[Download] Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em – Tải về File Docx, PDF

Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em

Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em
Nội dung Text: Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em

Download


Bài viết tổng hợp và phân tích cụ thể các quy định pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp đến các luật chuyên ngành ở góc độ bảo đảm các điều kiện tồn tại và phát triển trẻ em – một khía cạnh quan trọng trong bảo đảm quyền sống của trẻ em. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này.

Bạn đang xem: [Download] Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em File Docx, PDF về máy

Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em

  1. 24 Tạp chí KhoaNghiên cứu trao
    học – Trường Đại ● Research-Exchange
    đổihọc of opinion
    Mở Hà Nội 68 (6/2020) 24-32

    PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM CÁC ĐIỀU KIỆN
    TỒN TẠI PHÁT TRIỂN CỦA TRẺ EM
    VIETNAM LAW ON ASSURANCE OF CONDITIONS
    FOR CHILDREN’S SURVIVAL AND DEVELOPMENT

    Võ Khánh Linh*, Phan Duy Anh†, Hoàng Trung Hiếu‡

    Ngày tòa soạn nhận được bài báo: 3/12/2019
    Ngày nhận kết quả phản biện đánh giá: 4/6/2020
    Ngày bài báo được duyệt đăng: 29/6/2020

    Tóm tắt: Bài viết tổng hợp và phân tích cụ thể các quy định pháp luật trong hệ thống
    pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp đến các luật chuyên ngành ở góc độ bảo đảm các điều kiện
    tồn tại và phát triển trẻ em – một khía cạnh quan trọng trong bảo đảm quyền sống của trẻ em.
    Từ đó, nhóm tác giả đưa ra một số đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về
    vấn đề này.
    Từ khoá: Quyền trẻ em, tồn tại và phát triển, Luật Việt nam.
    Abstract: The article summarizes and analyzes in detail the laws in the Vietnamese legal
    system from the Constitution to specialized laws in the perspective of ensuring the conditions
    of children’s survival and development – an important aspect in ensuring children’s right to
    life. From there, the authors give some assessments on the current situation of Vietnamese
    law on this issue.§
    Keywords: Children’s right, survival and development, Vietnam Law.
    1. Đặt vấn đề về vấn đề này, cụ thể như sau:
    Trong thời gian qua, pháp luật Việt Các điều kiện tồn tại và phát triển
    Nam đã có những bước tiến quan trọng của trẻ em được ghi nhận và bảo đảm
    trong nội luật hoá quyền sống của trẻ em trong Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội
    theo tinh thần của CRC 1969§. Trong hệ chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
    thống pháp luật Việt Nam hiện nay, từ văn
    bản có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp, cho Hiến pháp 2013 đã ghi nhận tại
    đến các luật chuyên ngành và các văn bản Khoản 1, Điều 37: “Trẻ em được Nhà
    quy phạm pháp luật khác đều có quy định nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc

    * Khoa Chính trị học, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
    † Trung tâm Hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và Trẻ em (DWC)
    ‡ Khoa Chính trị học, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
    § Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1969 (Convention on the Rights of the Child 1969)

