[Download] Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị – Tải về File Docx, PDF

Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị

Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị
Nội dung Text: Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị

Download


Bài viết phân tích quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 và Bộ luật dân sự Pháp sửa đổi năm 2016, trong đó tập trung làm rõ điều kiện áp dụng hoàn cảnh thay đổi cơ bản và hệ quả pháp lý của hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Bạn đang xem: [Download] Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị File Docx, PDF về máy

Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị

  1. QUY ĐỊNH VỀ HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN DƢỚI GÓC ĐỘ SO
    SÁNH PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ PHÁP
    – MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
    Đàm Thị Diễm Hạnh*
    Lê Thị Kim Oanh**
    Ngƣời phản biện: TS. Hồ Thị Vân Anh
    Tóm tắt: Bài viết phân tích quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật
    dân sự Việt Nam năm 2015 và Bộ luật dân sự Pháp sửa đổi năm 2016, trong đó tập
    trung làm rõ điều kiện áp dụng hoàn cảnh thay đổi cơ bản và hệ quả pháp lý của hoàn
    cảnh thay đổi cơ bản. Trên cơ sở đó, bài viết so sánh những điểm tƣơng đồng và khác
    biệt của hai quy định này, chỉ ra một số bất cập và đƣa ra một số đề xuất, kiến nghị
    cho pháp luật Việt Nam.
    Từ khóa: “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”; “Điều 420 Bộ luật dân sự Việt Nam”;
    “điều kiện áp dụng hoàn cảnh thay đổi cơ bản”; “hệ quả pháp lý của hoàn cảnh thay
    đổi cơ bản”
    Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay cơ bản là một chế định mới đƣợc ghi
    nhận tại Điều 420 Bộ luật dân sự Việt Năm năm 2015 (BLDS năm 2015) và Điều
    1195 Bộ luật Dân sự Pháp (BLDS Pháp) lần sửa đổi năm 2016. Hoàn cảnh thay đổi cơ
    bản là những thay đổi bất ngờ của hoàn cảnh mà các bên không thể tính toán đến một
    cách hợp lý vào thời điểm giao kết hợp đồng. Vậy hoàn cảnh thay đổi cơ bản đƣợc
    chứng minh nhƣ thế nào và hợp đồng có thể đƣợc sửa đổi hay chấm dứt cho phù hợp
    với hoàn cảnh mới không? Bài viết nghiên cứu so sánh quy định về hoàn cảnh thay đổi
    cơ bản trong bộ luật dân sự Việt Nam và Pháp, đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt trong
    quy định của pháp luật hai quốc gia, vƣớng mắc trong quá trình áp dụng Điều 420
    BLDS Việt Nam năm 2015 và kiến nghị sửa đổi Điều 420 Bộ luật dân sự Việt Nam.
    Résume: L’article analyse les réglementations relatives au changement
    fondamental de circonstances dans le Code Civil Vietnamien 2015 et le Code Civil
    Français (réformé en 2016), qui vise à clarifier les conditions d’application de
    changement fondamental de circonstances et les conséquences juridiques. Sur cette
    base, l’article compare les similitudes et les différences entre ces deux systèmes des
    **
    ThS., Trƣờng Đại học Kiểm sát Hà Nội

