[Download] Quy hoạch sử dụng đất đai – Tải về File Docx, PDF

Quy hoạch sử dụng đất đai

Quy hoạch sử dụng đất đai
Nội dung Text: Quy hoạch sử dụng đất đai

Download


Tham khảo sách ‘quy hoạch sử dụng đất đai’, kinh tế – quản lý, quy hoạch – đô thị phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem: [Download] Quy hoạch sử dụng đất đai – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Quy hoạch sử dụng đất đai File Docx, PDF về máy

Quy hoạch sử dụng đất đai

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Quy hoạch sử dụng đất đai

  1. MỞ ĐẦU

    Với những áp lực và hiện trạng sử dụng đất đai như hiện nay cho thấy nguồn tài
    nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới gia tăng nhanh. Do
    đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lỹ giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để
    đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng
    bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường đang sống.
    Qui hoạch sử dụng đất đai là nền tảng trong tiến trình này. Đây là một thành
    phần cơ sở có liên quan đến hệ sinh thái các vùng núi, sa mạc hoang vu, hay các vùng
    đồng bằng ven biển, đồng thời lại nằm trong mục tiêu phát triển và bảo vệ rừng, đất
    trồng và tài nguyên ven biển. Qui hoạch sử dụng đất đai (QHSDĐĐ) là yếu tố chính
    trong tất cả yêu cầu phát triển và bảo vệ các vùng đất đai nông nghiệp.
    Có những sự mâu thuẫn trong sử dụng đất đai ở hiện tại. Nhu cầu về đất nông
    nghiệp, đồng cỏ, bảo vệ thiên nhiên, rừng, du lịch và phát triển đô thị lớn hơn nhiều so
    với nguồn tài nguyên đất đai hiện có. Ở các quốc gia đang phát triển thì nhu cầu này
    ngày càng cấp bách hơn theo từng năm. Dân số thế giới lệ thuộc vào số lượng/diện tích
    đất cho ra lương thực, nguyên liệu và việc làm sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng 25 đến
    50 năm tới. Ngay cả ở một số vùng đất đai đầy đủ, người dân vẫn không đạt đến nhu
    cầu và lợi nhuận mong đợi trong việc sử dụng đất đai đó. Trong khi đó, sự suy thoái
    đất đai ở các nông trang, rừng hay nguồn tài nguyên nước ngày càng thấy rõ, nhưng
    trong từng cá thể của cộng đồng xã hội không thể có biện pháp riêng nào để hạn chế
    hoặc chấm dứt tình trạng suy thoái này.
    Do đó, giáo trình Qui Hoạch Sử Dụng Đất Đai được biên soạn như là một giáo
    trình chuyên khảo nhằm mục đích trang bị cho sinh viên các ngành liên quan có kiến
    thức cơ bản về qui hoạch và những quan điểm quan trọng trong Qui Hoạch Sử Dụng
    Đất Đai bền vững. Tuy nhiên, trên cơ sở của những quan điểm và những qui trình qui
    hoạch của FAO (1993), mỗi quốc gia đã tự soạn ra những hướng dẫn riêng cho quốc
    gia mình để phù hợp trong việc qui hoạch của từng giai đoạn. Do đó để trang bị cho
    sinh viên có kiến thức và kỷ năng trong qui hoạch sử dụng đất đai khi ra trường trong
    điều kiện thực tế, giáo trình Qui Hoạch Sử Dụng Đất Đai được soạn thảo hoàn toàn
    dựa trên các tài liệu cơ bản về qui hoạch của FAO, Tài liệu Hướng dẫn về công tác qui
    hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của Viện điều tra qui hoạch đất đai thuộc Bộ Tài
    Nguyên và Môi Trường (Tổng Cục Địa Chính Việt Nam, Hà Nội, tháng 10/1998),
    Luật đất đai năm 2003 và Thông tư 30 – 2004 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường năm
    2004.

    Tháng 12 – 2005
    Người biên soạn
    PGS. Tiến sĩ Lê Quang Trí

  2. CHƯƠNG I
    TÍNH CHẤT – MỤC TIÊU – PHẠM VI – CON
    NGƯỜI
    QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

    I. THỰC TRẠNG VỀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
    Sự gia tăng dân số trong các nước đang phát triển đang là áp lực đè nặng lên
    nguồn tài nguyên đất đai có giới hạn của họ và cũng là nguyên nhân gây ra sự suy
    thoái đất đai. Những phương pháp chuyên ngành cho việc quy hoạch để giảm bớt tình
    trạng này hiện nay vẫn chưa cho được hiệu quả, và phương pháp tổng hợp đòi hỏi phải
    bao gồm tất cả các chủ thể tham gia từ sự bắt đầu, điều tiết chất lượng và những sự
    giới hạn của mỗi thành phần đơn vị đất đai, đến tính sản xuất của các khả năng chọn
    lựa sử dụng đất đai. Những quan điểm và định nghĩa liên hệ đến phương pháp cụ thể
    nhằm hổ trợ cho việc thiết lập nên những vấn đề quyết định ở các mức độ quy hoạch
    khác nhau.
    Những vấn đề sử dụng đất đai hiện tại đòi hỏi những giải pháp được tạo ra với
    sự hổ trợ của phương pháp tổng hợp trong vùng nông thôn và bán thành thị, thì thường
    được xuất phát từ những sự mâu thuẩn đối kháng giữa môi trường và phát triển. Tất cả
    việc này được thảo luận bao gồm xây dựng những quyết định để làm thế nào sử dụng
    những nguồn tài nguyên khan hiếm, tái lập lại vùng đất đai suy thoái hay cải thiện đất
    đai nông nghiệp chính, định cư những nông hộ nhỏ hay những nông trang cơ giới sẽ
    hổ trợ tốt hơn trong việc mỡ rộng dân số, hạn chế phát triển vùng đô thị vào trong các
    vùng nông nghiệp có chất lượng cao, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước khan
    hiếm, và những yêu cầu chuyên biệt cho phương pháp tổng hợp ngược lại với quy
    hoạch chuyên ngành của vùng ven biển.
    Thực hiện phương pháp tổng hợp thì tùy thuộc vào những chính sách hổ trợ quy
    hoạch cho sử dụng và quản lý bền vững nguồn tài nguyên đất đai, để tăng cường
    những thể chế thực thi và để đảm bảo sự bao gồm và tham gia hành động của các chủ
    thể trong tiến trình xây dựng quyết định. Những hoạt động này sẽ được hổ trợ bằng sự
    thay đổi các số liệu cơ bản về nguồn tài nguyên tự nhiên và cách sử dụng, thông qua
    việc kết hợp sử dụng hệ thống thông tin địa lý GIS. Những phương tiện kinh tế và xã
    hội cũng được mô tả và được sử dụng để đảm bảo sự những đóng góp của các chủ thể
    trong việc thỏa thuận sử dụng đất đai.
    Phương pháp tổng hợp cho quy hoạch sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất
    đai bắt buộc phải bao gồm tất cả các chủ thể trong tiến trình xây dựng quyết định cho
    tương lai của đất đai, và xác định đánh giá tất cả những đặc trưng chính của sinh học
    tự nhiên và kinh tế xã hội của các đơn vị đất đai. Điều này đòi hỏi sự xác định và thiết
    lập sự sử dụng hay không sử dụng của mỗi đơn vị đất đai về các mặt kỷ thuật thích
    hợp, khả năng kinh tế, xã hội chấp nhận và tính môi trường không suy thoái.
    Phương pháp chuyên ngành thuần cho quy hoạch sử dụng nguồn tài nguyên đất
    đai cần phải tránh, vì với phương pháp này có thể đưa đến những sự suy thoái không
    đoán trước được. Liên quan đến vấn đề môi trường cần thiết phải được đặt lên hàng
    1