  2. Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion 25

    và giáo dục; được tham gia vào các vấn như: Khoản 2, Điều 58 về việc Nhà nước,
    đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ,
    hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực
    lột sức lao động và những hành vi khác hiện kế hoạch hóa gia đình; Khoản 2, Điều
    vi phạm quyền trẻ em”. Đây là quy định 61 về việc Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu
    thể hiện ý chí của Nhà nước trong bảo vệ, hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục;
    tăng cường và thúc đẩy quyền trẻ em nói chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo
    chung và bảo đảm các điều kiện tồn tại và dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không
    phát triển của trẻ em. Mặc dù không có
    thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục
    quy định cụ thể về khái niệm quyền sống
    trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo
    của trẻ em, tuy nhiên quyền trẻ em luôn là
    dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học
    đối tượng điều chỉnh về quyền con người
    bổng, học phí hợp lý.
    mà vấn đề này được quy định tại Điều 19:
    “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con Quyền sống của trẻ em, theo nghĩa
    người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị rộng của quyền này, không chỉ là sự toàn
    tước đoạt tính mạng trái luật.”. Hơn nữa, vẹn về tính mạng của trẻ em, mà còn là
    những điều kiện bảo đảm sự tồn tại và những điều kiện bảo đảm sự tồn tại và phát
    phát triển của trẻ em cũng được thể hiện triển toàn diện cho trẻ em ¶. Ở khía cạnh
    qua những quy định về quyền con người thứ hai, CRC khuyến nghị trách nhiệm chủ
    như: Điều 14: “Tất cả các quyền dân sự, động, tích cực của các quốc gia thành viên
    chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa đều
    phải bảo đảm đến mức tối đa có thể được
    được công nhận,tôn trọng, bảo vệ, bảo
    sự phát triển của trẻ em **. Với tư cách là
    đảm theo Hiến pháp và pháp luật”; Điều
    đạo luật có hiệu lực cao nhất, luật nền tảng
    20 về quyền tự do và an toàn cá nhân (hay
    của hệ thống pháp luật quốc gia, có thể thấy
    an ninh cá nhân); Điều 34 về quyền được
    bảo đảm an sinh xã hội; Điều 38 về quyền những quy định mang tính định hướng của
    được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
    y tế; Điều 39 về quyền được học tập, giáo Việt Nam năm 2013 đã làm tốt vai trò thể
    dục; Điều 41 về quyền hưởng thụ và tiếp hiện quan điểm của Nhà nước và vai trò
    cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời của pháp luật trong bảo đảm điều kiện tồn
    sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa. tại và phát triển của trẻ em. Đây chính là
    nền tảng cho những luật chuyên ngành
    Bên cạnh đó, tại Chương III Hiến
    khác thể hiện rõ vai trò của mình trong bảo
    pháp năm 2013 quy định về kinh tế, xã
    đảm quyền sống của trẻ em.
    hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công
    nghệ và môi trường cũng đã có một số quy Các điều kiện tồn tại và phát triển
    định liên quan đến trẻ em từ góc độ bảo của trẻ em được ghi nhận và bảo đảm
    đảm những điều kiện tồn tại và phát triển trong các luật chuyên ngành

    ¶ Phan Duy Anh (2016), Quyền sống của trẻ em ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Học
    viện Khoa học xã hội, tr. 10.
    ** Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. (2011), Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người,
    Nxb. Lao động – Xã hội, Hà Nội, tr. 164.