    258

  2. réglementations, souligne certaines lacunes et propose des suggestions et des
    recommandations pour le droit Vietnamien.
    Mots-clés: “changement fondamental de circonstances”; “Article 420 du Code
    Civil Vietnamien”; “Conditions pour appliquer de changement fondamental de
    circonstances”; “Les conséquences juridiques des changements fondamentaux”.
    1. Quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 420 BLDS Việt Nam năm
    2015
    Hoàn cảnh thay đổi cơ bản đƣợc quy định tại Điều 420 BLDS năm 2015 gồm hai
    nội dung là điều kiện viện dẫn hoàn cảnh thay đổi cơ bản (khoản 1) và hệ quả pháp lý
    của hoàn cảnh thay đổi cơ bản (khoản 2 và 3).
    Về điều kiện áp dụng:
    Điều 420 BLDS năm 2015 không đƣa ra định nghĩa mà liệt kê năm điều kiện có
    thể áp dụng chế định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, gồm: nguyên nhân của sự thay đổi
    phải có tính khách quan và xảy ra sau khi giao kết hợp đồng, tính không lƣờng trƣớc
    đƣợc, độ lớn của sự thay đổi và sự thiện chí khắc phục hậu quả của bên bị ảnh hƣởng.
    Điều kiện 1: Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi
    giao kết hợp đồng. Điều kiện này yêu cầu nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi bắt buộc
    phải thuộc yếu tố khách quan, tức là không phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp
    đồng và sự thay đổi của hoàn cảnh phải xảy ra sau thời điểm ký kết hợp đồng. Đây là
    điểm khác biệt cơ bản so với quy định tƣơng ứng tại Điều 313 Bộ luật Dân sự Đức.
    Theo pháp luật Đức thì sự nhầm lẫn của cả hai bên hợp đồng về một sự kiện đã tồn tại
    vào thời điểm ký kết hợp đồng cũng đƣợc coi là sự thay đổi của hoàn cảnh nếu nhƣ
    các bên đã vì sự nhầm lẫn chung đó mà ký kết hợp đồng.276 Nhƣ vậy, theo pháp luật
    Việt Nam thì trƣờng hợp nguyên nhân của hoàn cảnh thay đổi do lỗi của các bên trong
    hợp đồng thì cũng không thể xem là căn cứ viện dẫn quy định về hoàn cảnh thay đổi
    cơ bản. Chẳng hạn, trong tranh chấp kinh doanh thƣơng mại giữa nguyên đơn là
    Công ty TNHH một thành viên Thƣơng mại du lịch P và bị đơn là Công ty TNHH
    V (Sau đây gọi là Công ty P và công ty V)277, nguyên đơn đã viện dẫn Điều 420 để

    276
    Xem thêm tại Đàm Thị Diễm Hạnh and Lê Thị Kim Oanh, “Nhận Diện Hoàn Cảnh Thay Đổi Cơ Bản Theo
    Bộ Luật Dân Sự Đức và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam,” Tạp Chí Nhà Nước và Pháp Luật, no. 371
    (2019).
    277
    Bản án kinh doanh thƣơng mại sơ thẩm số 06/2017/KDTM-ST ngày 29/9/2017 của Tòa án nhân dân quận
    Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

    259

  3. yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê thƣơng hiệu vì lý do nguyên đơn bị chủ cửa hàng
    chấm dứt hợp đồng thuê cửa hàng dẫn đến không còn địa bàn để kinh doanh thƣơng
    hiệu của bị đơn. Điều đáng lƣu ý là nguyên nhân dẫn đến công ty P bị chủ nhà chấm
    dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng là do bên này đã không thanh toán đƣợc tiền thuê nhà
    ba tháng liên tiếp. Nhƣ vậy, mặc dù việc bị thu hồi mặt bằng kinh doanh có thể coi là
    hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nhƣng nguyên nhân một phần do lỗi của bên bị ảnh hƣởng
    nên trƣờng hợp này không thể viện dẫn Điều 420 để yêu cầu chấm dứt hay sửa đổi hợp
    đồng.
    Điều kiện 2: Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lƣờng trƣớc
    đƣợc về sự thay đổi hoàn cảnh. Nói cách khác sự thay đổi có tính không lƣờng trƣớc
    đƣợc. Cần lƣu ý là tính không lƣờng trƣớc đƣợc này phải thuộc về bản chất của sự
    thay đổi mà không phụ thuộc vào khả năng nhận thức của các bên. Trƣờng hợp sự thay
    đổi có tính lƣờng trƣớc đƣợc nhƣng khi ký hợp đồng các bên không có sự tìm hiểu đầy
    đủ hay vì năng lực hạn chế mà đã không ý thức đƣợc, hoặc nhìn thấy đƣợc nguy cơ
    nhƣng vẫn ký hợp đồng thì hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về những điều khoản đã
    ký kết. Điều kiện về tính không lƣờng trƣớc đƣợc ghi nhận ở hầu hết các quốc gia
    cũng nhƣ các văn bản pháp lý quốc tế khi điều chính vấn đề hoàn cảnh thay đổi cơ
    bản.
    Điều kiện 3: Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu nhƣ các bên biết trƣớc thì hợp
    đồng đã không đƣợc giao kết hoặc đƣợc giao kết nhƣng với nội dung hoàn toàn khác.
    Nhà làm luật đặt ra giả định để mô tả độ lớn của sự thay đổi, theo đó hoàn cảnh phải
    có tác động lớn đến mức giả sử các bên dự liệu đƣợc thì đã không ký kết hợp đồng với
    những nội dung nhƣ hiện có. Có thể thấy rằng tuy không đƣa ra định nghĩa minh thị
    thế nào là hoàn cảnh thay đổi nhƣng qua điều kiện này có thể thấy nhà làm luật Việt
    Nam ngầm định rằng hoàn cảnh bị thay đổi phải là những yếu tố mà trên cơ sở đó các
    bên ký kết hợp đồng. Những yếu tố này có thể bao gồm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
    hội, pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc…
    Điều kiện 4: Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung
    hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Điều kiện này nhấn mạnh hệ quả

