[Download] Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững – Tải về File Docx, PDF

Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
Nội dung Text: Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

Download


Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.

Bạn đang xem: [Download] Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững File Docx, PDF về máy

Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững

  1. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG BẢO VỆ
    MÔI TRƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

    LAW ON USE OF ECONOMIC TOOLS IN ENVIRONMENTAL
    PROTECTION MEETS SUSTAINABLE DEVELOPMENT
    REQUIREMENTS

    Đào Mộng Điệp1, Trịnh Tuấn Anh2

    Tóm tắt – Bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững được
    xem là mục tiêu rất quan trọng của Nhà nước và toàn xã hội. Bằng những biện
    pháp và cách thức khác nhau, Nhà nước đã và đang sử dụng nhằm ngăn chặn các
    trường hợp suy thoái, ô nhiễm về môi trường, trong đó sử dụng công cụ kinh tế
    thông qua hành lang pháp lí được xem là biện pháp quan trọng để bảo vệ môi
    trường. Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về sử dụng
    công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị một số
    giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ
    môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
    Từ khóa: bảo vệ môi trường, công cụ kinh tế, phát triển bền vững.
    1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ
    TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
    1.1. Thuế bảo vệ môi trường
    Thuế là một khoản đóng góp dưới hình thức tiền tệ mà các cá nhân công dân
    phải nộp về cho Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định để trang trải cho các
    chi tiêu vì lợi ích chung và lí do duy nhất mà các công dân phải nộp thuế vì họ là
    thành viên của một cộng đồng có tổ chức [1]. Trong lĩnh vực môi trường, xuất
    phát từ nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP – The Polluter Pays
    Principle) với nguyên lí ‘những người khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên,
    những người có hành vi xả thải vào môi trường cũng như những người có hành vi
    khác gây tác động xấu tới môi trường đều phải trả tiền’ [2]. Do đó, Nhà nước ban
    hành sắc luật thuế bảo vệ môi trường (BVTM) là điều tất yếu, phù hợp với yêu
    cầu thực tiễn. Với tư cách là một loại thuế do Nhà nước ban hành, đánh vào các
    sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường,
    thuế BVMT là công cụ kinh tế (CCKT) hiệu quả và phổ biến được áp dụng để
    1
    Trường Đại học Luật, Đại học Huế
    2
    Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng; Email: anhtt@dau.edu.vn
    409

  2. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    quản lí và BVMT. Đây được biện pháp kinh tế lâu đời nhất trong quản lí và
    BVMT.
    Dưới góc độ luật thực định, Khoản 1, Điều 2 Luật Thuế BVMT năm 2010
    quy định: ‘Thuế BVMT là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa khi sử
    dụng gây tác động xấu đến môi trường’ [3]. Đồng thời, Khoản 1, Điều 5 Luật
    Thuế BVMT năm 2010 quy định: ‘Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, nhập
    khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật Thuế
    BVTM năm 2010 thì phải nộp thuế’ [3].
    Mục tiêu của thuế BVMT là tạo ra nguồn thu cho ngân sách nhà nước
    (NSNN) lấy từ những người sản xuất, kinh doanh những sản phẩm mà việc sản
    xuất và tiêu dùng chúng tiềm ẩn nguy cơ gây tác động xấu tới môi trường để bù
    đắp các chi phí xã hội [4]. Trên cơ sở tác động trực tiếp vào lợi ích kinh tế của
    người gây ô nhiễm theo nguyên tắc PPP, việc sử dụng CCKT này sẽ làm thay đổi
    hành vi của người gây ô nhiễm môi trường theo hướng phòng, chống, khắc phục ô
    nhiễm môi trường, suy thoái, sự cố môi trường, về thực hiện cam kết BVMT. Có
    thể thấy, thuế BVMT có vai trò quan trọng, đặc biệt tình trạng ô nhiễm, suy thoái
    môi trường đang ngày càng trở thành vấn đề cấp bách cần giải quyết của tất cả các
    quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển
    Các chính sách thuế BVMT kể từ thời điểm sắc thuế có hiệu lực thi hành
    trên thực tiễn (từ ngày 01/01/2012) đã hướng đến mục tiêu BVMT như quy định
    mức thuế suất khá cao. Vì thế, người tiêu dùng (NTD) sẽ có xu hướng chuyển
    sang tiêu dùng những sản phẩm khác có cùng công dụng, chức năng nhưng có giá
    rẻ hơn do không bị đánh thuế và cũng chính vì thế mà các doanh nghiệp tiêu thụ
    được ít sản phẩm hơn. Đồng thời, khuyến khích NTD và doanh nghiệp sử dụng
    các năng lượng có lợi cho môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn thực thi loại CCKT
    này đã có nhiều vấn đề đặt ra, cụ thể:
    Thứ nhất, đối tượng chịu thuế. Cụ thể, tại Điều 3 Luật Thuế BVMT năm
    2010 quy định 08 nhóm sản phẩm hàng hóa thuộc diện chịu thuế là chưa đầy đủ
    [3]. Trên thực tế, nhiều sản phẩm, hàng hóa mà việc sử dụng có khả năng gây ô
    nhiễm môi trường nhưng lại chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật Thuế
    BVMT năm 2010. Ví dụ, các chất tẩy rửa trong công nghiệp, chất kích thích tăng
    trưởng, khí than, khí thiên nhiên… mà khi đưa vào sử dụng có mức độ gây ô
    nhiễm trên diện rộng, tác động xấu đến môi trường sinh thái và sức khỏe con
    người.
    Thứ hai, mức thuế suất đối với một số sản phẩm, hàng hóa là đối tượng chịu
    thuế. Mức thuế BVMT thể hiện mức độ điều tiết của Nhà nước đối với những
    hàng hóa khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Luật Thuế BVMT năm
    2010 quy định biểu khung thuế BVMT với mức thuế “tuyệt đối”. Tuy nhiên,
    khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa áp dụng cho một loại hàng hóa là
    tương đối lớn nhất [Biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng] đối với hầu hết
    410