  3. 26 Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion

    Bên cạnh các quy định của Hiến phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36
    pháp 2013, quyền sống của trẻ em ở góc tháng tuổi thì chuyển thành hình phạt tù
    độ là những điều kiện bảo đảm cho sự chung thân). Thứ nhất, quy định này cho
    tồn tại và phát triển còn được thể chế hóa thấy pháp luật hình sự Việt Nam hoàn toàn
    trong nhiều văn bản pháp luật khác trong phù hợp với nội dung của CRC 1989 khi
    hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong phạm đã bảo vệ sự sống của trẻ em từ trước khi
    vi của mình, bài viết chỉ dẫn những quy được sinh ra, mặc dù đó không phải là sự
    định nền tảng trong một số các văn bản bảo vệ quyền sống của một tự nhiên nhân
    luật chuyên ngành. (không tử hình phụ nữ có thai). Thứ hai,
    2. Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS) pháp luật hình sự Việt Nam bảo đảm điều
    kiện tồn tại và phát triển của trẻ em khi
    Điều 16 BLDS 2015 đã quy định thấy rõ sự gắn kết, mối liên hệ quan trọng
    mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân trong sự sống và phát triển của trẻ em ở
    sự như nhau và năng lực pháp luật dân sự giai đoạn đầu đời với người mẹ (không tử
    của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và hình phụ nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi).
    chấm dứt khi người đó chết. Từ quy định
    này, có thể hiểu trong hệ thống pháp luật Những quy định thuộc Chương XII
    – Những quy định đối với người dưới 18
    Việt Nam thì trẻ em được coi là một chủ
    tuổi phạm tội – thể hiện chính sách hình sự
    thể của quyền con người là từ lúc được
    đặc biệt đối với trẻ em (dưới 16 tuổi) trên
    sinh ra. Cùng với đó, các quyền nhân thân
    một số phương diện như sau: Thứ nhất,
    được ghi nhận và bảo vệ với tất cả mọi
    phải bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người
    người, trong đó đã hàm ý tới quyền sống
    dưới 18 tuổi (bao gồm trẻ em) và chủ yếu
    của trẻ em từ góc độ quyền tự do và cá
    nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa
    nhân, trách nhiệm của cha mẹ đối với trẻ
    chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở
    em từ các quy định tại Điều 33 về quyền
    thành công dân có ích cho xã hội (Khoản 1
    sống, quyền được bảo đảm an toàn về tính
    Điều 91); Thứ hai, người từ đủ 14 tuổi đến
    mạng, sức khỏe, thân thể và Điều 39 về
    dưới 16 tuổi có thể được miễn trách nhiệm
    quyền nhân thân trong hôn nhân gia đình.
    hình sự nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ
    3. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa trách nhiệm hình sự, tự nguyện khắc phục
    đổi, bổ sung năm 2017)
    phần lớn hậu quả (Khoản 2 Điều 91); Thứ
    BLHS 2015 có nhiều quy định bảo ba, không xử phạt tù chung thân hoặc tử
    đảm quyền sống của trẻ em thể hiện rất hình; Thứ tư, được hưởng mức án nhẹ hơn
    rõ trong hình phạt tử hình và giới hạn áp mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi
    dụng hình phạt tử hình tại Điều 40. Điều trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn
    này cho thấy không được áp dụng hình thích hợp ngắn nhất (Khoản 6 Điều 91, từ
    phạt tử hình và thi hành án tử hình với phụ Điều 100 đến Điều 106); Thứ năm, án đã
    nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tuyên với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội
    tháng tuổi (với trường hợp không thi hành thì không tính để xác định tái phạm hoặc
    án tử hình, tức đã bị kết án tử hình mà là tái phạm nguy hiểm (Khoản 7 Điều 91)

  4. Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion 27

    cũng như không được coi là có án tích hiện quan điểm của luật hình sự Việt Nam
    (Điều 107). Có thể thấy những đường không chỉ bảo vệ toàn vẹn tính mạng mà
    hướng xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội còn bảo đảm những điều kiện tồn tại, phát
    đã phản ánh rất nhiều chính sách khoan triển của trẻ em.
    hồng của luật hình sự đối với trẻ em. Điều 4. Luật trẻ em 2016
    này nhằm hạn chế những tác động không
    LTE 2016 quy định về quyền và bổn
    có lợi của hình phạt tới các điều kiện tồn
    phận của trẻ em, trách nhiệm và nghĩa vụ
    tại và phát triển của trẻ em trong độ tuổi
    của các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục,
    này cũng như ảnh hưởng của chúng tới
    gia đình, cá nhân trong việc thực hiện
    tương lai của các em.
    quyền và bổn phận của trẻ em. Đây là đạo
    BLHS 2015 cũng quy định những luật có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
    tội phạm riêng liên quan tới các hành vi
    vệ quyền trẻ em, trong đó có quyền sống.
    xâm hại đến đối tượng là trẻ em như: Điều
    Nội dung của LTE 2016 cơ bản đã thể hiện
    142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi);
    việc nội luật hoá các quy định của CRC
    Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13
    1989. Điều 12 về quyền sống của trẻ em
    đến 16 tuổi); Điều 145 (tội giao cấu hoặc
    đã ghi nhận trẻ em “được bảo đảm tốt nhất
    thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác
    các điều kiện sống và phát triển”. Cùng
    với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi); Điều
    với đó, các quyền được bảo vệ để không
    146 (tội dâm ô với người dưới 16 tuổi);
    bị xâm hại tình dục, quyền được bảo vệ
    Điều 147 (tội sử dụng người dưới 16 tuổi
    để không bị bóc lột sức lao động, quyền
    vào mục đích khiêu dâm); Điều 151 (tội
    được bảo vệ để không bị bạo lực, bỏ rơi,
    mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 152
    bỏ mặc, quyền được bảo vệ để không bị
    (tội đánh tráo người dưới 1 tuổi); Điều
    153 (tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi). bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, quyền được bảo
    Cùng với đó, BLHS 2015 đã quy định về vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh
    phạm tội với người dưới 16 tuổi và phụ nữ tráo, chiếm đoạt, quyền được bảo vệ khỏi
    có thai là tình tiết tăng nặng trong quyết chất ma tuý, quyền được bảo vệ trong tố
    định hình phạt tại danh mục các tình tiết tụng và xử lý vi phạm hành chính, quyền
    tăng nặng trách nhiệm hình sự (Điều 52) được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm hoạ, ô
    và xác định “phạm tội đối với người dưới nhiễm môi trường, xung đột vũ trang được
    16 tuổi” là một trong những số tình tiết quy định lần lượt từ Điều 25 đến Điều 31
    định khung tăng nặng trong Chương XIV đã thể hiện rõ khía cạnh “được bảo đảm
    – Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tốt nhất các điều kiện sống và phát triển”
    nhân phẩm, danh dự của con người. trước những tác nhân có thể phương hại
    Có thể thấy rằng, BLHS 2015 bảo tới quyền sống của trẻ em. LTE năm 2016
    vệ đối tượng trẻ em ở mức độ rất cao từ còn quy định trách nhiệm của Nhà nước,
    hai khía cạnh: lên án người phạm tội đối xã hội, gia đình trong bảo vệ sự tồn tại
    với trẻ em và khoan hồng đối với người và phát triển toàn diện của trẻ em ở các
    phạm tội là trẻ em. Điều này lần lượt thể phương diện như sau:

  5. 28 Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion

    Phương diện chăm sóc, nuôi dưỡng xã hội là biện pháp tạm thời khi các hình
    trẻ em và vai trò của cha, mẹ thức chăm sóc tại gia đình, gia đình thay
    thế không thực hiện được hoặc vì lợi ích
    LTE 2016 đã quy định “Trẻ em có
    tối nhất của trẻ em” (Khoản 1 Điều 47).
    quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát
    Trong quá trình đó, Nhà nước có trách
    triển toàn diện” (Điều 15) và yếu tố để
    nhiệm ban hành các chính sách trợ cấp, trợ
    bảo đảm quyền này chính là “Trẻ em có
    giúp, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn để
    quyền được chung sống với cha mẹ, được
    thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
    cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo
    em theo từng nhóm đối tượng khác nhau
    dục trừ trường hợp cách ly cha mẹ theo
    và khuyến khích xã hội dành sự ưu tiên
    quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tối
    các điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi
    nhất của trẻ” (Điều 22). Chung sống với
    dưỡng trẻ em (Điều 42).
    cha mẹ là điều kiện để trẻ em có thể phát
    triển toàn diện bởi lẽ cha, mẹ là người có Các quy định trên là phù hợp với
    điều kiện gần gũi, yêu thương với tư cách Điều 18 CRC †† khi xác định nghĩa vụ,
    là “đấng sinh thành” của trẻ em. Chăm trách nhiệm đầu tiên trong việc nuôi
    sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em không dưỡng, chăm sóc trẻ em thuộc về cha mẹ,
    chỉ là trách nhiệm với tư cách là người người chăm sóc trẻ em khác và xác định
    nghĩa vụ của nhà nước phải hỗ trợ, trợ giúp
    cha, người mẹ mà đó còn là trách nhiệm
    các bậc cha mẹ, người chăm sóc trẻ em,
    được nêu rõ trong LTE 2016 tại Điều 96,
    dành cho họ những sự trợ giúp thích đáng
    Điều 98 như bảo đảm chế độ dinh dưỡng
    trong việc thực hiện trách nhiệm chăm
    phù hợp với sự phát triển về thể chất, tinh
    sóc, nuôi dưỡng trẻ. Những quy định này
    thần của trẻ em ở từng độ tuổi, chăm sóc
    phần nào có thể thấy LTE 2016 coi trọng
    sức khoẻ ban đầu và phòng chống bệnh
    như thế nào vai trò của cha mẹ, các thành
    cho trẻ em, trách nhiệm tiếp cận dịch vụ y
    viên gia đình trong chăm sóc, nuôi dưỡng
    tế để sàng lọc, phòng ngừa các bệnh bẩm
    vì sự phát triển toàn diện của trẻ em.
    sinh cho trẻ em… Trong quá trình đó, cha
    mẹ và các thành viên trong gia đình phải Phương diện chăm sóc y tế và được
    có trách nhiệm tôn trọng các quyền của trẻ hưởng tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất
    em (Điều 75). Như vậy có thể thấy, trách LTE 2016 đã ghi nhận: “Trẻ em
    nhiệm chăm sóc trẻ em trước tiên phải có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức
    nêu cao vai trò của cha, mẹ, hay nói cách khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch
    khác trẻ em được ưu tiên bảo vệ tại gia vụ phòng, khám, chữa bệnh”. Như vậy trẻ
    đình, “việc đưa trẻ em vào cơ sở trợ giúp em là đối tượng được ưu tiên tiếp cận hàng

