[Download] Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1. – Tải về File Docx, PDF

Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1.

Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1.
Nội dung Text: Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1.

Download


Tham khảo tài liệu ‘quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị p1.’, kinh tế – quản lý, quy hoạch – đô thị phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem: [Download] Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1. – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1. File Docx, PDF về máy

Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1.

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1.

  1. Phần 1

    Quy hoạch và quản lý phát
    triển không gian ngầm đô
    thị
    Ngày nay, khi các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh phát triển
    mạnh mẽ và gặp phải những vấn đề có liên quan đến sức tải đô thị như
    các thành phố lớn khác trên thế giới, chính quyền các thành phố này đã
    cùng với các chuyên gia quy hoạch và các nhà kinh doanh bất động sản
    hướng tới khai thác không gian trên cao bằng cách xây dựng các cao ốc có
    nhiều tầng hầm và móng cọc sâu, đồng thời phát triển các tuyến đường
    bộ và đường sắt trên cao và ngầm dưới đất cùng với các hầm chứa xe
    ngầm

    QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN
    KHÔNG GIAN NGẦM ĐÔ THỊ

    MỞ ĐẦU

  2. Mỗi đô thị đều ít nhiều có khai thác không gian ngầm để lấy nước sạch và lắp
    đặt các tuyến đường ống kỹ thuật như đường ống cấp nước, đường cống thoát
    nước. Việc khai thác không gian ngầm như vậy tương đối đơn giản, nói chung
    không cần phải đặc biệt lưu ý khi quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đô thị
    (tuy vậy nếu khai thác nước ngầm quá mức có thể gây lún cho mặt đất). Nhưng
    khi đô thị tăng trưởng đến mức độ nhất định thì sức tải (dung lượng) hiện hữu
    của một số khu vực, trước tiên là khu trung tâm thương mại, đạt tới mức độ tới
    hạn, khiến sự vận hành của đô thị bị tắc nghẽn và môi trường đô thị bị ô nhiễm
    nặng nề. Để tăng thêm sức tải cho khu vực đó, nhất là khi cần tạo đủ không gian
    thoáng trên mặt đất cho loại hình đô thị nén (compact city) có mật độ xây dựng
    rất cao, người ta tìm cách chuyển việc phát triển đô thị chỉ trên mặt đất sang phát
    triển theo không gian, tức là cả lên cao trên không và xuống ngầm dưới đất, nhờ
  3. các tiến bộ của công nghệ xây dựng hiện đại và bổ sung nhiều nội dung mới cho
    quy hoạch đô thị, trong đó có quy hoạch phát triển không gian ngầm.
    Ở nước ta trong hai cuộc kháng chiến, tại nhiều vùng đã xuất hiện hệ thống địa
    đạo, như Nam Hồng ở ngoại thành Hà Nội, Củ Chi ở ngoại thành Sài Gòn, Vĩnh
    Mốc ở Vĩnh Linh v.v. Để đối phó với cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân
    của Hoa Kỳ, tại thủ đô Hà Nội đã xây dựng nhiều công trình ngầm sâu dành cho
    các cơ quan chỉ huy chiến đấu của Trung ương và của Hà Nội. Nói vậy để thấy
    nhân dân ta đã sớm tận dụng không gian ngầm vào mục đích chiến đấu. Công
    trình thủy điện Hòa Bình có không gian ngầm rộng lớn cũng chủ yếu là nhằm
    tăng khả năng phòng không.
    Ngày nay, khi các thành ph ố l ớn nh ư Hà N ội và TP H ồ Chí Minh phát tri ển
    mạnh mẽ và gặp ph ải nh ững v ấn đ ề có liên quan đ ến s ức t ải đô th ị nh ư các
    thành phố lớn khác trên th ế gi ới, chính quy ền các thành ph ố này đã cùng v ới
    các chuyên gia quy ho ạch và các nhà kinh doanh b ất đ ộng s ản h ướng t ới khai
    thác không gian trên cao b ằng cách xây d ựng các cao ốc có nhi ều t ầng h ầm và
    móng cọc sâu, đồng th ời phát tri ển các tuy ến đ ường b ộ và đ ường s ắt trên cao
    và ngầm dưới đất cùng v ới các h ầm ch ứa xe ng ầm. Th ế nh ưng vi ệc tri ển khai
    thực hiện các dự án công trình ng ầm đ ầu tiên đã b ộc l ộ nhi ều b ất c ập v ề ki ến
    thức, công ngh ệ, quy ho ạch, pháp lý và ph ương th ức huy đ ộng v ốn.
    Nhằm lưu ý các nhà hoạch định chính sách và chính quyền các đô thị nước ta về
    một chủ đề đang được thế giới quan tâm, hội thảo này đặt trọng tâm vào giới
    thiệu các nguyên lý cơ bản của quy hoạch không gian ngầm đô thị, làm sáng tỏ
    mối quan hệ giữa quy hoạch không gian trên mặt đất với quy hoạch không gian
    ngầm, thảo luận việc lập quy hoạch chi tiết không gian ngầm tại khu thương
    mại trung tâm và các khu nhà ở, cuối cùng là xem xét việc hoàn thiện khuôn khổ
    pháp lý và thể chế có liên quan nhằm tạo điều kiện phát triển không gian ngầm
  4. tại các đô thị nước ta.
    Mong rằng kết quả của Hội thảo có thể bổ ích cho việc xây dựng chính sách mới
    mẻ nhưng rất quan trọng về khai thác sử dụng không gian ngầm để “phát triển
    đô thị cả bề rộng lẫn bề sâu”!