  3. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    các nhóm hàng, mặt hàng, dẫn tới khả năng việc áp dụng sẽ không thống nhất đối
    với các doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng nhưng tại các địa phương
    khác nhau.
    1.2. Phí bảo vệ môi trường
    Phí bảo vệ môi trường là một CCKT hữu hiệu được sử dụng phổ biến ở trên
    thế giới nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường và tạo nguồn thu cho NSNN dành
    cho hoạt động BVMT. Theo cách tiếp cận của cơ quan thống kê châu Âu, BVMT
    được hiểu là loại phí có căn cứ tính phí dựa trên các chất gây hại cho môi trường.
    Theo đó, phí BVMT là loại phí được xếp vào loại phí BVMT nếu căn cứ tính phí
    là một đơn vị vật chất (hoặc đại diện cho nó) của một vật gì đó đã được chứng
    minh sẽ gây ra một tác động có hại đặc biệt đến môi trường [5].
    Dưới góc độ luật thực định, Luật BVMT năm 2014 và các văn bản quy
    phạm pháp luật khác có liên quan không đưa ra khái niệm phí BVMT nhưng với
    những mục tiêu và cơ sở tính phí BVMT được xác định rõ ràng trong Luật BVMT
    năm 2014, kết hợp với khái niệm phí được quy định trong Luật Phí và Lệ phí năm
    2015 [6], phí BVMT có thể được định nghĩa như sau: Phí BVMT là khoản tiền mà
    tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường hoặc làm phát sinh tác động xấu đối với
    môi trường phải nộp nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được
    cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp dịch vụ cho hoạt động BVMT.
    Với tư cách là CCKT, phí BVMT là khoản thu được sử dụng để bù đắp một
    phần các chi phí cho công tác BVMT, giải quyết một phần các vấn đề môi trường
    do những người đóng phí gây ra. Theo đó, mức phí BVMT phải được tính toán
    đảm bảo bù đắp chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỏ ra để thực hiện
    công việc, cung cấp dịch vụ phục vụ người nộp phí BVMT.
    Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, với tư cách là CCKT, phí BVMT có tác dụng
    điều chỉnh hành vi của người gây ô nhiễm theo hướng có lợi cho môi trường. Với
    lí do phải chi trả chi phí môi trường nên buộc doanh nghiệp phải chủ động cân
    nhắc một cách linh hoạt các phương án tối ưu trong hoạt động sản xuất và tiêu
    dùng để vừa thực hiện được biện pháp có lợi hơn cho môi trường nhưng đồng thời
    có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng lợi nhuận. Đây được gọi là nguyên
    tắc lợi đôi đường “win-win”, được hình thành nhờ việc áp dụng tốt CCKT trong
    BVMT [7]. Đồng thời, phí BVMT tạo nguồn thu cho NSNN trong hoạt động
    BVMT.
    So với các nước trên thế giới, công cụ phí BVMT ở Việt Nam được áp dụng
    khá muộn. Hiện nay, phí BVMT của Việt Nam về cơ bản có hai loại là phí nước
    thải và phí rác thải (gọi tắt là “chất thải”).
    Trong quá trình thực hiện, pháp luật về phí BVMT đã được sửa đổi, bổ sung
    cho phù hợp với thực tiễn đời sống. Nhìn chung, các quy định về phí BVMT đã
    mang lại những hiệu quả nhất định trong việc BVMT, điều chỉnh hành vi chủ thể
    411

