số câu trả lời

    1 68

    2 103

    3 240

    4 700

     4 1044

    Tổng cộng 2155

    Bảng 3: Lí do tham gia các lớp học trực tuyến

    Sáng kiến Tiêu hao thời
    Mức độ Chủ đề Giảng viên
    học thuật gian cá nhân

    Rất cao 219 251 294 417

    Cao 1248 1283 1170 1308

    Trung bình 541 494 541 315

    Thấp 117 103 12 7 98

    Rất thấp 30 24 23 17

    Tổng cộng 2155 2155 2155 2155

    207

  6. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 4: Làm thế nào để truy cập vào lớp học trực tuyến

    Máy tính Điện thoại
    Mức độ Máy tính bàn Máy tính bảng
    xách tay thông minh

    Rất cao 95 470 733 110

    Cao 267 722 1136 265

    Thấp 153 107 106 149

    Trung bình 1470 772 154 1459

    Rất thấp 170 84 26 172

    Tổng cộng 2155 2155 2155 2155

    Bảng 5: Khó khăn về mặt kĩ thuật trong phương thức học trực tuyến

    Không thể sử
    Vấn đề đăng dụng tính năng
    Âm thành/ Không
    nhập vào các Sự cố kết tương tác như hộp
    Mức độ hình ảnh gặp khó
    diễn đàn nối mạng trò chuyện, vẫy
    không rõ khăn
    trực tuyến tay và thăm dò ý
    kiến

    Rất cao 279 683 377 181 156

    Cao 781 942 1005 532 475

    Thấp 242 178 237 250 252

    Trung bình 784 318 495 1110 1087

    Rất thấp 69 34 41 82 185

    Tổng cộng 2155 2155 2155 2155 2155

    208

  7. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 6: Khó khăn trong việc nộp bài tập trực tuyến

    Mức độ khó khăn Số câu trả lời

    Rất cao 273

    Cao 744

    Trung bình 690

    Thấp 389

    Rất thấp 59

    Tổng cộng 2155

    Bảng 7: Tính linh hoạt của người tham gia trong các phương thức học tập

    Mức độ linh hoạt Học trực tuyến Học trực tiếp Cả hai

    Rất cao 313 509 251

    Cao 1035 1233 1123

    Thấp 153 97 137

    Trung bình 626 295 610

    Rất thấp 28 21 34

    Tổng cộng 2155 2155 2155

    209

  8. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 8: Mức độ sử dụng lớp học trực tuyến theo sinh viên trong các trường hợp
    khác nhau
    Đã sử dụng Chỉ khi bị
    Mức độ sử dụng Không tiện lợi
    sớm hơn phong tỏa
    Rất cao 212 368 247

    Cao 1179 1449 579

    Thấp 190 87 239

    Trung bình 550 236 1002

    Rất thấp 24 15 88

    Tổng cộng 2155 2155 2155

    Bảng 9: Mức độ hài lòng về các lớp học trực tuyến

    Mức độ hài lòng Số câu trả lời

    Rất cao 167

    Cao 1004

    Trung bình 639

    Thấp 283

    Rất thấp 62

    Tổng cộng 2155

    210

  9. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 10: Nhận thức tương lai của sinh viên về lớp học trực tuyến

    Mức độ sử dụng Sinh viên sẽ sử dụng Sinh viên sẽ sử dụng các
    Không
    trong tương lai của các lớp học trực lớp học trực tuyến chỉ
    chắc
    lớp học trực tuyến tuyến trong tương lai trong lúc bị phong tỏa

    Rất cao 250 286 208

    Cao 910 1113 494

    Thấp 262 140 168

    Trung bình 711 578 1153

    Rất thấp 22 38 132

    Tổng cộng 2155 2155 2155

    Bảng 11: Hiệu quả của lớp học trực tuyến đối với sinh viên dựa trên các đánh giá
    chủ quan và khách quan theo quan điểm của giảng viên