    PHẦN THỨ NHẤT
    KHAI THÁC KHÔNG GIAN NGẦM
    PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
    1. Khái niệm chung về không gian ngầm đô thị
    1.1. Đô thị hóa và không gian ngầm
    Ở nước ta, quá trình đô thị hóa diễn ra khá nhanh từ khi Đổi mới: nếu năm 1990
    cả nước mới có 500 đô thị với 12,9 triệu dân, chiếm19,5% tổng dân số thì đến
    tháng 12/2010 đã có 755 đô thị với 26,3 triệu dân, chiếm 30,5 % tổng dân số, và
    dự báo đến 2025 có thể đạt tới 52 triệu người, chiếm khoảng nửa tổng dân số!
    Đáng chú ý là hiện nay đã có 12 đô thị lớn thuộc loại đặc biệt và loại 1 (Hà Nội,
    TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang,
    Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên), và hai trong số đó là Hà Nội và TP Hồ
    Chí Minh đang trở thành đô thị trung tâm của hai vùng đô thị lớn (metropolitan
    areas).
    Trên quan điểm sử dụng đất, có thể phân ra 3 loại hình đô thị hóa (16):
    1) Đô thị hóa gắn với mở rộng diện tích đất đô thị;
    2) Đô thị hóa gắn với tăng mật độ dân cư trên đất đô thị hiện có;
    3) Đô thị hóa kết hợp hai loại hình trên.
    Loại hình đô thị hóa thứ hai thể hiện xu hướng đô thị học mới gọi là “tăng
    trưởng thông minh” (Smart Growth), khuyến khích áp dụng chỉ tiêu mật độ đô
    thị tương đối cao thỏa đáng và việc sử dụng hỗn hợp đất đai với nhiều chức