    †† Điều 18 (1) CRC 1969 quy định: “Các Quốc gia thành viên phải có những cố gắng cao nhất để bảo đảm việc
    thừa nhận nguyên tắc là cả cha và mẹ đều có trách nhiệm chung trong việc nuôi dưỡng và sự phát triển của con
    cái. Cha mẹ, và tùy trường hợp có thể là người giám hộ hợp pháp, có trách nhiệm đầu tiên trong việc nuôi dưỡng
    và sự phát triển của trẻ em. Những lợi ích tốt nhất của trẻ em phải là điều quan tâm cơ bản của họ”.

  6. Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion 29

    đầu trong chăm sóc y tế, hay nói cách khác, phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân,
    chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em là mối quan được bình đẳng về cơ hội học tập và
    tâm hàng đầu của xã hội. Điều này nêu cao giáo dục; được phát triển tài năng, năng
    trách nhiệm của Nhà nước ở các khía cạnh khiếu, sáng tạo, phát minh”. Để hỗ trợ trẻ
    sau đây (Điều 43): Thứ nhất, có chính sách em được tiếp cận một cách đầy đủ quyền
    phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã được giáo dục, trách nhiệm của Nhà nước
    hội từng thời kỳ để hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ đã được xác định rõ ở Điều 44: Thứ nhất,
    em được chăm sóc sức khỏe, ưu tiên cho chính sách hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em
    trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; Thứ hai, bảo được đi học, giảm thiểu tình trạng trẻ em
    đảm thực hiện các biện pháp theo dõi sức bỏ học; Thứ hai, đặc biệt quan tâm tới các
    khỏe định kỳ, chăm sóc dinh dưỡng, sức chính sách hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc
    khoẻ ban đầu, tiêm chủng cho phụ nữ mang biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo,
    thai và trẻ em theo độ tuổi; tư vấn và hỗ trợ trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh
    trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sống tại các xã biên giới, miền núi, hải
    sản, sức khỏe tình dục phù hợp với độ tuổi đảo và các xã có điều kiện kinh tế – xã
    theo quy định của pháp luật; Thứ ba, ưu tiên hội đặc biệt khó khăn được tiếp cận giáo
    tư vấn, bảo vệ, chăm sóc về sức khỏe, dinh dục và giới thiệu việc làm phù hợp với độ
    dưỡng cho phụ nữ mang thai, bà mẹ nuôi tuổi và pháp luật về lao động; Thứ ba, có
    con dưới 36 tháng tuổi và trẻ em; Thứ tư, chính sách phù hợp để phổ cập giáo dục
    có chính sách, biện pháp tư vấn, sàng lọc, mầm non cho trẻ em 05 tuổi và chính sách
    chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh; hỗ trợ để trẻ em trong độ tuổi được giáo
    giảm tỷ lệ tử vong trẻ em, trẻ sơ sinh; xóa dục mầm non phù hợp với Điều kiện phát
    bỏ phong tục, tập quán có hại, ảnh hưởng triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ; Thứ tư,
    đến sức khỏe trẻ em; Thứ năm, đóng, hỗ trợ xây dựng chương trình, nội dung giáo dục
    đóng bảo hiểm y tế cho trẻ em theo quy định phải phải phù hợp với từng độ tuổi, từng
    của pháp luật; Thứ sáu, có chính sách, biện nhóm độ tuổi trẻ em, có trọng tâm, đáp
    pháp để trẻ em được tiếp cận nguồn nước ứng chất lượng, yêu cầu phát triển toàn
    hợp vệ sinh, điều kiện vệ sinh cơ bản và an diện và hội nhập; Thứ năm, quy định môi
    toàn thực phẩm; Thứ bảy, khuyến khích xã trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân
    hội ủng hộ, đầu tư nguồn lực để bảo vệ và thiện, phòng, chống bạo lực học đường.
    chăm sóc sức khỏe cho trẻ em. Có thể thấy, Có thể thấy, các quy định trên của LTE
    các quy định trên của LTE 2016 là phù hợp 2016 là phù hợp với nội dung của Điều 28,
    với nội dung của Điều 24 CRC 1989. 29 CRC 1989.
    Phương diện quyền được giáo dục Phương diện quyền được nghỉ ngơi,
    LTE 2016 đã ghi nhận tại Điều 16 về vui chơi, giải trí và sinh hoạt văn hóa
    quyền được giáo dục, học tập và phát triển LT 2016 đã ghi nhận tại Điều 17 về
    năng khiếu: “Trẻ em có quyền được giáo quyền vui chơi, giải trí: “Trẻ em có quyền
    dục, học tập để phát triển toàn diện và vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ

  7. 30 Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion

    hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ định về nghĩa vụ và quyền giáo dục con và
    thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp Điều 74 quy định về bồi thường thiệt hại
    với độ tuổi”. Để bảo đảm điều kiện vui do con gây ra. Trong phạm vi hẹp là mối
    chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ quan hệ gia đình, LHNGĐ đã có những
    thuật, thể thao, du lịch cho trẻ em, Điều 24 quy định rõ về vai trò, trách nhiệm của cha
    đã xác định trách của Nhà nước như sau: mẹ và các thành viên gia đình trong việc
    Thứ nhất, có chính sách hỗ trợ hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo đảm phát
    sáng tạo tác phẩm, công trình văn hóa triển toàn diện cho trẻ em.
    nghệ thuật; Thứ hai, phát triển hệ thống 6. Luật Giáo dục 2019 (LGD)
    thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở cho trẻ
    Một trong những nội dung quan
    em; Thứ ba, có chính sách ưu tiên trẻ em
    trọng trong xây dựng LGD 2019 đó là bảo
    khi sử dụng dịch vụ vui chơi, giải trí, thể
    đảm các quyền được giáo dục không chỉ
    thao, du lịch và tham quan di tích, thắng
    đối với công dân mà đặc biệt quan tâm tới
    cảnh; Thứ tư, tạo điều kiện để trẻ em giữ
    đối tượng thụ hưởng quyền là trẻ em. Với
    gìn, phát huy bản sắc dân tộc, văn hóa tốt
    tư tưởng đó, các quy định của LGD 2019
    đẹp và được sử dụng ngôn ngữ của dân
    đã từng bước hiện thực hoá, cụ thể hoá
    tộc mình; Thứ năm, khuyến khích tổ chức,
    quyền học tập của công dân nói chung,
    gia đình, cá nhân tham gia ủng hộ, đầu tư,
    quyền học tập của trẻ em nói riêng, cũng
    xây dựng cơ sở vật chất phục vụ trẻ em
    như phương diện bảo đảm, thúc đẩy quyền
    vui chơi, giải trí; Thứ sáu, khuyến khích
    được giáo dục của trẻ em được quy định
    sáng tạo, sản xuất đồ chơi, trò chơi cho trẻ
    trong LTE 2016. Một số điều luật của
    em bảo đảm an toàn, lành mạnh, mang bản
    LGD 2019 đã thể hiện quan điểm này bao
    sắc văn hóa dân tộc. Có thể thấy, các quy
    gồm: Thứ nhất, giáo dục tiểu học là bắt
    định trên của LTE 2016 là phù hợp với nội
    buộc, từng bước phổ cập giáo dục mầm
    dung của Điều 30, 31 CRC 1989.
    non cho trẻ em 05 tuổi (Điều 14); Thứ hai,
    5. Luật Hôn nhân & Gia đình giáo dục mầm non phải nhằm phát triển
    2014 (LHNGĐ) toàn diện trẻ em về thể chất, tình cảm, trí
    Chương V LHNGĐ 2014 quy định tuệ, thẩm mỹ, hình thành nhân cách (Điều
    quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong mối 23) và có phương pháp giáo dục phù hợp
    quan hệ giữa cha mẹ và con. Trong đó với trẻ em (Điều 24); Thứ ba, giáo dục
    có nhiều quy định liên quan đến vai trò, phổ thông phải nhằm phát triển toàn diện
    trách nhiệm của cha mẹ đối với con, là cho người học về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
    một trong những điều kiện bảo đảm sự tồn thẩm mỹ, kỹ năng cơ bản, phát triển năng
    tại và phát triển của trẻ em: Điều 69 quy lực cá nhân, tính năng động, sáng tạo,
    định về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; hình thành nhân cách con người Việt Nam
    Điều 70 quy định về nghĩa vụ và quyền (Điều 29) và có các phương pháp giáo dục
    của con; Điều 71 quy định về nghĩa vụ và phù hợp cho từng cấp học (Điều 30); Thứ
    quyền chăm sóc nuôi dưỡng; Điều 72 quy tư, ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo dục,