    Hiệu quả của lớp học trực tuyến đối với sinh viên Số câu trả lời

    Có, nó tác động đến sinh viên ở lớp học trực tuyến cụ thể của 26
    nghiên cứu

    Có, nó tác động thực chất đến sinh viên ở lớp học trực tuyến cụ 34
    thể của nghiên cứu

    Sinh viên không bị tác động 40

    4. PHÂN TÍCH YẾU TỐ
    Tùy thuộc vào mục tiêu dự kiến, nghiên cứu sử dụng phân tích hồi quy đa
    biến tuyến tính để phân tích nhân tố. Nghiên cứu coi sự cải thiện về kĩ năng và
    kiến thức (ISK) là biến phụ thuộc và tập hợp các biến thông qua thí điểm và
    nghiên cứu chính được coi là các biến dự báo bao gồm: Khó khăn trong học tập và
    giao nhiệm vụ trực tuyến (DOLA), Phương thức linh hoạt của sinh viên (SFM),
    Vùng địa lí sinh viên (SG), Sự hài lòng của lớp học trực tuyến (OCS), Nhận thức
    về lớp học trực tuyến (OCP) và Đánh giá năng lực đầu ra của sinh viên (SAO).

    211

  10. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảy biến số (ISK, DOLA, SFM, SG, OCS, OCP và SAO) được kiểm tra để
    phân phối độ lệch và mất trật tự do chúng không được phân phối bình thường và
    do sự có mặt không thường xuyên của nó. Do đó, việc chuẩn hóa được thực hiện
    bằng cách xem xét hàm số logarit tự nhiên trên tất cả các biến dự báo qua phương
    trình hồi quy, được biểu diễn như sau:
    ISK = Hệ số chặn + β1*DOLA + β2*SFM + β3*SG + β4*OCS + β5*OCP +
    β6*SAO
    Phương trình này kiểm tra ý nghĩa thống kê của ISK và hệ số biến dự báo
    bằng cách sử dụng t-Test ở mức ý nghĩa 0,05 thông qua các giả thuyết được xác
    định, tức là ý nghĩa thống kê của các hệ số hồi quy. Các mức độ có thể lí giải
    (biến bất đẳng thức) của biến dự báo trên ISK được ước tính bằng giá trị R2 được
    hiệu chỉnh. Độ mạnh của mô hình hồi quy thống kê được kiểm tra bằng phân tích
    ANOVA mà kiểm tra mức ý nghĩa chính xác của trị thống kê F ở mức ý nghĩa
    0,05 cho đối tượng đầu tiên. Thống kê Durbin-Watson đã từng được sử dụng để
    kiểm tra sự tự tương quan trong mô hình và sau đó ý nghĩa thống kê của nó được
    kiểm tra để tìm ra sự tự tương quan giữa các biến phụ thuộc và biến dự báo.
    Phân phối ISK và phân phối sáu yếu tố dự đoán không được phân phối
    chuẩn, độ lệch và sự mất trật tự lần lượt được đưa ra trong Bảng 12.
    Bảng 12: Độ lệch và sự mất trật tự

    Biến số Sự mất trật tự Độ lệch
    DOLA -0.58 -0.31
    SFM -1.01 0.53
    SG 0.08 -0.05
    OCS -0.72 -0.24
    OCP -1.04 0.28
    SAO -0.72 0.22
    ISK -1.03 0.47

    Hệ số ma trận tương quan của các biến dự báo với hệ số chặn được đưa ra
    trong Bảng 13.

    212

  11. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 13: Ma trận hệ số tương quan

    (Hệ số chặn) DOLA SFM SG OCS OCP SAO
    (Hệ số chặn) 1 -0.72 -0.59 -0.07 -0.35 -0.31 -0.54
    DOLA -0.72 1 0.67 -0.25 -0.11 0.03 0.21
    SFM -0.59 0.67 1 -0.17 0.02 -0.23 -0.01
    SG -0.07 -0.26 -0.17 1 0.00 -0.08 -0.09
    OCS -0.35 -0.10 0.02 0.00 1 -0.02 0.09
    OCP -0.31 0.03 -0.23 -0.08 -0.02 1 0.47
    SAO -0.54 0.21 -0.01 -0.09 0.09 0.47 1

    Ma trận hiệp phương sai của các biến dự báo và hệ số chặn được đưa ra
    trong Bảng 14.