  5. năng. Các khu đô thị như vậy được gọi là “đô thị nén” (Compact Cities), theo tên
    gọi do G.Dantzig và T.L. Saaty đưa ra từ năm 1973.
    Chú. Bà Victoria Kwakwa (Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam) trong bài
    báo “Đô thị hóa ở Việt Nam đứng trước ngã ba đường” nhân dịp công bố Báo
    cáo Đánh giá Đô thị hóa ở Việt Nam, nêu nhận xét: “Quy hoạch Tổng thể Phát
    triển Đô thị Hà Nội được phê duyệt gần đây là một ví dụ với một hệ thống các
    thành phố vệ tinh chiếm diện tích lớn để giảm mật độ đô thị, đòi hỏi đầu tư lên đến
    hàng chục tỷ đô la Mỹ. Quy hoạch này dễ dẫn đến rủi ro đầu tư công có thể bị
    “nhốt” vào những khu vực không có nhu cầu…Với nguy cơ biến đổi khí hậu thì Việt
    Nam nên chuyển hướng tập trung phát triển thành phố gọn (tức đô thị nén), mật độ
    cao, tiết kiệm năng lượng mà vẫn đảm bảo nhu cầu nhà ở và việc làm cho mọi
    người”(Tuần Việt Nam – 4/5/2012).
    Mật độ “cao” là so với tiêu chuẩn quy hoạch đô thị hiện hành, còn “thỏa đáng”
    đến đâu là tùy theo điều kiện cụ thể của từng đô thị chứ không nhất loạt như
    nhau. Ở Hoa Kỳ, đối với đô thị nén, mật độ 100 hộ/acre (= 4050m2), tức
    247người/ha được xem là mức tối thiểu. Ở nước ta, theo quy định hiện hành thì
    đô thị loại đặc biệt và loại 1 có mật độ bình quân tối thiểu tương ứng là từ
    15.000 người và 12.000 người trên km2 trở lên, tức là ≥150-120 người/ha. Mật độ
    khu trung tâm thường cao nhất rồi giảm dần khi ra xa hơn, chẳng hạn tại Hà
    Nội, mật độ Q. Đống Đa là 353 người/ha, Q.Hoàn Kiếm là 336 người/ha (riêng
    khu phố cổ đến 800 người/ha!), nhưng đến Q. Cầu Giấy thì chỉ còn 122 người/ha
    và Q. Long Biên còn ít hơn nữa, chỉ 52 người/ha.
    Khai thác không gian ngầm chính là giải pháp thích hợp được quốc tế thừa nhận
    để tăng diện tích xây dựng nhằm nâng cao mật độ đô thị mà vẫn đảm bảo giao
    thông thông suốt, ít tiếng ồn, môi trường trong lành, cung ứng đầy đủ nhà ở và
    các dịch vụ công cộng, góp phần phát triển đô thị bền vững và ứng phó với biến
  6. đổi khí hậu toàn cầu.
    1.2. Đặc điểm của không gian ngầm đô thị
    Có nắm vững đặc điểm của không gian ngầm thì mới làm tốt quy hoạch không
    gian ngầm đô thị.
    Với cách tiếp cận tổng hợp, không gian ngầm đô thị không chỉ là địa điểm xây dựng
    công trình và hạ tầng, mà còn là nơi chứa đựng nhiều tài nguyên, bao gồm tài nguyên
    vật liệu xây dựng, tài nguyên nước, tài nguyên địa nhiệt và cả tài nguyên khảo cổ
    học.
    Vì ở trong lòng đất nên không gian ngầm là không gian khuất mắt, khép kín, cách
    ly với âm thanh, các chấn động và khí hậu trên mặt đất (10,17):
    – Là không gian khuất mắt nên có thể chứa đựng các loại đường dây, đường ống,
    và các công trình “khó coi” hay cần sự kín đáo;
    – Là không gian khép kín, ít lối ra vào nên dễ bảo đảm an toàn, chẳng hạn cho các
    kho hàng quý hoặc chứa chất độc hại;
    – Nhờ cách ly tốt với âm thanh và chấn động trên mặt đất nên có thể tạo môi
    trường tĩnh lặng thuận lợi cho một số thực nghiệm khoa học & công nghệ, hoặc
    công trình trú ẩn phòng không. Công trình ngầm chịu đựng động đất tốt hơn công
    trình trên mặt đất vì tránh được các sóng địa chấn bề mặt;
    – Nhờ cách ly với khí hậu trên mặt đất nên có thể làm nơi tránh bão, nơi cần có
    nhiệt độ ổn định, nhất là tại các vùng khí hậu khắc nghiệt.
    Việc sử dụng không gian ngầm cũng có một số hạn chế, chủ yếu về tâm lý, như:
    Tối tăm và độ ẩm cao, tách rời khỏi thiên nhiên;

    Gây liên tưởng đến nấm mồ;

    Nỗi sợ bị mắc kẹt khi có sự cố;

    Khó định hướng;