  3. đầu do sự tăng trưởng quá nhanh của dân số trên thế giới, gia tăng những sự lệ thuộc
    vào nhau giữa các quốc gia và giữa các vùng trên thế giới, những chú ý tăng trưởng về
    giá trị của hệ sinh thái tự nhiên, và những nhận thức rằng những sử dụng đất đai hiện
    tại có thể ảnh hưởng đến hệ thống khí hậu toàn cầu. Phương pháp tổng hợp hơn hẳn
    phương pháp chuyên ngành là có ý nghĩa ngăn cản hay giải quyết được những mâu
    chuẩn liên quan đến sử dụng đất đai, khi nó đạt tối hảo tiến trình quy hoạch và thiết lập
    một môi trường có thể cho sự trung gian giữa, và xây dựng quyết định bởi, tất cả các
    chủ thể ở giai đoạn ban đầu.
    Dự đoán mức độ tăng dân số của thế giới có thể gấp đôi với khoảng 10 tỉ người
    vào năm 2050 (UNFPA, 1992; trong FAO, 1993). Do đó, hầu hết các nhà khoa học và
    chuyên gia trên thế giới đồng ý với nhau rằng cần thiết phải áp dụng những công nghệ
    nông nghiệp tiên tiến cho việc sử dụng nguồn tài nguyên đất đai để cung cấp lương
    thực đầy đủ, chất sợi, thức ăn gia súc, dầu sinh học và gổ lên gấp đôi. Trong thực tế,
    có những sự thiếu hụt đất đai trầm trọng trong nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia
    đang phát triển.
    Trong một nghiên cứu gần đây của FAO (Alexandratos, 1995; trong FAO,
    1993) ước lượng khoảng 92% của 1800 triệu ha đất đai của các quốc gia đang phát
    triển bao gồm luôn cả Trung Quốc thì có tiềm năng cho cây trồng sử dụng nước trời,
    nhưng hiện nay vẫn chưa sử dụng hết và đúng mục đích, trong đó vùng bán sa mạc
    Sahara ở Châu phi 44%; Châu mỹ lin và vùng Caribê 48%. Hai phần ba của 1800 triệu
    ha này tập trung chủ yếu một số nhỏ quốc gia như: 27% Brasil, 9% ở Zaire, và 30% ở
    12 nước khác. Một phần của đất tốt này vẫn còn để dành cho rừng hay vùng bảo vệ
    khoảng 45%, và do đó trong các vùng này không thật sự được sử dụng cho nông
    nghiệp. Một phần khác thì lại gặp khó khăn về mặt đất và dạng bậc thềm như khoảng
    72% vùng Châu phi bán sa mạc và vùng Châu mỹ la tinh.
    Trên 50% của 1800 triệu ha của đất để dành được phân loại ở cấp loại “ẩm”, thí
    dụ như quá ẩm cho hầu hết các loại cây trồng và không thích hợp lắm cho sự định cư
    của con người, hay còn gọi là “vùng thích nghi kém cho cây trồng”. Do đó, khả năng
    để mỡ rộng diện tích đất đai cho canh tác cây trồng thường bị giới hạn. Kết quả là tất
    cả những cố gắng để gia tăng sản lượng theo nhu cầu lương thực và các cái khác thì
    thường dựa chủ yếu vào sự thâm canh hóa cho sản xuất với những giống cây trồng có
    năng suất cao trong các vùng có tiềm năng cao. Đây là những vùng đất đai có đất tốt,
    địa hình thích hợp, điều kiện mưa và nhiệt độ thích hợp hay có khả năng cung cấp
    nước cho tưới, và dễ dàng tiếp cận với phân bón vô cơ và hữu cơ.
    FAO ước lượng rằng (Yudelman, 1994; trong FAO, 1993), đất nông nghiệp có
    thể mỡ rộng được khoảng 90 triệu ha vào năm 2010, diện tích thu hoạch có tăng lên
    đến 124 triệu ha do việc thâm canh tăng vụ cây trồng. Các vùng đất có khả năng tưới
    trong các quốc gia đang phát triển đang được mỡ rộng tăng thêm khoảng 23,5 triệu ha
    so với hiện tại là 186 triệu ha.
    Những nghiên cứu chi tiết hơn đang được thực hiện về tiềm năng tưới ở các
    quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Châu phi. Những nghiên cứu này chủ yếu tập
    trung trên các diện tích đất thích nghi kết hợp với các điều kiện địa hình và nguồn tài
    nguyên nước mặt và nước ngầm để thực hiện với chi phí thấp và không làm hủy hoại
    giá trị môi trường.
    Kết quả của thâm canh hóa có thể xảy ra được trong các vùng đất thiên nhiên
    ưu đãi hay trên các vùng đất mà con người phải can thiệp vào bằng đầu tư kinh tế như
    phát triển hệ thống tưới tiêu. Như vậy cho thấy rằng trong một tương lai gần đây sẽ
    giảm đi một cách có ý nghĩa diện đích đất/nông hộ nông thôn. Khả năng diện tích đất
    nông nghiệp trên nông hộ trong các quốc gia đang phát triển được dự phóng bởi FAO
    2
  4. cho năm 2010 chỉ còn gần phân nữa là 0,4 ha so với cuối thập niên 80 là 0,65 ha, hình
    ảnh này cũng cho thấy diện tích này sẽ nhỏ hơn vào những năm 2050. Ngược lại với
    các quốc gia đang phát triển, các quốc gia phát triển sẽ có sự gia tăng diện tích đất
    nông nghiệp trên đầu người do mức tăng dân số bị đứng chặn lại. Điều này sẽ dẫn đến
    một số đất nông nghiệp sẽ được chuyển sang thành các vùng đất bảo vệ thiên nhiên,
    hay vùng đất bảo vệ sinh cảnh văn hóa hoặc phục vụ cho các mục đích nghĩ ngơi của
    con người (Van de Klundert, et al., 1994; trong FAO, 1993). Tình trạng của các quốc
    gia nằm trong giai đoạn chuyển tiếp thì rất khó mà dự phóng bởi vì những tiến trình
    hiện tại là đang chuyển đổi từ đất đai nông nghiệp thuộc nhà nước sang quyền sử dụng
    đất đai tư nhân.
    Sự ước đoán của FAO thì bị giới hạn theo tỉ lệ thời gian đến năm 2010, khi mà sự
    thay đổi khí hậu toàn cầu được mong ước là ảnh hưởng không đáng kể trong suốt thời
    gian này. Điều này có thể sẽ khác vào những năm 2050 hoặc sau đó. Hậu quả của các
    mô hình về sự thay đổi của khí hậu thì ở các quốc gia đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng
    xấu hơn là thuận lợi về mặc an toàn lương thực (Norse và Sombroek, 1995; trong
    FAO, 1993).

    II. TÍNH CHẤT
    Với những áp lực và thực trạng sử dụng đất đai như nêu trên cho thấy nguồn tài
    nguyên đất đai ngày cadng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới gia tăng. Do đó
    đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để đạt
    được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo vệ
    được hệ sinh thái cây trồng và môi trường đang sống.
    Quy hoạch sử dụng đất đai là nền tảng trong tiến trình này. Đây là một thành
    phần cơ sở có liên quan đến hệ sinh thái các vùng núi, sa mạc hoang vu, hay các vùng
    đồng bằng ven biển, đồng thời lại nằm trong mục tiêu phát triển và bảo vệ rừng, đất
    trồng và tài nguyên ven biển. Quy hoạch sử dụng đất đai là yếu tố chính trong tất cả
    yêu cầu phát triển và bảo vệ các vùng đất đai nông nghiệp.
    Có những sự mâu thuẩn nhau trong sử dụng đất đai hiện nay. Nhu cầu về đất
    nông nghiệp, đồng cỏ, bảo vệ thiên nhiên, rừng, du lịch và phát triển đô thị thì lớn hơn
    nhiều so với nguồn tài nguyên đất đai hiện có. Trong các nước đang phát triển thì nhu
    cầu này càng cấp bách hơn trong mỗi năm. Dân số thế giới lệ thuộc vào số lượng/diện
    tích đất cho ra lương thực, nguyên liệu và việc làm sẽ tăng lên gấp đôi trong vòng 25
    đến 50 năm tới. Ngay cả một số vùng đất đai đầy đủ, người dân vẫn không đạt đến nhu
    cầu và lợi nhuận mong đợi trong việc sử dụng đất đai đó. Trong khi đó, sự suy thoái
    đất đai ở các nông trang, rừng hay nguồn tài nguyên nước càng ngày càng thấy rõ,
    nhưng trong từng cá thể của cộng đồng xã hội không thể có biện pháp riêng nào để hạn
    chế hoặc chấm dút tình trạng suy thoái này.

    1. Định nghĩa quy hoạch sử dụng đất đai
    Hiện nay có rất nhiều tài liêu nghiên cứu định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất
    đai (QHSDĐĐ) khác nhau, từ đó đưa đến những việc phát triển quan điểm và phương
    pháp được sử dụng trong QHSDĐĐ cũng khác nhau.
    Theo Dent (1988; 1993) QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lảnh đạo quyết
    định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn
    mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự chọn lựa này sẽ đáp ứng với những mục
    tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất
    đai.