    Bảng 14: Ma trận hiệp phương sai của các biến dự báo

    (Hệ số chặn) DOLA SFM SG OCS OCP SAO

    (Hệ số chặn) 0.888 -0.005 -0.003 -0.001 -0.001 -0.001 -0.002

    DOLA -0.005 0.002 0.002 -0.001 0 0.002 0.002

    SFM -0.003 0.001 0 0 0 0 0

    SG 0.001 0 0 0 0 0 0

    OCS -0.001 0 0 0 0 0 0

    OCP -0.001 0 0 0 0 0 0

    SAO -0.001 0 0 0 0 0 0

    Tóm tắt mô hình hồi quy với R2 hiệu chỉnh được đưa ra trong Bảng 15.

    213

  12. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 15: Mô hình hồi quy

    R2 R2 hiệu chỉnh Sai số tiêu chuẩn của ước lượng

    0.672 0.644 12.083

    Các hệ số hồi quy của các biến độc lập và hệ số chặn được đưa ra trong
    Bảng 16. Các biến có giá trị thống kê t tuyệt đối ≥ 2 được coi là có ý nghĩa thống
    kê. Hiển thị rõ ràng từ giá trị p của trị thống kê t ≤ 0,05.
    Bảng 16: Hệ số chặn và các biến độc lập
    Hệ số chặn
    Ước lượng Sai số tiêu chuẩn t Giá trị p (>|t|)
    và các biến số
    (Hệ số chặn) 27.95 11.38 2.46 0.02

    DOLA -0.27 0.10 -2.63 0.01

    SFM 0.39 0.09 4.45 0.00

    SG -0.06 0.07 -0.75 0.46

    OCS -0.07 0.07 -1.06 0.30

    OCP 0.27 0.07 3.78 0.00

    SAO 0.19 0.07 2.74 0.01

    Các kết quả thử nghiệm ANOVA được sử dụng để đánh giá chuẩn mạnh của
    mô hình hồi quy như trong Bảng 17
    Bảng 17: Tổng hợp phân tích ANOVA

    Trị thống kê F Hồi quy Bậc tự do Phần dư Bậc tự do Giá trị p

    23.743 6.34 70.56 Nhỏ không đáng kể

    Sự hiện diện của tự tương quan trong mô hình hồi quy được thực hiện bằng
    phép thử thống kê Durbin-Watson, trong đó giá trị của nó nằm dọc theo giá trị p
    như trong Bảng 18.

    214

  13. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Bảng 18: Thống kê Durbin-Watson