    260

  4. bất lợi mà sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh gây ra đó là sẽ có thể gây thiệt hại nghiêm
    trọng cho một bên nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có chỉnh sửa.
    Điều kiện 5: Bên có lợi ích bị ảnh hƣởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết
    trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn
    chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hƣởng đến lợi ích. Điều kiện này không phản ánh bản
    chất của sự thay đổi của hoàn cảnh mà là điều kiện về mặt thủ tục, yêu cầu bên bị ảnh
    hƣởng phải thiện chí trong việc ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại xảy ra.
    Về hệ quả pháp lý của hoàn cảnh thay đổi cơ bản:
    Hệ quả pháp lý của hoàn cảnh thay đổi cơ bản vừa có tính nội dung vừa mang
    tính thủ tục. Về nội dung, sự thay đổi của hoàn cảnh dẫn đến bên có nghĩa vụ có thể
    đƣợc xem xét miễn trừ hoặc điều chỉnh nghĩa vụ đã cam kết bằng cách sửa đổi hoặc
    chấm dứt hợp đồng. Về thủ tục, việc điều chỉnh nghĩa vụ hợp đồng đƣợc thực hiện
    thông qua giai đoạn đàm phán lại và giai đoạn xét xử bởi Tòa án. Quy trình cụ thể theo
    Điều 420 có thể mô tả nhƣ sau: Trƣớc hết, bên có lợi ích bị ảnh hƣởng có quyền yêu
    cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý. Mặc dù vậy, điều luật
    không quy minh thị trƣờng hợp các bên tự đàm phán lại không thành công thì các bên
    có thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thay vì nhờ cậy đến Tòa án hay không mà chỉ
    quy định nếu các bên không tiến hành đàm phán lại đƣợc hoặc đàm phán lại không
    thành công thì một trong các bên có quyền yêu cầu tòa án giải quyết. Mặc dù khoản 2
    và 3 Điều 420 không có ngôn từ nào buộc bên bị bất lợi phải yêu cầu đàm phán lại
    trƣớc khi yêu cầu tòa án giải quyết hay không, nhƣng có thể hiểu điều luật ngầm định
    rằng yêu cầu đàm phán lại là điều kiện tiên quyết trƣớc khi yêu cầu Tòa án giải quyết.
    Điều này phản ánh đúng bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên nên ngay
    khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì các bên cần có vai trò tích cực trong quá trình đàm
    phán lại để giải quyết vấn đề.
    Vấn đề ở đây là luật Việt Nam không điều chỉnh quy trình đàm phán lại, chẳng
    hạn yêu cầu đàm phán lại cần đƣợc đƣa ra với những yêu cầu gì và ngƣời nhận đƣợc
    yêu cầu phải cân nhắc hợp lý nhƣ thế nào? Sự thiếu vắng của quy định điều chỉnh quá
    trình đàm phán lại dẫn đến hiệu quả đàm phán lại khó có thể dự liệu đƣợc, mặc dù đây
    là quy trình bắt buộc thực hiện trƣớc khi đƣa vụ việc ra Tòa án.