  4. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    xả thải theo hướng có lợi cho môi trường và tạo được nguồn tài chính đáng kể cho
    ngân sách Trung ương và địa phương trong BVMT. Tuy nhiên, pháp luật về phí
    BVMT cũng dần bộc lộ những hạn chế và bất cập, làm giảm hiệu lực và hiệu quả
    của phí BVMT đối với khả năng giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Cụ thể:
    Thứ nhất, mức thu phí BVTM hiện nay còn khá thấp, điều này chưa thực sự
    bù đắp được các chi phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bỏ ra để thực hiện
    công việc, cung cấp dịch vụ phục vụ người nộp phí BVMT. Bên cạnh đó, mức thu
    phí theo quy định hiện hành không đủ liều lượng để buộc các doanh nghiệp phải
    cải tạo hệ thống xử lí chất thải. Điều này sẽ không phát huy được hiệu quả thực thi
    của pháp luật,
    Thứ hai, đối tượng chịu phí BVMT chưa đầy đủ. Ví dụ, pháp luật không
    quy định đối tượng chịu phí là các cửa hàng thức ăn nhanh, siêu thị; khu công
    nghệ cao; hệ thống xử lí nước thải tập trung khu đô thị…, do đó dẫn đến khó khăn,
    vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện của cơ quan chức năng. Điển hình,
    hiện nay cả nước có ba khu công nghệ cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và
    Đà Nẵng. Tuy nhiên, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước
    thải [8] không có quy định về đối tượng chịu phí là khu công nghệ cao đã gây
    lúng túng cho các địa phương trong việc xác định khu công nghệ cao thuộc đối
    tượng chịu phí nước thải công nghiệp hay nước thải sinh hoạt.
    1.3. Quỹ bảo vệ môi trường
    Quỹ bảo vệ môi trường (Quỹ BVMT) là loại CCKT được sử dụng khá phổ
    biến hiện nay cho mục đích BVMT. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học, Quỹ
    BVMT có thể được hiểu là một thể chế hoặc một cơ chế được thiết kế để nhận
    kinh phí từ nhiều nguồn khác nhau và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ
    quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường
    [9].
    Về phương diện pháp lí, Quỹ BVMT là một tổ chức tài chính được lập ra để
    hỗ trợ cho việc sử dụng và bảo tồn nguồn tài nguyên một cách bền vững. Do đó,
    Quỹ BVMT hoạt động thông thường dưới hình thức cung cấp hỗ trợ tài chính với
    các điều khoản ưu đãi, các khoản trợ cấp không hoàn lại, các khoản vay vốn dài
    hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường.
    Ở Việt Nam, Quỹ BVMT được chia làm ba loại: (i) Quỹ BVMT quốc gia;
    (ii) Quỹ BVMT địa phương và; (iii) Quỹ BVMT ngành [3]. Các quỹ này đã được
    sử dụng hiệu quả, hỗ trợ cho công tác BVMT. Đến nay, nước ta có 41 tổ chức
    Quỹ BVMT, trong đó, có 01 Quỹ BVMT Trung ương (Quỹ BVMT Việt Nam), 39
    Quỹ BVMT địa phương và 01 Quỹ BVMT ngành Than [9]. Kể từ thời điểm được
    thành lập cho đến nay, các Quỹ BVMT đạt được một số kết quả như: góp phần
    đưa nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện dự án môi trường hiệu quả, thực hiện
    các chiến lược, mục tiêu BVMT; bước đầu huy động được một phần nguồn tài lực
    từ trong và ngoài nước cho các hoạt động BVMT. Ngoài ra, các hoạt động của các
    412