    Thống kê Phương pháp Giả thuyết phụ Giá trị p

    2.123 Durbin-Watson Tự tương quan > 0 0.723

    Từ giá trị R2 hiệu chỉnh, biến dự đoán có thể giải thích sự thay đổi đáng kể
    của ISK khoảng 64,2%. Mô hình hồi quy thể hiện độ mạnh về mặt thống kê sau
    khi tìm ra sự bác bỏ giả thuyết không của trị thống kê F. Mô hình thống kê
    Durbin-Watson tránh được vấn đề tự tương quan, trong đó giá trị gần với 2 hơn và
    nó chấp nhận giá trị 0. Giá trị R2 hiệu chỉnh chỉ ra rằng hơn 90% biến thể ISK là
    do biến thể của các biến dự đoán và điều này cho thấy ISK đang bị ảnh hưởng lớn
    bởi các biến dự đoán. Các biến dự đoán là DOLA, SFM, OCP và SAO có ý nghĩa
    thống kê và trong số tất cả các biến thứ cấp, DOLA tỉ lệ nghịch với chỉ số và nó
    chỉ ra rằng rất ít DOLA tác động nhiều hơn đến kĩ năng và kiến thức của sinh
    viên. Các biến khác: SFM, OCP và SAO có liên quan rõ ràng với ISK
    5. TỔNG KẾT
    Nghiên cứu được tiến hành rộng rãi về việc tìm kiếm ảnh hưởng của trải
    nghiệm học tập đối với các lớp học trực tuyến do Trường thực hiện. Các nỗ lực để
    tìm ra số liệu thống kê về trải nghiệm học tập trên lớp trực tuyến của sinh viên bao
    gồm các đánh giá chủ quan và khách quan, sự quan tâm của sinh viên đến việc
    tham dự các lớp học trực tuyến và trải nghiệm lớp học xuyên suốt của sinh viên.
    Do đó, nghiên cứu thống kê cho thấy tầm quan trọng của trải nghiệm học tập trực
    tuyến có nhiều tác động tích cực đến sinh viên. Các số liệu thống kê cũng tiết lộ
    thêm rằng ngay từ giai đoạn đầu khi có lệnh phong tỏa thì việc học trực tuyến đã
    được cải thiện và việc giao bài tập về nhà đã khiến sinh viên tập trung vào các bài
    kiểm tra của cá nhân mình. Sự độc lập của sinh viên trong việc đạt được các kĩ
    năng là rất cao trong giai đoạn này và một vài sinh viên không quan tâm đến các
    lớp học trực tuyến thì không đạt được bất kì kĩ năng nào. Nó liên quan đến tỉ lệ
    thành công ngày càng tăng của sinh viên có tham dự các lớp học trực tuyến với sự
    quan tâm và đóng góp thành công trong giảng dạy trực tuyến tại Trường. Các kĩ
    năng và kiến thức thu được trong thời kì hậu đại dịch của sinh viên và giảng viên
    rất có ý nghĩa với kinh nghiệm học tập trực tiếp. Một số cách mới được giải quyết
    bởi những giảng viên liên quan đến việc giảng dạy và giao bài tập theo các mẫu
    mới đã đưa ra những phản ánh tích cực về các kĩ năng và kiến thức của sinh viên
    về một chủ đề cụ thể.
    THÀNH QUẢ NGHIÊN CỨU
    Sau khi đánh giá trải nghiệm lớp học trực tuyến thời kì hậu đại dịch hai
    tháng tại Trường, người ta thấy rằng sự chuyển đổi từ học truyền thống sang lớp
    học trực tuyến đã tạo ra những tác động tích cực, được nêu dưới đây:
    215