    261

  5. Vấn đề tiếp theo cần làm rõ là thẩm quyền của Tòa án. Theo khoản 3 Điều 420
    thì một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc là chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi
    hợp đồng. Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trƣờng hợp việc
    chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng
    nếu đƣợc sửa đổi. Quy định này dƣờng nhƣ ƣu tiên chấm dứt hợp đồng hơn là sửa
    đổi.278 Và căn cứ duy nhất đƣợc đƣa ra để lựa chọn giữa hai giải pháp là trên cơ sở
    đánh giá chi phí để thực hiện mỗi giải pháp. Tuy nhiên, nhà làm luật cũng chƣa quy
    định rõ vậy chi phí đƣợc nhắc đến là chi phí gì và đƣợc tính toán nhƣ thế nào?
    Một vấn đề nữa là nếu các bên chỉ yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp
    đồng mà không phải cả hai giải pháp thì Tòa án có thể lựa chọn giữa hai phƣơng án đó
    hay không? Chẳng hạn, trong vụ việc nói trên, Công ty P chỉ yêu cầu chấm dứt hợp
    đồng mà không yêu cầu sửa đổi hợp đồng. Giả định rằng có hoàn cảnh thay đổi
    cơ bản xảy ra, nếu có căn cứ cho rằng “việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn
    hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi” theo khoản 3 Điều
    420 thì Tòa án có thể sửa đổi hợp đồng thay vì chấm dứt hợp đồng nhƣ nguyên
    đơn yêu cầu hay không? Nếu câu trả lời là có thì có trái với nguyên tắc tự định
    đoạt của đƣơng sự quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
    hay không? Điều luật này quy định: “…Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự
    khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn
    khởi kiện, đơn yêu cầu đó.” Ngoài ra, để cân bằng lợi ích các bên thì liệu Tòa án có
    thể quyết định các vấn đề khác nhƣ yêu cầu một bên chia sẻ một phần thiệt hại hay
    không?
    2. Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Điều 1195 BLDS Pháp
    Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản mới đƣợc chính thức ghi nhận tại BLDS
    Pháp trong lần sửa đổi năm 2016 tại Điều 1195 nhƣ sau: “Nếu xảy ra sự thay đổi của
    hoàn cảnh mà không thể lường trước được vào thời điểm ký kết hợp đồng và khiến cho
    việc thực hiện nghĩa vụ của một bên trở nên khó khăn quá mức, và bên đó đã không
    thỏa thuận về việc gánh chịu rủi ro này, thì bên đó có thể đề nghị bên còn lại đàm

    278
    Vũ Thị Lan Anh, “Các Vấn Đề Pháp Lý Đặt Ra Trong Việc Thực Hiện Hợp Đồng Khi Hoàn Cảnh Thay
    Đổi,” Tạp Chí Nhà Nước và Pháp Luật, no. 337 (tháng 5 năm 2016).

    262

  6. phán lại hợp đồng. Bên đưa ra yêu cầu vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
    trong suốt quá trình đàm phán lại.
    Nếu bên kia từ chối đàm phán lại hoặc đàm phán lại không thành thì các bên có
    thể thỏa thuận chấm dứt hợp đồng, trong đó các bên thỏa thuận về ngày chấm dứt và
    các điều khoản chấm dứt, hoặc cùng thỏa thuận yêu cầu tòa án sửa đổi hợp đồng.
    Trong một khoảng thời gian hợp lý, nếu các bên không đạt được sự thảo thuận này thì
    theo yêu cầu của một bên, Tòa án có thể chỉnh sửa hoặc chấm dứt hợp đồng vào ngày
    và theo các điều khoản do Tòa án xác định.”279
    Tƣơng tự Điều 420 BLDS năm 2015, Điều 1195 cũng bao gồm hai nội dung
    chính là các điều kiện áp dụng và hệ quả pháp lý của hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
    Về điều kiện áp dụng:
    Điều 1195 quy định bốn điều kiện áp dụng chế định hoàn cảnh thay đổi cơ bản,
    gồm: Có sự thay đổi của hoàn cảnh, sự thay đổi có tính không thể lƣờng trƣớc đƣợc
    vào thời điểm ký kết hợp đồng, hoàn cảnh mới khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ của
    một bên trở nên khó khăn quá mức và bên có nghĩa vụ đã không thỏa thuận về việc
    gánh chịu rủi ro đó.
    So với năm điều kiện quy định tại Điều 420 BLDS Việt Nam, BLDS Pháp cũng
    quy định hai điều kiện là tính không thể lƣờng trƣớc đƣợc của sự thay đổi và sự thay
    đổi khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ trở nên khó khăn quá mức. Điểm khác biệt cơ
    bản là luật Pháp không yêu cầu rõ ràng sự thay đổi phải có tính khách quan mà chỉ quy
    định có sự thay đổi của hoàn cảnh nói chung, nhƣng lại có một điều kiện rất quan
    trọng là rủi ro do hoàn cảnh thay đổi phải không thuộc về nghĩa vụ theo hợp đồng của
    bên bị thiệt hại. Các điều kiện nói trên có thể đƣợc diễn giải cụ thể nhƣ sau:
    Điều kiện một: Có sự thay đổi của hoàn cảnh