  8. Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion 31

    phát triển giáo dục ở các địa bàn vùng sâu, pháp. Chúng tôi cho rằng quyền sống của
    vùng xa để trẻ em có thể tiếp cận quyền trẻ em cần phải được ghi nhận cụ thể hơn
    được giáo dục (Điều 17); Thứ năm, các trong quyền sống của con người, là vấn đề
    trường hợp ưu tiên không đóng học phí, đặc biệt trong quyền sống của con người,
    hỗ trợ học phí, miễn học phí (Điều 99)… làm rõ tính đặc thù trong nội hàm quyền
    7. Một số đề xuất hoàn thiện pháp và thể hiện nỗ lực của Nhà nước trong bảo
    luật Việt Nam về bảo đảm điều kiện tồn vệ quyền này. Đề xuất này không chỉ thuần
    tại và phát triển của trẻ em tuý là sự ghi nhận về mặt hiến định, nó còn
    thể hiện thái độ, tuyên bố của Nhà nước về
    Hiện nay, quy định của pháp luật
    mối quan tâm sâu sắc đối với trẻ em trong
    Việt Nam về bảo đảm điều kiện tồn tại và
    sự nghiệp phát triển Tổ quốc từ quyền thiên
    phát triển của trẻ em cơ bản đã phù hợp với
    liêng nhất – quyền sống.
    CRC 1969. Việt Nam đã có những động
    thái tích cực trong nội luật hoá các quy Thứ hai, cần có những quy định cụ
    định pháp luật về trẻ em, đặc biệt là quyền thể hơn về quyền của thai nhi. Ở đây cần
    sống của trẻ em. Điểm sáng Chương II – xác định rõ thai nhi có phải là con người,
    Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ có phải là trẻ em và xác định từ thời điểm
    bản của công dân trong Hiến pháp năm nào thai nhi có thể được thụ hưởng các
    2013 đã tạo điều kiện thuận lợi cho các quyền con người, quyền của trẻ em. Hiện
    quy định về quyền con người được ghi tại quyền của thai nhi vẫn đang là vấn đề
    nhận một cách cởi mở hơn trong các đạo có nhiều tranh luận ở Việt Nam và việc
    luật chuyên ngành. Trong phần này, nhóm ghi nhận, bảo vệ quyền của thai nhi vẫn
    tác giả nêu ba vấn đề lớn có ý nghĩa góp đang tản mạn, riêng rẽ ở các luật chuyên
    phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp ngành mà chưa có tiếng nói chung trong
    luật Việt Nam về bảo đảm điều kiện tồn tại quy định của Hiến pháp. Việc quy định
    và phát triển của trẻ em như sau: cụ thể hơn quyền của thai nhi trong Hiến
    pháp, trong luật dân sự, luật trẻ em là cơ
    Thứ nhất, cần quy định quyền sống
    sở pháp lý quan trọng để bảo đảm những
    của trẻ em thành một điều luật riêng biệt
    điều kiện tồn tại và phát triển của thai nhi
    trong Hiến pháp chứ không nên lồng ghép
    trong thực tiễn. Việc xác định tư cách con
    vào quy định quyền sống của con người tại
    người của thai nhi còn tác động rất lớn tới
    Điều 19 như hiện nay. Với quy định hiện
    sự điều chỉnh của pháp luật đối với các
    tại có hai hạn chế lớn: Một là, chưa làm
    hành vi nạo, phá thai của luật hình sự.
    nổi bật một trong những quyền quan trọng
    nhất của trẻ em trong Hiến pháp khiến cho Thứ ba, nâng mức trần độ tuổi được
    việc tìm hiểu những quyền trẻ em trong xác định là trẻ em. LTE 2016 quy định trẻ
    Hiến pháp bị “hoà lẫn” trong quyền con em là người dưới 16 tuổi, trong khi định
    người nói chung; Hai là, khó lòng làm rõ nghĩa trẻ em của CRC 1969 là những người
    nội hàm quyền sống của trẻ em ở trong văn dưới 18 tuổi. Quy định này của CRC 1969
    bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến có ý nghĩa mở, mức 18 tuổi là mức tiêu