    3

  5. Một định nghĩa khác của Fresco và ctv., (1992), QHSDĐĐ như là dạng hình
    của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm
    chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề
    hạn chế khác.
    Theo Mohammed (1999), những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về QHSDĐĐ
    là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình
    xây dựng quyết định cấp cao. Do đó QHSDĐĐ, trong một thời gian dài với quyết định
    từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì.
    Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm (UNCED, 1992;
    trong FAO, 1993) đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐĐ như sau QHSDĐĐ là một tiến
    trình xây dựng những quyết định để đưa đến nhứng hành động trong việc phân chia đất
    đai cho sử dụng để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất (FAO, 1995). Với cái
    nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự
    quyst định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác
    có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai.Cung cấp
    những thông tin tốt liên quan đến nhu cầu và sự chấp nhận của người dân, tiềm năng
    thực tại của nguồn tài nguyên và những tác động đến môi trường có thể có của những
    sự lựa chọn là một yêu cầu đầu tiên cho tiến trình quy hoạch sử dụng đất đai thành
    công. Ở đây đánh giá đất đai giữ vai trò quan trọng như là công cụ để đánh giá thực
    trạng của đất đai khi được sử dụng cho mục đích riêng biệt (FAO, 1976), hay như là
    một phương pháp để giải nghĩa hay dự đoán tiềm năng sử dụng của đất đai (Van
    Diepen và ctv., 1988). Do đó có thể định nghĩa:
    “Quy hoạch sử dụng đất đai là sự đánh giá tiềm năng đất nước có hệ thống, tính
    thay đổi trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội để chọn lọc và
    thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất. Đồng thời quy hoạch sử dụng
    đất đai cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đai đó mà nó
    phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên
    thiên nhiên trong tương lai”.
    Do đó, trong quy hoạch cho thấy:
    – Những sự cần thiết phải thay đổi,
    – Những cần thiết cho sự việc cải thiện quản lý, hay
    – Những cần thiết cho kiểu sử dụng đất đai hoàn toàn khác nhau trong các trường
    hợp cụ thể khác nhau.
    Các loại sử dụng đất đai bao gồm: đất ở, nông nghiệp (thủy sản, chăn nuôi,…)
    đồng cỏ, rừng, bảo vệ thiên nhiên và du lịch đều phải được phân chia một cách cụ thể
    theo thời gian được quy định. Do đó trong quy hoạch sử dụng đất đai phải cung cấp
    những hướng dẫn cụ thể để có thể giúp cho các nhà quyết định có thể chọn lựa trong
    các trường hợp có sự mâu thuẩn giữa đất nông nghiệp và phát triển đô thị hay công
    nghiệp hóa bằng cách là chỉ ra các vùng đất đai nào có giá trị nhất cho đất nông nghiệp
    và nông thôn mà không nên sử dụng cho các mục đích khác.

    2. Yêu cầu cho tính hữu dụng của quy hoạch sử dụng đất đai
    Có ba điều kiện cần thiết phải có để đạt được tính hữu dụng của quy hoạch sử
    dụng đất đai là:
    – Cần thiết phải thay đổi cách sử dụng đất đai, hay những tác động ngăn cản một
    vài sự thay đổi không nên đổi, và phải được chấp nhận bởi con người trong
    cộng đồng xã hội nơi đó.
    – Phải phù hợp với mong ước của chế độ chính trị và
    4

  6. – Có khả năng đưa vào thực hiện có hiệu quả.
    Những nơi nào mà các điều kiện này chưa thỏa thì cần phải tiến hành từng bước
    một bằng cách chọn các điểm điển hình để thực hiện, đồng thời cũng phải vận động
    người dân trong vùng hay nhà nước thông qua các kế hoạch bằng những chứng minh
    thực tế và giải trình rõ các mục tiêu tốt đẹp có thể đạt trong tương lai khi quy hoạch
    được thực hiện.

    3. Sử dụng tốt nhất nguồn tài nguyên hạn hẹp:
    Những nhu cầu cần thiết cơ bản của chúng ta như lương thực, nguyên liệu, dầu
    khí, quần áo và nhà cửa đều được lấy từ các nguồn tài nguyên đất đai có giới hạn. Dân
    số ngày một gia tăng dẫn đến nguồn tài nguyên đất đai ngày càng khan hiếm. Khi sử
    dụng đất đai thay đổi theo nhu cầu mới thì sẽ tạo ra những sự mâu thuẩn mới giữa các
    kiểu sử dụng đất đai và giữa những mong ước riêng tư cá nhân của người sử dụng đất
    đai với mong ước của cộng đồng. Đất đai thường được sử dụng cho việc đô thị hóa và
    công nghiệp hóa nên không còn nhiều để sử dụng cho nông nghiệp, đồng thời trong
    việc phát triển đất đai nông nghiệp thì lại bị hạn chế do sự cạnh tranh giữa đất nông
    nghiệp, đất rừng, vùng đất cho khả năng cung cấp nước và khu bảo tồn thiên nhiên.
    Khi xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai cho tốt và có hiệu quả hơn thường thi
    không phải là những ý tưởng mới. Trãi qua các năm tháng, người nông dân đã có
    những định hướng quy hoạch riêng theo nông hộ hay trang trại như kế hoạch trồng trọt
    theo từng mùa khác nhau và nơi nào cần thiết cho việc trồng các loại cây khác nhau.
    Những quyết định trong quy hoạch này thường là theo từng nhu cầu riêng của từng gia
    đình nông dân riêng rẽ, theo kiến thức chuyên môn hay kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật,
    khả năng lao động và nguồn vốn mà những nông dân này có được. Diện tích, số lượng
    nhân lực và những phức tạp ngày một gia tăng trong bản thân nông trang là những
    thông tin cần thiết cho phép chúng ta phải sử dụng các phương pháp phù hợp trong
    phân tích và đánh giá quy hoạch. Tuy nhiên:
    – Quy hoạch sử dụng đất đai không phải là quy hoạch trang trại ở các tỉ lệ khác
    nhau mà là sự quy hoạch các bước xa hơn trong tương lai để phù hợp với
    những mong ước của một cộng đồng xã hội.
    – Quy hoạch sử dụng đất đai phải bao gồm những sự tiên liệu trước nhu cầu cần
    thiết cho thay đổi trong sử dụng đất đai cũng như những tác động lên sự
    thay đổi đó.
    – Những mục tiêu của quy hoạch phải được thiết lập từ sự cấp bách của yêu cầu
    xã hội hay của nhà nước và được tính toán theo tình trạng hiện tại của khu
    vực đó.
    Trong nhiều nơi, hiện trạng sử dụng đất đai không thể làm tiếp tục được thực
    hiện bởi vì đất đai nơi đây ngày một suy thoái, thí dụ như sử dụng đất đai bằng cách
    phá rừng trên các vùng đồi dốc hay trên các vùng đất nghèo nàn, nên không thích hợp
    cho hệ thống canh tác bền vững lâu dài; và những hoạt động kỷ nghệ, nông nghiệp, đô
    thị hóa tạo ra sự ô nhiễm môi trường. Sự suy thoái nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể
    được đúc kết là do lòng tham, sự dốt nát, thiếu khả năng kiến thức chọn lựa, hay nói
    cách khác là việc sử dụng đất đai nhu cầu cần thiết ở hiện tại mà không có sự đầu tư
    lâu dài cho tương lai.
    Do đó, để quy hoạch sử dụng đất đai đáp ứng với các mục tiêu là nhằm làm thế
    nào để sử dụng đất đai được tốt nhất trong điều kiện nguồn tài nguyên đất đai ngày
    càng hạn hẹp thì có thể đề nghị tiến hành theo các bước sau:

    5

  7. – Đánh giá nhu cầu cần thiết hiện tại – tương lai và đánh giá một cách khoa học,
    có hệ thống khả năng cung cấp từ đất đai cho các nhu cầu đó;
    – Xác định và có giải pháp cho các mâu thuẩn trong sử dụng đất đai, giữa nhu
    cầu cần thiết của cá nhân với nhu cầu chung của cộng đồng xã hội, và giữa nhu
    cầu của thế hệ hiện tại và những thế hệ tương lai;
    – Tìm kiếm ra các sự chọn lựa bền vững và từ đó chọn ra cái cần thiết nhất cho
    việc đáp ứng các yêu cầu đã xác định;
    – Kết quả thực hiện quy hoạch sẽ mang lại sự thay đổi theo mong ước của công
    đồng và phát triển;
    – Rút tỉa bài học từ các kinh nghiệm trong quá trình quy hoạch và thực hiện quy
    hoạch để có thể chỉnh sửa kịp thời theo sự thay đổi của các yếu tố tác động khác
    có liên quan.
    Thông thường thì không có một bảng kế hoạch cụ thể, chi tiết cho sự thay đổi
    trong sử dụng đất đai, mà trong toàn tiến trình quy hoạch là một sự lập lại và tiếp nối
    liên tục. Trong mỗi giai đoạn, khi có được những thông tin tốt hơn thì phần quy hoạch
    sẽ được cập nhật hóa để toàn chương trình quy họach đạt mức độ chính xác cao hơn.