    279
    Dịch bởi tác giả.
    Art. 1195. –If a change of circumstances that was unforeseeable at the time of the conclusion of the contract
    renders performance excessively onerous for a party who had not accepted the risk of such a change, that party
    may ask the other contracting party to renegotiate the contract. The first party must continue to perform his
    obligations during renegotiation.
    In the case of refusal or the failure of renegotiations, the parties may agree to terminate the contract from the
    date and on the conditions which they determine, or by a common agreement ask the court to set about its
    adaptation. In the absence of an agreement within a reasonable time, the court may, on the request of a party,
    revise the contract or put an end to it, from a date and subject to such conditions as it shall determine.
    https://www.trans-lex.org/601101/_/french-civil-code-2016/

    263

  7. Điều 1195 đề cập đến sự thay đổi của hoàn cảnh nhƣ một trong những điều kiện
    cơ bản nhất để có thể viện dẫn áp dụng chế định hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên,
    điều luật này chỉ nói đến sự thay đổi chung chung mà không có hàm ý là phải bất ngờ
    và cũng không giới hạn trong bất cứ yếu tố nào, bất kể từ thiên nhiên, chính sách, pháp
    luật… Điều luật cũng không quy định liệu sự thay đổi đó có thể phụ thuộc vào ý chí
    của các bên hợp đồng hay không. Khi bình luận về Điều 1195, có quan điểm cho rằng
    sự kiện dẫn đến sự thay đổi phải nằm ngoài sự kiểm soát của các bên. 280 Nếu pháp luật
    Đức yêu cầu chỉ những hoàn cảnh là yếu tố nền tảng mà trên cơ sở đó các bên ký kết
    hợp đồng mới đƣợc coi là thay đổi cơ bản thì BLDS Pháp không mô tả đặc điểm của
    hoàn cảnh với hàm ý này. Phải chăng những yếu tố nào đƣợc coi là hoàn cảnh của hợp
    đồng đƣợc xác định theo theo từng tiêu chí cụ thể theo từng hợp đồng riêng biệt?
    Điều kiện hai: Tính không lường trước được
    Đây là điều kiện đƣợc ghi nhận ở cả luật Dân sự Việt Nam và Pháp. Theo các
    học giả thì điều kiện này cần đƣợc áp dụng một cách chặt chẽ theo hƣớng không chỉ là
    không đƣợc lƣờng trƣớc mà phải có tính không lƣờng trƣớc đƣợc. Điều này có nghĩa
    là nếu bản chất sự kiện là lƣờng trƣớc đƣợc thì các bên đƣơng nhiên có nghĩa vụ phải
    tính toán đến khi ký kết hợp đồng, nếu không họ cũng không đƣợc miễn trừ trách
    nhiệm vì đã không cẩn trọng tham gia vào hợp đồng đó. 281
    Điều kiện ba: Sự thay đổi hoàn cảnh dẫn đến việc thực hiện hợp đồng trở nên
    khó khăn quá mức.
    Quy định này có thể xem có tính tƣơng tự với điều kiện thứ tƣ theo quy định của
    pháp luật Việt Nam là nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng thì một bên sẽ bị thiệt hại nặng
    nề. Điều kiện này nhấn mạnh mức độ ảnh hƣởng lớn của hoàn cảnh thay đổi đến quá
    trình thực hiện hợp đồng. Rõ ràng, pháp luật cả hai nƣớc đều yêu cầu chỉ những thay
    đổi dẫn đến khó khăn quá mức bình thƣờng mới đƣợc chấp nhận. Tuy nhiên, điều
    đáng nói là đây đều là những quy định định tính, trừu tƣợng và việc hiểu thế nào là
    khó khăn quá mức, thế nào là thiệt hại nặng nề phụ thuộc vào chủ thể áp dụng pháp
    luật. Về cách thức đánh giá khó khăn, có tác giả cho rằng cần căn cứ vào đặc điểm của