  9. 32 Nghiên cứu trao đổi ● Research-Exchange of opinion

    chuẩn nhưng không phải bắt buộc, cố định Tài liệu tham khảo:
    với mọi quốc gia. Điều này cho phép các [1]. Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
    quốc gia có thể quy định mức trần độ tuổi (2011), “Giới thiệu các văn kiện quốc tế về
    của trẻ em thấp hơn 18 tuổi, hoặc tối đa là quyền con người”, Nxb Lao động – Xã hội,
    Hà Nội.
    18 tuổi. Chúng tôi cho rằng việc nâng trần
    độ tuổi của trẻ em là người dưới 18 tuổi là [2]. Phan Duy Anh (2016), Quyền sống của
    trẻ em ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ
    cơ sở để mở rộng hơn khả năng tiếp cận và
    luật học, Học viện Khoa học xã hội.
    thụ hưởng quyền trẻ em. Từ đủ 16 tuổi đến
    [3]. Võ Khánh Linh, Phan Duy Anh (2019),
    dưới 18 tuổi vẫn là độ tuổi mà trẻ em đang
    Luận giải về nội hàm quyền sống của trẻ em,
    dần tích luỹ, phát triển để trưởng thành, do Tạp chí Pháp luật về Quyền con người, số 1 –
    đó các em vẫn có quyền được xã hội quan 2019, tr. 78 – 85.
    tâm bởi các quyền trẻ em đặc thù. Việc [4]. Võ Khánh Vinh (2011), “Những vấn đề lý
    nâng trần độ tuổi trẻ em là hoàn toàn khả luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự và
    thi với những quy định hiện hành trong hệ chính trị”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
    thống pháp luật quốc gia, dù rằng điều này Địa chỉ tác giả: Võ Khánh Linh, Khoa Chính
    sẽ cần phải tính toán đến việc sửa đổi một trị học, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
    số ngành luật có liên quan. Nhưng xét từ Email: vokhanhlinh07031991@gmail.com
    góc độ nhân đạo và nhân quyền điều này
    là cần thiết.

Download tài liệu Pháp luật Việt Nam về bảo đảm các điều kiện tồn tại phát triển của trẻ em File Docx, PDF về máy