    Cần công nghệ đặc thù và chi phí tương đối tốn kém.
  7. Để khắc phục các mặt hạn chế nói trên, môi trường không gian ngầm phải hợp
    vệ sinh, an toàn và dễ chịu, do đó phải giám sát chặt chẽ chất lượng chống thấm,
    bảo đảm duy trì liên tục việc cung ứng năng lượng cho chiếu sáng, điều hòa
    không khí, bơm nước thải, có đủ các biển chỉ dẫn được chiếu sáng và lối thoát an
    toàn khi gặp sự cố.
    Việc khai thác không gian ngầm là không thể đảo ngược như trên mặt đất, do đó
    cần được xem xét cân nhắc kỹ trước khi quyết định. Cần đánh giá tác động của
    sự có mặt của công trình ngầm tới hiện trạng nước ngầm và ảnh hưởng của quá
    trình thi công công trình ngầm đến sự lún nứt của các công trình khác trên và dưới
    mặt đất gần kề với nó. Ngoài ra, nên chú ý rằng móng sâu của công trình cao
    tầng trên mặt đất cũng là một dạng công trình ngầm cần đưa vào quy hoạch vì có
    liên quan đến việc chọn tuyến cho giao thông ngầm.
    2. Hiện trạng và xu thế phát triển không gian ngầm đô thị trên thế giới
    2.1. Quá trình phát triển không gian ngầm hiện đại
    Đầu thế kỷ XX, kiến trúc sư người Pháp Hénard gợi ý nên chuyển giao thông đô
    thị, vận chuyển chất lỏng, rác thải và hàng hóa vào đường hầm nhiều tầng (20).
    Tuy vậy, trước Thế chiến II các đô thị chỉ mới chú ý khai thác nước ngầm, xây
    dựng hành lang kỹ thuật, và một số đô thị lớn như New York, Paris, Berlin,
    Mátxcơva phát triển hệ thống tàu điện ngầm. Trong chiến tranh, ga tàu điện
    ngầm Mátxcơva và Berlin là nơi trú ẩn phòng không rất an toàn.
    Vào nửa sau Thế kỷ XX, khi quá trình đô thị hóa trên thế giới tiến triển nhanh thì
    không gian ngầm đô thị được khai thác rộng rãi. Ngoài tàu điện ngầm và đường
    hầm vượt sông ngày càng nhiều, tại các đô thị xuất hiện nhiều loại công trình
    ngầm mới như đường phố ngầm, đầu mối giao thông ngầm (Nhật); nhà hát, bể
    bơi, sân vận động ngầm (Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan); kho hàng và kho lạnh
    ngầm (Hoa Kỳ)…
  8. Không gian ngầm rất cần thiết cho dự án cải tạo các khu đô thị cũ cần bảo tồn
    cảnh quan và các di sản văn hóa, lịch sử. Một dự án rất thành công và nổi tiếng
    thuộc loại này là dự án mở rộng Bảo tàng Louvre (Paris) (14): việc khai thác diện
    tích 6,2 vạn m2 của hai tầng ngầm (có chỗ 3 tầng) dưới toàn bộ Quảng trường
    Napoléon cho phép vừa tăng gấp đôi diện tích trưng bầy vừa có chỗ cho thư viện,
    nhà ăn, cửa hàng, nơi giải trí, khu thiết bị và nơi đỗ xe. Kim tự tháp bằng kính rất
    lớn để lấy ánh sáng cho khu đại sảnh được khen là không làm tổn hại đến kiến
    trúc cổ điển của Bảo tàng, không những thế, còn tạo ra nét đặc sắc hấp dẫn.
    TP Helsinki của Phần Lan đưa nhà máy xử lý nước thải xuống dưới đất và phát
    triển hệ thống hành lang kỹ thuật dài hơn 40km, sâu 30-80m, cao 5m, rộng 7m để
    lắp đặt cáp điện, cáp viễn thông, đường ống cấp nước, cấp nhiệt, và có một
    đường cho xe sửa chữa đi lại (15).
    Thế nhưng cũng có dự án rất lớn nhưng đầy trắc trở như dự án của TP Boston
    (Hoa Kỳ) nhằm “hạ thổ” đường cao tốc trên cao 6 làn xe xuống hầm đường cao
    tốc dài 5,6km cho 8-10 làn xe đi xuyên qua trung tâm đô thị, tạo ra không gian
    thoáng rộng 110 ha trên mặt đất. Dự án “Big Dig” này nổi tiếng là dự án đường
    cao tốc đắt nhất Hoa Kỳ với tổng mức đầu tư leo thang từ 2,8 tỷ USD theo dự
    kiến năm 1986 và dự toán 5,8 tỷ USD lúc khởi công năm 1991, lên đến tổng chi