    280
    Alain Pietrancosta, “(PDF) Introduction of the Hardship Doctrine („Théorie de l‟imprévision‟) into French
    Contract Law: A Mere Revolution on the Books?,” ResearchGate, accessed January 24, 2019,
    https://www.researchgate.net/publication/315669056_Introduction_of_the_hardship_doctrine_theorie_de_l’impr
    evision_into_French_contract_law_A_mere_revolution_on_the_books.
    281
    Alain Pietrancosta.

    264

  8. hợp đồng một cách khách quan chứ không phải xuất phát từ khả năng tài chính của
    bên có nghĩa vụ. 282
    Điều kiện bốn: Bên có nghĩa vụ đã không chấp nhận rủi ro xuất phát từ sự
    thay đổi của hoàn cảnh khi ký kết hợp đồng.
    Đây là điều kiện mà nhà làm luật Việt Nam không đề cập đến. Theo điều kiện
    này thì nếu khi ký kết hợp đồng, bên có nghĩa vụ đã thỏa thuận bằng một điều khoản
    cụ thể hay hàm ý trong hợp đồng rằng sẽ gánh chịu rủi ro trong một số trƣờng hợp cụ
    thể, trong đó có sự kiện dẫn đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản, thì bên này sẽ không đƣợc
    viện dẫn hoàn cảnh thay đổi cơ bản nhƣ một cách để giải phóng nghĩa vụ nữa. Câu hỏi
    đặt ra là tại sao một bên lại sẵn sàng chấp nhận trƣớc những rủi ro có thể phát sinh từ
    sự thay đổi bất ngờ của hoàn cảnh, liệu những điều khoản nhƣ thế này trong hợp đồng
    có đảm bảo tính bình đẳng hay không? Khi ký kết hợp đồng, trong nhiều trƣờng hợp,
    một bên sẵn sàng chấp nhận rủi ro, có thể xuất phát từ bản chất một số hợp đồng có
    tính rủi ro cao nhƣ hợp đồng bảo hiểm hay hợp đồng đầu tƣ dự án, có thể xuất phát từ
    động cơ riêng của một bên chẳng hạn để duy trì một mối quan hệ làm ăn mà họ cho là
    có lợi ích lâu dài hoặc thậm chí chấp nhận may rủi với tƣ duy “đƣợc ăn cả ngã về
    không”. Tuy nhiên, sự chấp nhận rủi ro đến mức độ nào đƣợc coi là hợp lý thì cần
    đƣợc cân nhắc trên cơ sở đối chiếu với hoàn cảnh ký kết, bản chất hợp đồng cũng nhƣ
    đối trọng giữa các bên khi đàm phán. Những điều khoản chấp nhận rủi ro rõ ràng phi
    lý thì cần xem xét hiệu lực có phản ánh ý chí thực sự của các bên và đảm bảo nguyên
    tắc bình đẳng của pháp luật hợp đồng hay không?283
    Về hệ quả pháp lý:
    Theo Điều 1195, bên bị thiệt hại có thể đề nghị bên kia đàm phán lại hợp đồng.
    Nếu bên kia từ chối đàm phán lại hoặc đàm phán lại không thành công thì các bên có
    thể tự thỏa thuận chấm dứt hợp đồng hoặc cùng thỏa thuận yêu cầu Tòa án sửa đổi hợp
    đồng. Trong một khoảng thời gian hợp lý, nếu các bên không đạt đƣợc sự thỏa thuận
    này thì theo yêu cầu của một bên, Tòa án có thể chỉnh sửa hoặc chấm dứt hợp đồng
    vào ngày và theo các điều khoản do Tòa án xác định.