    III. MỤC TIÊU
    1. Tiêu đề
    Mục tiêu của quy hoạch được định nghĩa như là làm thế nào để sử dụng đất đai
    được tốt nhất. Có thể phân chia ra tính chuyên biệt riêng của từng đề án. Mục tiêu của
    quy hoạch có thể được gom lại trong 3 tiêu đề: hiệu quả, bình đảng – có khả năng
    chấp nhận, và bền vững.
    1.1 Hiệu quả
    Sử dụng đất đai phải mang tính chất kinh tế, do đó một trong những mục tiêu
    của quy hoạch để phát triển là mang lại tính hiệu quả và nâng cao sản lượng, chất
    lượng trong sử dụng đất đai. Ở bất kỳ một hình thức sử dụng đất đai riêng biệt nào thì
    nó cũng có tính thích nghi cho từng vùng riêng biệt của nó hay đôi khi nó thích nghi
    chung cho cả các vùng khác. Hiệu quả chỉ đạt được khi có sự đối chiếu giữa các loại
    sử dụng đất đai khác nhau với những vùng đất đai cho lợi nhuận cao nhất mà chi phí
    đầu tư thấp nhất. Tuy nhiên, hiệu quả có ý nghĩa khác nhau đối với các chủ thể khác
    nhau. Đối với những nông dân cá thể thì hiệu quả là làm sao vốn thu hồi từ đầu tư lao
    động đến vật chất được cao nhất hay lợi nhuận cao nhất từ các vùng đất có thể cho
    được. Còn mục đích của nhà nước thì phức tạp hơn bao gồm cả việc cải thiện tình
    trạng trao đổi hàng hóa với nước ngoài thông qua sản xuất cho xuất khẩu hay thay thế
    dần việc nhập khẩu.
    1.2 Bình đẳng và có khả năng chấp nhận được
    Sử dụng đất đai cũng mang tính chấp nhận của xã hội. Những mục tiêu đó bao
    gồm an toàn lương thực, giải quyết công ăn việc làm và an toàn trong thu nhập của các
    vùng nông thôn. Cải thiện đất đai và tái phân bố đất đai cũng phải được tính đến để
    giảm bớt những bất công trong xã hội hay có thể chọn lọc các kiểu sử dụng đất đai
    thích hợp để giảm dần và từng bước xóa đi sự nghèo đói tạo ra sự bình đẳng trong sử
    dụng đất đai của mọi người trong xã hội. Một cách để thực hiện được những mục tiêu
    này là nâng cao tiêu chuẩn đời sống của từng nông hộ. Tiêu chuẩn mức sống này bao
    gồm mức thu nhập, dinh dưỡng, an toàn lương thực và nhà cửa. Quy hoạch là phải đạt
    được những tiêu chuẩn này bằng cách thông qua việc phân chia đất đai cho các kiểu sử
    6

  8. dụng riêng biệt cũng như phân chia tài chánh hợp lý và đồng thời với các nguồn tài
    nguyên khác.
    1.3 Tính bền vững
    Sử dụng đất đai bền vững là phải phù hợp với những yêu cầu hiện tại đồng thời
    cũng phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ kế tiếp trong tương
    lai. Điều này đòi hỏi một sự kết hợp giữa sản xuất và bảo vệ: sản xuất ra hàng hóa cho
    nhu cầu ở hiện tại kết hợp với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, trong quá
    trình sản xuất lệ thuộc vào tài nguyên nên việc bảo vệ và sử dụng cân đối nguồn tài
    nguyên này là nhằm bảo đảm sự sản xuất được lâu bền trong tương lai.
    Trong một cộng đồng, khi nguồn tài nguyên đất đai bị hủy hoại chính là sự hủy
    hoại tương lai của cộng đồng đó. Sử dụng đất đai phải được quy hoạch cho toàn cộng
    đồng và xem như là một thể thống nhất bởi vì sự bảo vệ đất, nước và các nguồn tài
    nguyên đất đai khác có nghĩa là bảo vệ tài nguyên đất đai cho từng cá thể riêng biệt
    trong cộng đồng đó.

    2. Sự tương hợp giữa các mục tiêu đối kháng
    Trong các mục tiêu đề ra cho việc sử dụng đât đai, luôn luôn cho thấy có sự đối
    kháng giữa các mục tiêu. Quá công bình thì thường đưa đến kém hiệu quả. Trong giai
    đoạn ngắn không thể nào đáp ứng các yêu cầu hiện tại mà không phá hủy một phần
    nguồn tài nguyên thiên nhiên, thí dụ như: phá rừng làm rẩy hay phá rừng nuôi tôm
    vùng ven biển. Nhà lảnh đạo phải quan tâm đến sự tương hợp giữa những mục tiêu
    khác nhau này, nhưng nếu hệ thống chung của xã hội muốn được tồn tại thì việc sử
    dụng tài sản thiên nhiên này phải được đền bù bằng sự phát triển của con người.
    Thông tin tốt là rất cần thiết, trong đó cần thiết nhất là những thông tin về nhu
    cầu của con người, về nguồn tài nguyên đất đai, và về kết quả của môi trường tự nhiên
    và kinh tế xã hội của những quyết định chọn lựa. Công việc của nhà quy hoạch sử
    dụng đất đai là đảm bảo những quyết định được thực hiện trên cơ sở của sự đồng ý
    nhất trí, nếu chuyện đó không xảy ra thì xem như là có sự bất đồng ý kiến và tạo ra
    mâu thuẩn.
    Trong nhiều trường hợp, quy hoạch có thể giảm chi phí sản xuẩt; thí dụ như
    việc giới thiệu các kỷ thuật mới thích hợp. Qui hoạch cũng có thể giúp hóa giải những
    mâu thuẩn bằng việc cần phải có sự tham gia của cộng đồng xã hội trong tiến trình quy
    hoạch và bằng việc trình bày ra các sơ sở hợp lý và những thông tin nền tảng cho việc
    ra quyết định.

    IV. PHẠM VI
    1. Tiêu điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
    Yêu cầu cần thiết của con người là phải sống và hoạt động trong suốt tiến trình
    quy hoạch. Nông dân địa phương, hay những người sử dụng đất đai khác và cộng đồng
    xã hội có cuộc sống tùy thuộc vào đất đai phải chấp nhận sự cần thiết trong việc thay
    đổi sử dụng đất đai và cuộc sống của họ phải theo những kết quả thay đổi đó.
    Quy hoạch sử dụng đất đai phải theo chiều hướng thuận. Nhóm quy hoạch phải
    tìm ra những yêu cầu, kiến thức, kỷ năng, nhân lực và vốn của cộng đồng hay nguồn
    vốn từ các tổ chức khác. Đồng thời phải nghiên cứu các vấn đề khó khăn trong hiện
    trạng sử dụng đất đai hiện tại và từ đó cố gắng tuyên truyền rộng rãi cho người dân
    trong cộng đồng hiểu rỏ sự nguy hại nếu tiếp tục sử dụng đất đai như hiện nay và giải