    22 tỷ USD vào năm 2006, cùng một loạt tai tiếng về chậm tiến độ, kém chất
    lượng và sự cố công trình (Big Dig. Wikipedia).
    Khởi đầu từ 1960, TP Montreal của Canada bắt đầu xây dựng “thành phố dưới
    thành phố” có khí hậu “mùa xuân vĩnh cửu”, không tuyết, không mưa, không bão,
    không nắng nóng! Đến nay, ngoài hệ thống giao thông ngầm, thành phố ngầm
    Montreal có hơn 1600 cửa hàng, 200 khách sạn, 40 ngân hàng và 30 rạp chiếu
    bóng, nhà hát, bể bơi (16).
    Nhật Bản là nước sớm phát triển các đường phố ngầm nhiều tầng, thế nhưng ở
  9. châu Á thì Trung Quốc mới là nước phát triển không gian ngầm đô thị mạnh mẽ
    nhất hiện nay (22).
    Nhận thấy không gian ngầm có vai trò ngày càng quan trọng, năm 1983 Ủy ban
    Kinh tế & xã hội của LHQ (ECOSOC) ra nghị quyết về không gian ngầm,
    xem không gian ngầm là một loại tài nguyên(14).
    2.2. Xu thế phát triển trong Thế kỷ XXI
    Không gian ngầm ngày càng trở thành “không gian th ứ hai c ủa đô th ị”. Năm
    1991, Hiệp hội quốc tế về Hầm và Không gian ng ầm (ITA) t ổ ch ức H ội th ảo
    quốc tế, ra Tuyên ngôn Tokyo nh ận đ ịnh Thế kỷ XXI là thế kỷ sử dụng không
    gian ngầm, xem không gian ngầm cũng nh ư đ ất đai và khoáng s ản, đ ều là tài
    nguyên thiên nhiên quý báu (14). Vi ệc phát tri ển và s ử d ụng chúng ph ải có quy
    hoạch nghiêm túc để không h ủy hoại và lãng phí lo ại tài nguyên này. Quy ho ạch
    không gian ngầm đô th ị là ch ủ đ ề đ ược “Hi ệp h ội các Trung tâm Nghiên c ứu S ử
    dụng Không gian ngầm đô th ị” (ACUUS) quan tâm đ ưa ra th ảo lu ận t ại các h ội
    thảo quốc tế ở Paris (1995), Tây An (1999), Thâm Quy ến (2009).
    Nói chung, các chuyên gia (14) cho rằng sau khi GDP đầu người đạt 500USD thì
    quốc gia đã có điều kiện phát triển không gian ngầm; khi đạt mức 1000 USD thì
    bắt đầu đi vào giai đoạn quy hoạch và phát triển không gian ngầm đô thị; đạt tới
    3000 USD thì giá đất đô thị tăng cao nên việc phát triển không gian ngầm đô thị đã
    chín muồi và tiến tới cao trào.
    Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ không gian ngầm đô thị, trở thành quốc
    gia hàng đầu trong lĩnh vực này trên thế giới: ngoài tàu điện ngầm với chiều dài
    mỗi năm tăng thêm 180km, nhiều đô thị còn xây dựng đường cao tốc ngầm, hệ
    thống công trình ngầm đa chức năng, thậm chí nhiều khu đô thị ngầm với diện
    tích bằng 20-30% tổng diện tích khu vực trên mặt đất, chẳng hạn ở Bắc Kinh,
    diện tích ngầm khu Tây Trung Quan Thôn là 500.000m2, khu Vương Phủ Tỉnh là
  10. 600.000m2. Hiện nay hơn 20 đô thị đã có quy hoạch không gian ngầm (22).
    Nói chung, trong Thế kỷ XXI, không gian ngầm đô thị sẽ phát triển mạnh mẽ trên
    quy mô rộng lớn để giải quyết một loạt vấn đề giao thông đô thị, cải tạo các khu
    đô thị cũ, tăng thêm không gian xanh, tăng trưởng kinh tế. Vì vậy ngày nay người
    ta đã đề cập đến phát triển tổng hợp “đô thị ngầm” hay “đô thị sâu” (deep cities)
    chứ không chỉ là sử dụng không gian ngầm đô thị.
    3. Phát triển không gian ngầm đô thị tại Việt Nam
    Ở nước ta, không gian ng ầm đô th ị tr ước đây ch ỉ đ ược quan tâm nh ư là n ơi có
    tài nguyên nước ng ầm, và cũng là n ơi đ ặt h ệ th ống đ ường ống c ấp n ước và
    đườ ng cống thoát nước, bao g ồm c ả các c ống h ộp thay th ế cho các kênh
    mươ ng. Chỉ có một s ố cáp đi ện và vi ễn thông đ ược chôn riêng r ẽ và r ất nông,