    282
    Alain Pietrancosta.
    283
    Alain Pietrancosta.

    265

  9. Giai đoạn đàm phán lại: Theo quy định trên thì quy trình đàm phán lại mang tính
    chất bắt buộc trƣớc khi có thể đƣa vụ việc ra Tòa án. 284 Có quan điểm cho rằng không
    nên bắt buộc các bên đàm phán lại vì có thể gây lãng phí thời gian và công sức; bên
    cạnh đó, tác giả này cũng quan ngại rằng một bên dễ bị đặt vào thế bất lợi trong quá
    trình đàm phán lại. Tính kém hiệu quả của quy trình đàm phán lại đƣợc lý giải từ góc
    độ kinh tế học hành vi cho rằng đàm phán lại các điều khoản khi có hoàn cảnh bất lợi
    xảy ra sẽ có ít khả năng thành công bởi vì vào thời điểm đó, ý chí các bên có khả năng
    cao bị đóng đinh bởi những thỏa thuận vốn có của hợp đồng và mang tâm lý tránh tổn
    thất. Các nghiên cứu về hành vi con ngƣời còn chỉ ra rằng thƣơng lƣợng để phân định
    thiệt hại (bargain over losses) sẽ ít có khả năng thành công hơn thƣơng lƣợng để cùng
    đạt đƣợc một giá trị nào đó (bargain over gains) vì các bên sẽ ít đƣa ra nhƣợng bộ hơn.
    Có hai nguyên nhân chính có thể dẫn đến việc ngƣời đƣợc yêu cầu không chấp nhận
    tham gia đàm phán vì thứ nhất họ cho rằng không có hoàn cảnh thay đổi xảy ra, hoặc
    ngay khi cho rằng có hoàn cảnh thay đổi, thì họ cũng quan ngại rằng việc chấp nhận
    đàm phán lại có thể dẫn đến khó bảo vệ trƣớc Tòa án nếu đàm phán không thành. Do
    đó, học giả này đề xuất nếu các bên muốn chấm dứt hợp đồng thì không nên quy định
    nghĩa vụ đàm phán lại để giảm tốn kém, thay vì đó họ nên đƣợc chấm dứt, sau đó tự
    do thƣơng lƣợng lại hoặc tìm một đối tác khác phù hợp với hoàn cảnh mới để tối ƣu
    hóa lợi ích.285
    Thẩm quyền của Tòa án: Tòa án Pháp đƣợc trao thẩm quyền khá rộng, tự do
    quyết định việc sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng. Khác với Việt Nam, Điều 1195
    không đặt ra thứ tự ƣu tiên áp dụng chế tài chấm dứt hay sửa đổi hợp đồng. Khi bình
    luận về Điều 1195, có quan điểm cho rằng chỉ nên sửa đổi nếu nhƣ hợp đồng thực sự
    còn giá trị hoặc nghĩa vụ đã đƣợc thực hiện.286
    3. Một số bình luận và đề xuất
    Về các điều kiện áp dụng:
    Có thể thấy các điều kiện áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp
    luật hai nƣớc đều mang tính trừu tƣợng, đòi hỏi cần tiếp tục đƣợc hƣớng dẫn cụ thể

    284
    Mitja Kovac, “Frustration of Purpose and the French Contract Law Reform: The Challenge to the
    International Commercial Attractiveness of English Law?,” Maastricht Journal of European and Comparative
    Law 25, no. 3 (June 1, 2018): 288–309, https://doi.org/10.1177/1023263X18781190.
    285
    Kovac.
    286
    Kovac.