  14. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    1. Với các kĩ năng và kiến thức hiện có, sinh viên và giảng viên được trau
    dồi hơn nữa theo cách giúp sinh viên ứng phó với khối lượng kiến thức về các bài
    học và bài tập bị bỏ lỡ (Bảng 11).
    2. Việc áp dụng các mẫu bài tập mới đã phản ánh tích cực việc sinh viên có
    vốn hiểu biết tốt hơn và sinh viên đã đưa ra một số giải pháp mới để hoàn thành
    nhiệm vụ được giao.
    3. Bằng việc đưa ra phản hồi dựa trên các bài tập/hoạt động nhóm của sinh
    viên thì tính hiệu quả bài tập được tăng lên.
    4. Trong suốt thời kì hậu đại dịch, hầu hết các sinh viên hoàn thành hết các
    mục tiêu bài tập đã đạt điểm cao trong các bài tập nhóm và bài tập cá nhân.
    5. Quan trọng nhất, các sinh viên quan tâm đến việc sử dụng các diễn đàn
    công cụ miễn phí trực tuyến hơn là các công cụ trả phí cho việc học tập, nộp bài
    tập và làm bài kiểm tra nhóm và cá nhân.
    KIẾN NGHỊ
    Việc cải thiện các lớp học trực tuyến chất lượng cao giúp cho các lớp học ảo
    và liên quan đến ý nghĩa trực tiếp đối với việc học trực tiếp thông thường, các sửa
    đổi sau đây phải được áp dụng cho sinh viên.
    1. Khả năng của học sinh sẽ được kiểm tra thêm khi Trường hoạt động trở
    lại sau lệnh phong tỏa, do đó giảng viên nên kiểm tra xem liệu một kĩ năng mà
    học sinh lĩnh hội có thỏa mãn kiến thức của họ trong thời kì hậu đại dịch hay
    không.
    2. Việc phân loại sinh viên là một vấn đề khác liên quan đến tính căn
    nguyên trong các bài tập trực tuyến của sinh viên, tham dự các lớp học và các kì
    thi. Do đó, các lớp học trực tuyến nên được phục vụ với các thiết kế đặc biệt hoặc
    các mẫu mới, để nó thu hút các sinh viên mà không quan tâm đến các lớp học để
    học, làm bài tập về nhà và làm bài kiểm tra.
    3. Phương pháp học tập trên lớp trực tuyến với các giải pháp mới thông qua
    các diễn đàn ảo sẽ nâng cấp kiến thức và kĩ năng của sinh viên nhiều hơn so với
    học trực tiếp thông thường.
    4. Việc đảm bảo chất lượng cho các lớp học riêng lẻ trong tương lai cần
    được áp dụng một cách tất yếu trong việc tiếp tục quá trình giáo dục trực tuyến
    với sự phát triển hợp lí về các giải pháp mới hơn (phương pháp giảng dạy), mô
    hình và ý tưởng. Điều này thực sự có tiềm năng trong việc cho phép các sinh viên
    mong muốn học nâng cao trình độ thạc sĩ và nghiên cứu sinh được bảo toàn với
    hướng dẫn của họ.
    5. Công trình nghiên cứu đề xuất các công cụ như WebEx, Google Meet,
    Microsoft nhóm được tích hợp với lớp học trực tuyến. Các biện pháp hoặc công

    216

  15. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    cụ sẽ được thực hiện/tạo ra để phát triển các mô phỏng phòng thí nghiệm trực
    tuyến cụ thể cho một nghiên cứu để đạt được chương trình giảng dạy.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Bliuc, A. M., Goodyear, P., & Ellis, R. A. Research focus and methodological
    choices in studies into students’ experiences of blended learning in higher
    education. The Internet and Higher Education. 2007;10(4), 231-244.
    [2] Davis T. M., Murrel P. H. Joint factor analysis of the College Student
    Experiences Questionnaire and the ACT COMP objective exam. Research in
    Higher Education. 1990;31(5), pp. 425-441.
    [3] LaNasa, S. M., Cabrera, A. F., & Trangsrud, H. The construct validity of
    student engagement: A confirmatory factor analysis approach. Research in
    Higher Education. 2009;50(4), 315-332.
    [4] Malkan, R., & Pisani, M. J. Internationalizing the community college
    experience. Community College Journal of Research and Practice.
    2011;35(11), 825-841.
    [5] Muilenburg, L. Y., & Berge, Z. L. Student barriers to online learning: A factor
    analytic study. Distance education. 2005;26(1), 29-48.
    [6] Hoi Kwan Ning, Kevin Downing. Influence of student learning experience on
    academic performance: The mediator and moderator effects of self-regulation
    and motivation. British Educational Research Journal Downing. 2012;38(2),
    pp. 219-237.
    [7] Norberg, A., Dziuban, C. D., & Moskal, P. D. A time‐ based blended learning
    model. On the Horizon. 2011.
    [8] Pauli, R., Mohiyeddini, C., Bray, D., Michie, F., & Street, B. Individual
    differences in negative group work experiences in collaborative student
    learning. Educational Psychology. 2008;28(1), 47-58.
    [9] Zhang, X. W., Yan, X. J., Zhou, Z. R., Yang, F. F., Wu, Z. Y., Sun, H. B., …
    & Zhang, Q. Y. Arsenic trioxide controls the fate of the PML-RARα
    oncoprotein by directly binding PML. Science. 2010;328(5975), 240-243.

    217

Download tài liệu Tác động của đại dịch SARS-CoV-2 đối với hoạt động giáo dục tại trường Đại học Trà Vinh File Docx, PDF về máy