    7

  9. thích họ hiểu rõ những khả năng tốt đẹp và cần thiết trong việc thay đổi cách sử dụng
    đất đai cho tương lai.
    Sử dụng luật để ngăn cản hay ép buộc con người thường dễ đi đến thất bại và
    tạo ra nhiều mâu thuẩn. Khả năng chấp nhận của địa phương là cần thiết nếu có sự
    tham gia của địa phương trong tiến trình quy hoạch. Sự ủng hộ của chính quyền địa
    phương thì thật sự cần thiết đồng thời trong đó sự tham gia của các cơ quan ban ngành
    liên quan đến việc thực hiện dự án cũng giữ vai trò rất quan trọng. Từ đó cho thấy
    trong quy hoạch sử dụng đất đai phải có các tiểu điểm chính cần được xác định hiểu
    biết cụ thể như sau:
    – Đất đai thì không giống nhau ở mọi nơi:
    Đất đai, bản thân nó đã là tiêu điểm trong quy hoạch sử dụng đất đai. Vốn, lao
    động, kỷ năng quản lý và kỷ thuật có thể đưa đi đến nơi nào cần đến. Nhưng đất đai
    không thể di chuyển được, và cho thấy những vùng đất khác nhau thì cho những khả
    năng khác nhau và những vấn đề quản lý cũng khác nhau. Không phải nguồn tài
    nguyên đất đai là không thay đổi, điều này khá rõ ràng trong trường hợp của khí hậu
    và thực vật, các trường hợp khác như sự thiếu hụt nguồn nước hay sự mất đất gây ra
    do xoái mòn hay sự nhiễm mặn thì cũng chỉ cho thấy rõ rằng là nguồn tài nguyên đang
    bị suy thoái. Những thông tin đầy đủ về hiện trạng của nguồn tài nguyên đất đai rất
    cần thiết cho quy hoạch sử dụng đất đai.
    – Kỷ thuật:
    Một thành phần thứ ba trong quy hoạch là kiến thức và kỷ thuật sử dụng đất
    đai: nông học, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc và những vấn đề khác. Những
    kiến thức kỷ thuật đề nghị người sử dụng đất đai phải có để sử dụng nguồn vốn, kỷ
    năng, và những nguồn tài nguyên cần thiết khác một cách thích hợp. Những kỷ thuật
    mới có thể bao hàm luôn cả về xã hội lẫn môi trường tự nhiên mà nó phải được trình
    bày đầy đủ bởi nhà quy hoạch.
    – Tổng hợp:
    Trước đây trong quy hoạch sử dụng đất đai thường vướng mắc những sai lầm là
    chỉ tập trung một cách hạn hẹp vào nguồn tài nguyên đất đai mà con người không đủ
    thời gian để suy nghĩ là nguồn tài nguyên này phải được sử dụng như thế nào. Thông
    thường, đất đai nông nghiệp tốt cũng có thể thích hợp cho những loại sử dụng cạnh
    tranh khác. Quyết định sử dụng đất đai không những được sử dụng trên nền tảng của
    khả năng thích nghi đất đai mà còn phải theo những nhu cầu sản xuất và mở rộng diện
    tích canh tác, việc mở rộng này thường lan đến những vùng đất chỉ được sử dụng cho
    các mục đích chuyên biệt khác. Do đó, quy hoạch là phải tổng hợp tất cả các thông tin
    về khả năng thích nghi đất đai, những nhu cầu về xã hội từ các loại sản phẩm hàng hóa
    và những cơ hội thích hợp với nhu cầu cho việc hữu dụng trên vùng đất đai đó trong
    hiện tại và cả tương lai.
    Do đó, quy hoạch sử dụng đất đai không phải là một chuyên đề riêng như quy
    hoạch phát triển nông hộ trồng các loại cây trồng đơn giản, hay một hệ thống thủy
    nông tưới riêng cho nông hộ mà quy hoạch sử dụng đất đai phải được thực hiện dưới
    dạng tổng hợp theo hướng phát triển từ kế hoạch chiến lược phát triển cấp quốc gia
    đến mức độ chi tiết cho các đề án riêng biệt hay các chương trình ở cấp Huyện hay địa
    phương cấp Xã.

    2. Các cấp độ quy hoạch
    Quy hoạch sử dụng đất đai có thể áp dụng ở 3 cấp theo FAO (1993): cấp quốc
    gia, cấp tỉnh/thành phố và cấp địa phương (bao gồm cấp Huyện và Xã). Không cần
    8

  10. thiết phải theo thứ tự cấp độ nào, tùy theo từng quốc gia mà có thể sử dụng cấp nào mà
    chính quyền nơi đó có thể quyết định được việc quy hoạch sử dụng đất đai. Mỗi cấp có
    những quyết định cho việc sử dụng đất đai khác nhau, do vậy mỗi cấp sẽ có phương
    pháp quy hoạch sử dụng đất đai cũng khác nhau. Tuy nhiên ở mỗi cấp quy hoạch, cần
    phải có những chiến lược sử dụng đất đai, chính sách để chỉ rõ các ưu tiên quy hoạch,
    từ đó trong mỗi đề án sẽ chọn lựa các thứ tự ưu tiên theo chiến lược phát triển và thực
    hiện đề án quy hoạch theo từng bước một cách nhịp nhàng và thích hợp.
    Sự tác động qua lại ở 3 cấp này là rất cần thiết và quan trọng. Các thông tin cho
    các cấp độ đều có thể theo cả hai chiều đi và ngược lại như trình bày trong Hình 1.1. Ở
    mỗi cấp độ được quy hoạch thì mức độ chi tiết càng gia tăng theo chiều từ trên xuống
    và đặc biệt khi xuống cấp độ địa phương thì sự tham gia của con người tại địa phương
    giữ vai trò rất quan trọng.
    2.1 Cấp độ quốc gia
    Ở cấp độ quốc gia thì quy hoạch liên quan đến mục tiêu phát triển của quốc gia
    đó và cũng liên quan đến khả năng phân chia nguồn tài nguyên. Trong nhiều trường
    hợp, quy hoạch sử dụng đất đai không bao gồm sự phân chia thật sự đất đai cho các sử
    dụng khác nhau, nhưng lại đặt thành dạng ưu tiên cho những đề án cấp Tỉnh. Quy
    hoạch sử dụng đất đai cấp quốc gia bao gồm:
    – Chính sách sử dụng đất đai: cân bằng giữa những sự canh tranh trong nhu
    cầu về đất đai từ các ngành khác nhau của kinh tế – sản lượng lương thực,
    cây trồng xuất khẩu, du lịch, bảo vệ thiên nhiên, nhà cửa, phương tiện công
    cộng, đường xá, kỷ nghệ;
    – Kế hoạch phát triển quốc gia và ngân sách: xác định đề án và phân chia
    nguồn tài nguyên cho phát triển;
    – Điều phối các ngành khác nhau trong việc sử dụng đất đai;
    – Xây dựng luật cho từng chuyên ngành như: quyền sử dụng đất đai, khai thác
    rừng, và quyền sử dụng nguồn nước.
    Những mục tiêu của quốc gia thì phức tạp trong việc quyết định chính sách, luật
    lệ và tính toán tài chính ảnh hưởng đến dân chúng và trong vùng rộng lớn. Chính
    quyền không thể là những nhà chuyên môn để đối phó với tất cả các vấn đề trong sử
    dụng đất đai, do đó, trách nhiệm của nhà quy hoạch là trình bày những thông tin cần
    thiết có liên quan để chính quyền có thể hiểu rõ và có tác động trong việc tiến hành
    thực hiện các quy hoạch.
    2.2 Cấp độ Tỉnh
    Cấp độ Tỉnh không cần thiết là do theo sự phân chia hành chính của Tỉnh, tuy
    nhiên trên tầm nhìn chung của cấp quốc gia đối với Tỉnh thì khi quy hoạch không phải
    cứng nhắc quá theo sự phân chia hành chính mà nó giữ vai trò là bậc trung gian giữa
    quy hoạch cấp quốc gia và cấp địa phương. Những đề án phát triển thường nằm ở cấp
    độ này vì đây là bước đầu tiên trong quy hoạch đa dạng hoá đất đai và tính thích nghi
    của nó để phù hợp với những mục tiêu của đề án. Quy hoạch ở cấp quốc gia, trong giai
    đoạn đầu cần có những thảo luận những ưu tiên phát triển cấp quốc gia và được dịch
    giải ra các đề án cho Tỉnh. Những mâu thuẩn trong ước muốn giữa cấp quốc gia và
    tỉnh sẽ được hóa giải trong cấp này. Những vấn đề cần quan tâm trong cấp này bao
    gồm:
    – Xác định vị trí phát triển như khu đô thị, khu dân cư mới, phát triển nông
    nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; xây dựng hệ thống tưới hay hệ thống cung
    cấp nước;
    9
  11. – Nhu cầu cho cải thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng như: hệ thống cung cấp
    nước, thoát nước, hệ thống giaothong, thương mại và những hổ trợ trong thị
    trường hàng hóa;
    – Phát triển những hướng dẫn về quản lý đất đai, trong việc cải thiện sử dụng
    đất đai cho mỗi loại đất đai khác nhau.
    2.3 Cấp độ địa phương (Huyện/Xã)
    Đơn vị qui hoạch cấp địa phương có thể là: huyện, hay một nhóm các xã hay
    một khu vực nằm trong vùng dự án. Ở cấp độ này, quy hoạch thường dễ dàng phù hợp
    với mong ước của người dân, và cũng kích thích sự đóng góp ý kiến của người dân địa
    phương trong quy hoạch. Trong bước đầu khi thảo luận qui hoạch ở cấp độ Tỉnh,
    chương trình thay đổi sử dụng đất đai hay quản lý phải được thực hiện mang địa
    phương tính. Về mặt chọn lựa, đây là mức độ đầu tiên của quy hoạch với những ưu
    tiên được đề ra bởi những người dân địa phương. Quy hoạch cấp địa phương thường
    thực hiện trong một vùng riêng biệt của đất đai với những gì sẽ được làm, nơi nào, khi
    nào và ai sẽ chịu trách nhiệm. Như:
    – Lắp đặc hệ thống tưới, tiêu và những công việc bảo vệ;
    – Thiết kế cơ sở hạ tầng: giao thông, vị trí chợ cho hàng nông sản, phân phối
    phân bón, thu gom các sản phẩm nông nghiệp, hay những hoạt động khác có
    quan hệ trực tiếp đến người dân;
    – Vị trí các loại cây trồng chuyên biệt thích nghi cho từng vùng đất khác nhau,
    phân chia sử dụng đất theo giải thửa.
    Ở cấp địa phương này thường cũng phải đáp ứng với những đòi hỏi trực tiếp từ
    thị trường; thí dụ như vùng thích nghi cho lúa, hay cây ăn trái phải phù hợp với những
    đề nghị của các công ty có liên quan như: “đất này thích nghi, đất này không thích
    nghi; cần thiết phải quản lý thực hành; chi phí đầu tư cao nhưng thu hồi cũng cao…”
    Nhìn chung, quy hoạch ở những cấp khác nhau cần có những thông tin ở những
    tỉ lệ khác nhau cũng như những thông tin ở mức độ tổng quát hóa. Những thông tin
    này có thể được xác định trong các bản đồ.
    – Tỉ lệ bản đồ thích hợp nhất cho quy hoạch cấp quốc gia mà trong đó toàn quốc
    gia có được trong một tờ bản đồ có thể là 1/5.000.000, 1/1.000.000 hay lớn hơn.
    – Trong khi đó thì quy hoạch cấp Tỉnh cần bản đồ tỷ lệ lớn hơn khoảng 1/50.000
    hay 1/100.000, tuy nhiên ở cấp độ này có thể sử dụng những thông tin tóm lược
    ở các tỉ lệ bản đồ 1/250.000.
    – Ở cấp độ địa phương, bản đồ có thể ở tỉ lệ giữa 1/20.000 đến 1/5.000 là tốt
    nhất.
    Có thể sử dụng những bản đồ được tạo ra từ không ảnh để làm bản đồ nền ở cấp
    độ địa phương, vì kinh nghiệm cho thấy người dân địa phương có thể nhận diện ra
    từng khu vực nhà ở và ruộng đất của họ trên không ảnh.
    Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, trong quy hoạch được chia ra làm 4 cấp, đó
    là: cấp quốc gia, cấp Tỉnh, cấp Huyện và cấp Xã. Do đó trong phương pháp và tỷ lệ
    bản đồ cho quy hoạch sử dụng đất đai cũng chi tiết hơn.