    266

  10. hơn, đặc biệt là vấn đề liên quan đến việc xác định thế nào là hoàn cảnh, tính không
    lƣờng trƣớc đƣợc của sự thay đổi và mức độ ảnh hƣởng của sự thay đổi. Khi đƣa ra
    định nghĩa về hoàn cảnh, Việt Nam và Pháp có thể tham khảo quy định của BLDS
    Đức tại Điều 313, theo đó hoàn cảnh chỉ nên giới hạn ở những yếu tố tạo nên cơ sở để
    ký kết hợp đồng.
    Sự khác biệt lớn nhất trong các điều kiện áp dụng là luật Dân sự Pháp yêu cầu rủi
    ro xuất phát từ sự thay đổi của hoàn cảnh phải chƣa đƣợc dự liệu trong hợp đồng thuộc
    về trách nhiệm của bên có nghĩa vụ. Đây là điều kiện có ý nghĩa quan trọng bởi lẽ
    trong pháp luật về hợp đồng thì thỏa thuận của các bên trong chính hợp đồng cụ thể
    cần đƣợc tôn trọng áp dụng trƣớc hết. Do đó, chúng tôi đề xuất Việt Nam nên bổ sung
    điều kiện này vào khoản 1 Điều 420 nhƣ là điều kiện cấu thành hoàn cảnh thay đổi cơ
    bản.
    Về hệ quả pháp lý:
    Chúng tôi cho rằng việc pháp luật hai nƣớc quy định nghĩa vụ bắt buộc đàm phán
    lại là hợp lý bởi lẽ bản chất hợp đồng là sự thỏa thuận của các bên, nên khi sửa đổi hay
    chấm dứt hợp đồng, các bên cần đƣợc tạo nhiều cơ hội nhất để bày tỏ nguyện vọng của
    mình. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả thực sự của quy trình đàm phán lại, chúng tôi
    đề xuất pháp luật nên điều chỉnh chặt chẽ quy trình này với các nội dung nhƣ sau:
    Thứ nhất, bên đƣa ra yêu cầu đàm phán lại phải cung cấp các minh chứng chứng
    minh sự thay đổi của hoàn cảnh.
    Thứ hai, bên nhận đƣợc yêu cầu phải xem xét yêu cầu đàm phán lại một cách
    thiện chí, việc không chấp nhận đàm phán lại cần nêu rõ lý do. Việc chấp nhận đàm
    phán lại không đƣợc coi là mặc nhiên chấp nhận có sự thay đổi cơ bản của hoàn cảnh.
    Thứ ba, mọi trao đổi, bao gồm sự nhƣợng bộ của các bên trong quá trình đàm
    phán lại cần đƣợc giữ bí mật, không thể sử dụng nhƣ chứng cứ chống lại các bên nếu
    vụ việc tiếp tục đƣợc giải quyết bởi Tòa án. Có nhƣ vậy thì các bên mới cởi mở đƣa ra
    thỏa thuận trong quá trình đàm phán lại.
    Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự Việt Nam cần quy định rõ ràng về thẩm quyền của
    Tòa án theo hƣớng đề cao vai trò của Tòa án. Tòa án có thể sửa đổi, có thể chấm dứt
    hoặc cũng có thể tuyên bố hợp đồng tiếp tục thực hiện nhƣ cam kết ban đầu. Bởi lẽ,
    khi cân nhắc lựa chọn giữa các giải pháp này, Tòa án cần đánh giá nhiều yếu tố một

    267

  11. cách toàn diện chứ không chỉ cứng nhắc dựa vào vấn đề chi phí, một vấn đề cũng còn
    mơ hồ, mà Điều 420 hiện hành quy định.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Vũ Thị Lan Anh (2016), “Các Vấn Đề Pháp Lý Đặt Ra Trong Việc Thực
    Hiện Hợp Đồng Khi Hoàn Cảnh Thay Đổi,” Tạp Chí Nhà Nước và Pháp Luật, no. 337
    (tháng 5 năm 2016).
    2. Đàm Thị Diễm Hạnh and Lê Thị Kim Oanh, “Nhận Diện Hoàn Cảnh Thay
    Đổi Cơ Bản Theo Bộ Luật Dân Sự Đức và Bài Học Kinh Nghiệm Cho Việt Nam,”
    Tạp Chí Nhà Nước và Pháp Luật, no. 371 (2019).
    3. Alain Pietrancosta, “(PDF) Introduction of the Hardship Doctrine („Théorie
    de l‟imprévision‟) into French Contract Law: A Mere Revolution on the Books?,”
    ResearchGate, accessed January 24, 2019,
    https://www.researchgate.net/publication/315669056_Introduction_of_the_hardship_d
    octrine_theorie_de_l’imprevision_into_French_contract_law_A_mere_revolution_on_t
    he_books.
    4. Mitja Kovac, “Frustration of Purpose and the French Contract Law Reform:
    The Challenge to the International Commercial Attractiveness of English Law?,”
    Maastricht Journal of European and Comparative Law 25, no. 3 (June 1, 2018): 288–
    309, https://doi.org/10.1177/1023263X18781190.

    268

Download tài liệu Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật dân sự Việt Nam và pháp – một số đề xuất, kiến nghị File Docx, PDF về máy