    dễ gặp sự cố. Để kh ắc ph ục tình tr ạng không an toàn và m ất m ỹ quan c ủa các
    tuyến dây điện và vi ễn thông treo ng ổn ngang d ọc đ ường ph ố, các đô th ị l ớn
    thực hiện một số dự án “ng ầm hóa” nh ằm gom chúng vào các đ ường ống ch ất
    dẻo chôn xuống đất và m ột s ố đo ạn hào k ỹ thu ật ng ắn, nh ưng k ết qu ả ch ưa
    nhiều.
    Không gian ngầm đô thị chỉ mới được quan tâm nhiều hơn khi có các dự án hầm
    vượt cho người đi bộ, hầm đỗ xe, hầm vượt cho xe cơ giới qua nút giao cắt, và
    hầm Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn dài 1490m cho 6 làn xe.
    Tuy không gian ngầm đô thị được đưa vào quy hoạch từ năm 2007, khi Viện Quy
    hoạch Xây dựng Thanh Hóa cùng với Louis Berger Group điều chỉnh Quy hoạch
    Tổng thể thành phố Thanh Hóa đã duyệt từ năm 1999, với tầm nhìn đến 2020 và
    xa hơn, nhưng phải đến mấy năm gần đây thì quy hoạch không gian ngầm mới
    trở nên tương đối cấp bách đối với Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, trong bối cảnh
    cần triển khai các dự án hầm đỗ xe, nhất là dự án phát triển tàu điện ngầm, và
    đáp ứng nhu cầu cải tạo khu thương mại trung tâm mà vẫn bảo tồn được cảnh
  11. quan đặc sắc vốn có. Năm 2012 này, thành phố Đà Nẵng cũng vừa mới duyệt quy
    hoạch chi tiết hầm đỗ xe tại khu vực rộng 2,5 ha trong Công viên 29/3.
    Một số cuộc hội thảo về không gian ngầm đã được tổ chức trong các năm 2008
    và 2009(6,7). Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 có một số điều khoản đề cập đến
    không gian ngầm và công trình ngầm. Năm 2010, Chính phủ ban hành Nghị định
    số 39/2010 về quản lý không gian ngầm đô thị. Cuốn sách “Quy hoạch xây dựng
    công trình ngầm đô thị” của Nguyễn Hồng Tiến (2011) đã bước đầu hệ thống hóa
    các kiến thức cơ bản và giới thiệu khung pháp lý về công trình ngầm và không
    gian ngầm, thúc đẩy kịp thời việc khai thác không gian quan trọng này để phát
    triển đô thị nước ta. Năm 2012, nhóm nghiên cứu do TS.KTS Nguyễn Trúc Anh
    chủ trì (Viện Kiến trúc Quy hoạch Đô thị Nông thôn – Bộ Xây dựng) cũng vừa
    hoàn thành đề tài “Nghiên cứu hướng dẫn thiết kế quy hoạch không gian ngầm
    lồng ghép trong đồ án quy hoạch đô thị”(12), trong đó có phần tổng quan quốc tế
    và trong nước về xây dựng công trình ngầm đô thị khá phong phú.
    Tuy vậy, do chủ đề này còn quá mới mẻ nên mỗi khi gặp phải vấn đề phát triển
    không gian ngầm cụ thể, chẳng hạn hầm đỗ xe, hầm bộ hành kết nối khách sạn với
    ga tàu điện ngầm, siêu thị ngầm…, thì các chuyên gia quy hoạch và chính quyền các
    đô thị còn gặp nhiều lúng túng, thậm chí còn nghi kỵ. Trong nhận thức của nhiều
    người thì công trình ngầm đô thị thuộc loại cá biệt, tốn kém, đòi hỏi kỹ thuật đặc
    thù, vượt quá khả năng tài chính và công nghệ hiện tại của các đô thị, nhất là khi có
    vài tiền lệ không thành công như hầm bộ hành bỏ hoang, siêu thị ngầm bị ngập
    nước v.v. Ngay loại hình hào/hầm kỹ thuật vốn đã là công trình hạ tầng quen thuộc
    đối với đô thị các nước nhưng vẫn còn khá xa lạ đối với đô thị nước ta đang trên con
    đường hiện đại hóa! Hai đô thị loại đặc biệt đã bắt đầu thực hiện dự án phát triển
    tàu điện ngầm dựa vào nguồn vốn ODA khá tốn kém, nhưng xem ra một số vấn đề
    về quy hoạch và công nghệ vẫn còn cần được tiếp tục xem xét.

  12. (còn nữa)

Download tài liệu Quy hoạch và quản lý phát triển không gian ngầm đô thị P1. File Docx, PDF về máy