    3. Các tổ chức và kế hoạch phát triển có liên quan
    Như định nghĩa ban đầu thì quy hoạch sử dụng đất đai không phải là một
    chuyên ngành riêng, ngoại trừ nhà nước đặt thành một cơ quan chuyên phụ trách về
    lảnh vực này, còn lại thì trong quy hoạch phải liên kết với các ngành: nông nghiệp,
    10

  12. lâm nghiệp, thủy lợi,.v.v. Khi thực hiện xây dựng đề án sẽ cần sự giúp đở tham gia của
    các trung tâm khuyến nông tại địa phương đó.
    Thường thì không thấy có sự phân biệt rõ ràng ranh giới giữa quy hoạch sử
    dụng đất đai và những hướng phát triển nông thôn khác. Thí dụ, những mong muốn
    thay đổi sử dụng đất đai như đưa vào cây trồng có kinh tế. Để quản lý tốt và thành
    công đòi hỏi phải sử dụng phân bón. Điều này chỉ có thể làm được khi nào có những
    trung tâm phân phối phân bón tại địa phương với những khuyến cáo sử dụng loại phân
    bón như thế nào và có luôn một hệ thống tính dụng để chi trả cho nông dân.
    Dịch vụ địa phương sẽ không mang tính hữu dụng cao nếu không có một hệ
    thống phân phối cấp quốc gia, những nơi sản xuất hiệu quả và cả nguồn ngoại tệ để
    nhập khẩu các vật tư cần thiết. Xây dựng các nhà máy sản xuất phân bón và tổ chức hệ
    thống phân phối cho toàn quốc gia không nằm trong phần quy hoạch sử dụng đất đai,
    nhưng nếu có được các tư liệu mô tả và tính toán khả năng thì sẽ giúp cho qui hoạch
    sử dụng đất đai được thành công hơn. Hay nói cách khác trung tâm phân phối liên hệ
    đến dân số và sử dụng thích hợp đất đai là phần rất cần thiết trong công việc của nhà
    quy hoạch sử dụng đất đai.
    Do đó, ngoài phạm vi hoạt động liên quan đến điều kiện tự nhiên và môi trường
    mà nhà quy hoạch sử dụng dụng phần lớn còn lại phải kết hợp với những đóng góp của
    các chuyên môn kỷ thuật khác. Xa hơn nữa, thì chính sách trong phạm vi quốc gia, chế
    độ giá cả…. cũng là một trong những điều tiên quyết cho việc thành công trong quy
    hoạch sử dụng đất đai.

    V. CON NGƯỜI TRONG QUY HOẠCH
    Quy hoạch sử dụng đất đai bao gồm nhiều người, nhiều ngành khác nhau cùng
    làm việc để đạt được những mục tiêu chung. Ba nhóm người chính cùng hoạt động
    trong đó là: người sử dụng đất đai, nhà lảnh đạo, và đội quy hoạch.

    1. Người sử dụng đất đai
    Đây là những người dân sống trong vùng quy hoạch và đời sống của họ lệ thuộc
    hoàn toàn hay từng phần vào vùng đất này. Không phải chỉ bao gồm nông dân, người
    làm nông nghiệp nói chung, hay những người khác trong vùng chịu ảnh hưởng trực
    tiếp của sử dụng đất đai mà còn bao gồm luôn cả những người sử dụng các sản phẩm
    của họ, thí dụ như các nhà máy chế biến thịt, sản phẩm cây trồng, nhà máy xây xát,
    nhà máy cưa hay các xưởng đóng đồ gỗ. Điều cần thiết là phải bao gồm tất cả các
    thành phần này trong quy hoạch sử dụng đất đai. Do đó, họ phải đặt toàn bộ kế hoạch
    cho có hiệu quả trong sử dụng đất đai và sử dụng sản phẩm của đất đai để cho thấy
    mọi người đều sẽ thừa hưởng các phần lợi nhuận cũng như phúc lợi xã hội sẽ có được
    trong tiến trình thực hiện đề án quy hoạch sử dụng đất đai.
    Kinh nghiệm trong việc xác định các đề án cho thấy người dân địa phương khi
    sử dụng nguồn tài nguyên thường bỏ quên việc ảnh hưởng đến môi trường cũng như
    các nguồn tài nguyên quan trọng khác cần được bảo vệ. Trong trường hợp người dân
    nắm lấy cơ hội phát triển, và tự nguyện cùng tham gia quy hoạch sử dụng đất đai thì
    chương trình quy hoạch sẽ hoàn thiện nhanh hơn là trong trường hợp ép buộc người
    dân vào trong quy hoạch đó. Đồng thời cho thấy nếu không có sự hổ trợ, giúp đở của
    các lảnh đạo địa phương thì đề án quy hoạch cũng khó có thể thành công.
    Để có sự tham gia vào tiến trình quy hoạch của toàn cộng đồng xã hội thì vẫn
    còn là vấn đề thách đố cho các nhà quy hoạch. Nhà quy hoạch phải đầu tư nhiều thời
    gian và nguồn tài nguyên để hổ trợ và nâng cao trình độ kiến thức cho các người tham
    11

  13. gia thông qua các phương tiện truyền thanh, báo chí, hội thảo chuyên môn, và khuyến
    nông. Thông thường cho thấy những cố gắng thành công nhất là biết kết hợp giữa các
    nghiên cứu kỹ thuật với mong ước của người địa phương đang sống giúp cho quy
    hoạch được tốt hơn.

    12

  14. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN QUỐC GIA

    Kế hoạch sử dụng đất đai quốc gia

    TỈNH, TP

    Những khó khăn và
    cơ hội ở Tỉnh Chính sách và ưu
    tiên của quốc gia

    Kế hoạch sử dụng đất đai Tỉnh

    HUYỆN, XÃ

    Những nhu cầu,
    khó khăn địa phương
    những kiến thức địa
    phương của cơ hội sử
    dụng đất đai
    Chính sách và ưu
    tiên của Tỉnh

    Kế hoạch sử dụng đất đai địa phương (Huyện/Xã)

    Hình 1.1 : Liên quan hai chiều giữa các cấp độ quy hoạch sử dụng đất đai (FAO, 1993)

    13

  15. 2. Các nhà lãnh đạo
    Trách nhiệm của nhà lãnh đạo là làm sao để đề án có hiệu quả. Ở cấp độ quốc
    gia và Tỉnh, họ là những Bộ Trưởng hay chủ tịch Tĩnh, còn cấp địa phương thì những
    người lãnh đạo này nằm trong hội đồng của chính quyền bao gồm chủ tịch Huyện, Xã
    đến các lãnh đạo ban ngành có liên quan.
    Nhóm quy hoạch sẽ cung cấp những thông tin và cố vấn chuyên môn, còn các
    nhà lãnh đạo thường đưa ra các hướng và mục đích phát triển đồng thời cũng chỉ cho
    thấy khả năng thực hiện đề án nếu như có sự chọn lựa các kiểu quy hoạch đã được đề
    ra. Mặc dù lãnh đạo nhóm quy hoạch hiện diện liên tục trong quá trình hoạt động quy
    hoạch nhưng các nhà lãnh đạo cũng phải nằm trong nhóm quy hoạch này theo từng
    thời gian cố định để thảo luận và phân tích từng khả năng có được trong quá trình xây
    dựng quy hoạch.
    Các nhà lãnh đạo giữ vai trò then chốt trong việc hổ trợ cho sự tham gia chung
    của cộng đồng xã hội trong vùng quy hoạch thông qua việc đáp ứng những mong ước
    cụ thể của người dân cũng như chỉ rõ cho người dân thấy con đường đi đến sự tốt đẹp
    của toàn cộng đồng xã hội trong tương lai.

    3. Đội quy hoạch
    Một trong những tính chất cần thiết trong quy hoạch sử dụng đất đai là xử lý đất
    đai và sử dụng đất đai như là trong một tổng thể. Vấn đề này bao gồm việc kiểm soát
    chéo giữa các chuyên ngành khác nhau như: tài nguyên thiên nhiên, công chánh, nông
    nghiệp và khoa học xã hội, nên trong mọi hoạt động phải có một đội quy hoạch cụ thể
    đa ngành. Cụ thể là trong đội phải có những chuyên gia có kiến thức sâu và chuyên
    môn như: nhà khảo sát đất, nhà đánh giá đất đai, nhà nông học, chuyên gia lâm nghiệp,
    các chuyên gia về chăn nuôi thú y, kỷ sư công chánh, nhà kinh tế và nhà xã hội học.
    Những chuyên gia chuyên môn này thì có thể có ích giá trị cho quy hoạch cấp
    độ quốc gia. Ở cấp độ địa phương thì đội quy hoạch mang tính chuyên biệt hơn, bao
    gồm nhà quy hoạch sử dụng đất đai với một hoặc hai trợ lý. Mỗi người phải tự khắc
    phục những khó khăn trong khoảng quá rộng về các lảnh vực chuyên môn của công
    việc và sẽ cần thêm sự hổ trợ của các nhà chuyên môn sâu khi cần. Những cơ quan nhà
    nước hay trường Đại học là những nơi có sự giúp đở về nguồn tài liệu và nhân lực rất
    tốt trong quy hoạch. Vai trò của con người và mối liên quan với nhau trong QH được
    trình bày tóm tắt trong Hình 1.2.

    14

  16. NGƯỜI SỬ DỤNG
    Xuất xứ của nhu cầu cho nguồn tài
    nguyên đất đai
    Cung cấp lao động, vốn, quản lý
    Sản xuất hàng hóa và dịch vụ
    Thực hiện quy hoạch trên thực tế

    Thông tin về nhu cầu hiểu biết,
    đất đai và sử dụng đất đai

    ĐỘI QUY HOẠCH CÁC BAN NGÀNH
    Hổ trợ các nhà lảnh đạo Thông tin kỷ thuật
    PHÁP LUẬT Thực hiện công việc
    Pháp luật nhà nước
    Thông tin về đất đai và sử dụng Thông tin công cộng và dịch vụ
    Xây dựng quy hoạch
    Tác động quy hoạch

    NHÀ LẢNH ĐẠO
    Hướng dẫn tiến trình quy hoạch
    Giới thiệu các ban ngành và nhà
    THỰC HIỆN quy hoạch
    Chính sách Duyệt quy hoạch
    Hành động
    Phân chia nguồn tài nguyên

    Hình 1.2 : Con người trong quy hoạch.

    4. Quy hoạch là một tiến trình lập lại
    Quy hoạch phải được liên tục. Không bao giờ chúng ta có đầy đủ tất cả các kiến
    thức về đất đai và cách quản lý nó, cũng như tất cả những thông tin và các kinh
    nghiệm khác, do đó trong quy hoạch sẽ có sự thay đổi. Trong phần đầu, các tiến trình
    quy hoạch được thực hiện theo từng bước nhưng trong thực tế đôi khi cần thiết phải
    lặp lại những bước trước đó đã được thực hiện thông qua một số kinh nghiệm vừa có
    được. Một cách cụ thể thì trong đề cương sử dụng đất đai có được từ bước thứ 7 với
    tính mở để cho phép thảo luận thêm và có thể viết lại nhiều lần do phải lập lại khi sửa
    đổi các bước ban đầu trong tiến trình quy hoạch trước khi có thể chọn một cách chắc
    chắn và đưa vào thực hiện được. Những thay đổi xa hơn cũng có thể cần thiết xảy ra
    trong suốt thời gian thực hiện do những điều kiện khách quan bên ngoài thay đổi, thí
    dụ như sự phát triển của thị trường mới cho sản phẩm hay sự thay đổi chính sách của
    nhà nước.
    Công việc của nhà quy hoạch không bao giờ chấm dứt. Kết quả tốt của một vài
    sự thay đổi trong sử dụng đất đai cũng có thể cho thấy được sự thành công trong quy
    hoạch. Về mặc chu kỳ thì sự thay đổi sử dụng đất đai theo mong ước trong khoảng 5,
    10 hay 20 năm về trước cho thấy không còn thích hợp nữa trong các trường hợp của
    15

  17. điều kiện hiện nay. Những đặc tính về chu kỳ hay sự lặp lại của quy hoạch sử dụng đất
    đai được trình bày trong các phần trên cho thấy rõ là trong một khoảng thời gian nào
    đó ở giai đoạn theo dõi và chỉnh sửa các phần quy hoạch trước đó không còn thấy hiệu
    quả nữa và nhà quy hoạch cần thiết phải đi trở lại từ bước 10 thành bước 1, và trở lại
    cho một chu kỳ quy hoạch mới.

    16

  18. CHƯƠNG II
    CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CHO QUY HOẠCH
    SỬ DỤNG BỀN VỮNG NGUỒN TÀI NGUYÊN
    ĐẤT ĐAI

    I. QUAN ĐIỂM TRONG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
    ĐAI
    1. Quy hoạch sử dụng đất đai và quy hoạch đô thị
    Về mặt quy hoạch đô thị, mục đích chính là làm sau tối ưu hóa cơ sở hạ tầng đô
    thị của những đơn vị đất đai hành chánh như hoạt động giao thông – đường xá, đường
    rầy tàu hỏa, sân bay, bến cảng, nhà máy công nghiệp và những kho tàng tồn trử sản
    phẩm; khai thác mõ và sản xuất ra điện, và các hoạt động cho thành phố và khu dân cư
    – trong việc dự đoán trước sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội, và tính đến
    kết quả của phân vùng và quy hoạch sử dụng đất đai. Đó là những khía cạnh phải có
    cho việc phát triển nông thôn và đô thị, gần đây nó chiếm một vai trò quan trọng trội
    hẳn. Quy hoạch đô thị thông thường được thực hiện bởi chính phủ nhà nước, hay
    những tổ chức chính quyền địa phương cho việc làm tốt hơn cuộc sống của cộng đồng.
    Mục đích được tính gần như toàn diện hơn hay tầm nhìn tổng thể của sự phát triển một
    vùng hơn là chỉ phát triển cho những cá thể riêng biệt. Quy hoạch đô thị có hai chức
    năng chính: phát triển cơ sở hạ tầng hữu lý và hạn chế những thái hóa của cá nhân
    trong một cộng đồng chung để cân đối trong phát triển đô thị. Chức năng sau thường
    đưa đến quy hoạch đô thị phải được kết hợp với hệ thống luật và quy định.
    Quy hoạch sử dụng đất đai phải là một tiến trình xây dựng những quyết định mà
    “làm cho thuận tiện trong việc phân chia đất đai cho các sử dụng mà cung cấp được lợi
    cao nhất”. Quy hoạch này được dựa trên những điều kiện kinh tế xã hội và những phát
    triển theo mong ước của người dân trong và chung quanh những đơn vị đất đai tự
    nhiên. Những điều này được đối chiếu nhau thông qua phân tích đa mục tiêu và đánh
    giá những giá trị thực của những nguồn tài nguyên tự nhiên và môi trường khác nhau
    của đơn vị đất đai. Kết quả là đưa ra được các sử dụng đất đai theo mong ước hay kết
    hợp những sử dụng với nhau. Thông qua tiến trình thỏa thuận với các chủ thể, kết quả
    là những quyết định trên những sự phân chia đất đai cụ thể cho những sử dụng riêng
    biệt (hay không sử dụng) thông qua những quy định về luật pháp và hành chánh mà sẽ
    đưa đến một cách cụ thể thực hiện quy hoạch.
    Thông thường, quy hoạch sử dụng đất đai liên quan chính đến những vùng nông
    thôn, tập trung cho việc quy hoạch sử dụng đất đai cho nông nghiệp như sản xuất cây
    trồng, chăn nuôi, trồng và quản lý rừng, thủy sản nội đồng, bảo vệ những giá trị của
    thực vật và những giá trị đa dạng hóa sinh học. Tuy nhiên, các vùng ven đô thị cũng
    được bao gồm trong quy hoạch sử dụng đất đai vì nó tác động trực tiếp đến vùng nông
    thôn, thông qua việc mở rộng xây dựng các nhà cao tầng vào trong các vùng có giá trị
    nông nghiệp cao và những cải thiện kết quả của sử dụng đất đai trong các vùng nông
    thôn lân cận.

    16

  19. 2. Phương pháp tổng hợp
    Tổng hợp hay còn gọi là “hành động kết hợp hay những phần thêm vào để làm
    đồng nhất toàn bộ với nhau” tạo nên mối liên hệ với tất cả các phần xây dựng nên một
    đơn vị đất đai như đã được định nghĩa trước. Trong việc kết hợp với từ “phương
    pháp”, nó cũng phải liên hệ luôn cả sự hợp tác có tham gia và toàn diện giữa tất cả các
    cơ quan và các nhóm ở cấp quốc gia, tỉnh và địa phương – tất cả “các bộ phận”, đối tác
    hay các chủ thể đều liên hệ và tham gia quy hoạch nguồn tài nguyên đất đai và quản lý
    quy hoạch.
    Cần có một cơ chế để thực hiện các cuộc đối thoại mang tính xây dựng và phát
    triển giữa các chủ thể. Các chủ thể này bao gồm cấp bộ, cấp tỉnh và các sở của các
    thành phố/tỉnh với những chính sách phát triển của họ, nghiên cứu và phát triển nguồn
    tài nguyên đất đai của các Viện như Trung tâm dịch vụ địa hình, Cục thống kê hay các
    tổ chức tương đương, các cơ quan quản trị như Hội đồng thủy lợi quốc gia hay Công
    ty cung cấp nước thành phố, và những tổ chức công cộng ở cấp quốc gia lẫn địa
    phương như Hội bảo vệ tự nhiên, Hội nông dân và các nhóm chức năng trong cộng
    đồng. Điều này bao hàm việc cần thiết thiết lập nên một môi trường có thể bao gồm
    luôn cả luật pháp và hành chánh, để đưa đến nền tảng cho sự thỏa thuận trong việc xây
    dựng các quyết định ở tất cả các cấp có liên quan, giải quyết những nhu cầu mâu thuẩn
    của sử dụng đất đai, hay giữa các thành phần của nó như nguồn tài nguyên nước ngọt.
    Những nền tảng này phải theo hai chiều là chiều ngang giữa Bộ, các Tỉnh hay chính
    quyền thành phố, và chiều thẳng từ trên xuống giữa nhà nước và những người sử dụng
    nguồn tài nguyên đất đai, tất cả các chủ thể này kết nối với nhau theo hai chiều từ trên
    xuống và từ dưới lên.
    Thực tế cho thấy muốn xây dựng được nền tảng cho thành công cần phải có
    nhiều thời gian, sự nhẫn nại và những mong ước cho một tương lai tốt đẹp. Chỉ với
    những đặc trưng này sẽ vượt qua được các tính quan liêu bàn giấy và những ngăn trở
    mang tính lịch sử mà đã được dựng lên giữa các ban ngành nên làm hạn chế các tầm
    nhìn của từng ngành riêng biệt. Phương pháp tổng hợp chỉ có giá trị khi vấn đề đặt ra
    cần giải quyết những mâu thuẩn trong sử dụng đất đai, nếu sử dụng đất đai tối hảo và
    bền vững đã có sẵn thì chúng ta không phải mất nhiều thời gian để xây dựng phương
    pháp tổng hợp cho vùng này, thí dụ như bảo vệ rừng ở lưu vực đầu nguồn, xây dựng
    các công viên quốc gia hay bảo vệ các di sản dân tộc.

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM TRONG QUY
    HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI
    Tiến trình quy hoạch sử dụng đất đai và thực hiện quy hoạch là quản lý sử dụng
    đất đai như định nghĩa trên, xoay quanh trên ba yếu tố: các chủ thể, chất lượng hay sự
    giới hạn của mỗi thành phần đất đai, và những khả năng chọn lựa sử dụng đất đai thích
    hợp cho từng vùng. Xét về những vấn đề mang tính kỹ thuật, những yếu tố của quy
    hoạch là: lượng đất đai hữu dụng và quyền sở hửu của nó; chất lượng, khả năng thích
    nghi và khả năng sản xuất tiềm năng của đất đai; trình độ kỹ thuật được sử dụng để
    khai thác nguồn tài nguyên đất đai, mật độ dân cư, và những nhu cầu, tiêu chuẩn sống
    của người dân. Mỗi yếu tố này đều có tác động qua lại với các yếu tố kia.

    1. Chức năng của đất đai
    Định nghĩa đất đai : Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói
    đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc
    tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí

    17

  20. quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm : Không khí, đất
    và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những
    hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và
    trong tương lai” (Lê Quang Trí, 1996).
    Tuy nhiên đến năm 1993, trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio
    de Janerio, Brazil, (1993), thì đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu
    theo nghĩa rộng thì xác định đất đai là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất,
    bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề
    mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ,
    sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và
    khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư
    của con nguời, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại
    (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá , nhà cửa.. ) (UN,
    1994; trong FAO, 1993).
    Như vậy đất đai có thể bao gồm:
    – Khí hậu
    – Đất
    – Nước
    – Địa hình/địa chất
    – Thực vật
    – Động vật
    – Vị trí
    – Diện tích
    – Kết quả hoạt động của con người
    Theo P. M. Driessen và N. T Konin (1992), chúng ta cần phân biệt giữa
    thuật ngữ đất và đất đai, vì đất chỉ là một trong những thuộc tính của đất đai
    bên cạnh các thuộc tính khác như: khí hậu, thời tiết, tập đoàn động thực vật,
    các hoạt động của con người – Các vùng tự nhiên mang tính đồng nhất về tất
    cả các thuộc tính của đất đai được gọi là các đơn vị đất đai (Land unit). Ðể
    mô tả một đơn vị đất đai chúng ta cần có các đặc tính đất đai (Land
    characteristics).
    Theo định nghĩa về đất đai của Luật đất đai Việt Nam (1993) thì “Đất
    là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng
    thời cũng là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang của các hệ sinh thái tự
    nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế
    quốc dân”.
    Theo FAO (1995), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản
    xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt sau: sản
    xuất, môi trường sự sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và
    cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu khoáng sản trong lòng đất); không
    gian sự sống; bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân dị lãnh thổ. Như vậy,
    có thể khái quát:
    Ðất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và
    hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác
    động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất.. .), vừa là phương
    tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc.. .).
    Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá thể mà chúng ta đang sử
    dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta. Ðất là điều kiện vật chất
    cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người. Vì vậy,
    18

Download tài liệu Quy hoạch sử dụng đất đai File Docx, PDF về máy