  5. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Quỹ góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao nhận thức con
    người về vấn đề môi trường [10].
    Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai hoạt động của các
    Quỹ BVMT còn bộc lộ những hạn chế:
    Thứ nhất, nguồn vốn của Quỹ BVMT ở Trung ương và các địa phương hiện
    nay rất hạn chế. Theo quy định của Luật BVMT năm 2014, vốn hoạt động của
    Quỹ BVMT được hình thành từ các nguồn: NSNN; phí BVMT; các khoản bồi
    thường cho Nhà nước về thiệt hại môi trường; các khoản hỗ trợ, đóng góp, ủy thác
    đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước [3]. Tuy nhiên, hiện nay, nguồn
    vốn của Quỹ BVMT hầu như chỉ phụ thuộc vào NSNN. Nguồn vốn này thường là
    ổn định, ít khi được tăng, bổ sung. Trong khi đó, các nguồn vốn có thể bổ sung
    thường xuyên cho Quỹ như phí BVMT, các khoản bồi thường thiệt hại về môi
    trường lại chưa có cơ chế chuyển vốn.
    Thứ hai, khó khăn trong việc thực hiện cơ chế ưu đãi của Quỹ BVMT Việt
    Nam là để đầu tư cho môi trường. Theo quy định của pháp luật, thủ tục cho vay
    của Quỹ BVMT Việt Nam không khác so với hình thức cho vay thương mại. Quỹ
    BVMT Việt Nam mới chỉ được phép cho vay ưu đãi về lãi suất, còn các điều kiện
    cho vay vẫn phải tuân thủ đúng như các yêu cầu cho vay thương mại. Trong khi
    đó, hầu hết các đối tượng có nhu cầu vay vốn đầu tư cho môi trường không có đủ
    điều kiện để đáp ứng các nhu cầu trên.
    2. KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ SỬ DỤNG
    CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÁP ỨNG YÊU
    CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
    2.1. Thuế bảo vệ mội trường
    Thứ nhất, các quy định về đối tượng chịu thuế BVMT phải bao hàm mọi sản
    phẩm, hàng hóa gây tác động tiêu cực đến môi trường. Về điều này, Luật Thuế
    BVMT năm 2010 đã không làm được. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế (Cộng
    hòa Liên bang Đức, Bỉ) cho thấy, pháp luật thuế BVMT đã quy định các đối
    tượng chịu thuế mà Luật thuế BVMT năm 2010 không đề cập như sản phẩm phân
    bón hóa học, chất tẩy rửa, chất kích thích tăng trưởng, khí than, khí thiên nhiên
    [11].
    Do đó, để bảo đảm tính bao quát, công bằng của quy định về đối tượng chịu
    thuế, cần phải rà soát lại danh mục hàng hóa, khảo sát thêm thực tiễn, bổ sung các
    đối tượng chịu thuế dựa trên nguyên tắc đã là sản phẩm gây tác động tiêu cực đến
    môi trường thì phải thuộc diện chịu thuế [12]. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định
    của Luật Thuế BVMT, tránh tình trạng phải sửa đổi, bổ sung, đồng thời Luật Thuế
    BVMT cho phép Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng chịu thuế bằng văn bản
    dưới luật, Chính phủ cần sửa đổi Nghị định 67/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và

    413

  6. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế BVMT rà soát, bổ sung và quy
    định chi tiết các đối tượng chịu thuế.
    Thứ hai, như đã đề cập, biên độ khung thuế suất quy định là quá rộng đối
    với hầu hết các nhóm hàng, mặt hàng. Bên cạnh đó, các tiêu chí để xây dựng
    khung thuế suất đối với một số đối tượng chịu thuế như trong Luật Thuế BVMT
    năm 2010 là chưa đủ căn cứ thực tiễn nên tính thuyết phục chưa cao [13]. Việc
    xác định khung thuế suất đối với một số mặt hàng như xăng, dầu,…; dựa trên mức
    phí BVMT là chưa hợp lí vì hai CCKT này là khác nhau.
    Để khắc phục điều này, theo tác giả, Nghị định 67/2011/NĐ-CP và Thông
    tư số 152/2011/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 106/2018/TT-BTC)
    hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/2011/NĐ-CP [14] cần quy định cụ thể và chi
    tiết theo hướng chia nhỏ các nhóm hàng ra, có khung thuế suất riêng đối với từng
    mặt hàng. Đối với hàng hóa chịu sự biến động lớn về giá (xăng, dầu…), có thể
    quy định biên độ rộng, còn đối với những mặt hàng khác cần thu hẹp biên độ lại.
    2.2. Phí bảo vệ môi trường
    Thứ nhất, xây dựng mức thu phí tương xứng với mức độ gây ô nhiễm và tốc
    độ lạm phát. Kinh nghiệm thế giới cho thấy trong những năm đầu áp dụng phí
    BVMT, mức thu phí có thể quy định ở mức thấp, sau đó tăng dần ở những năm
    tiếp theo. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà một số quốc gia đã rất thành công
    trong việc thu phí ô nhiễm như Đức, Trung Quốc [15]. Điển hình ở Trung Quốc,
    quy định tính phí ô nhiễm môi trường với tất cả các đơn vị ô nhiễm, cả đơn vị trên
    và dưới tiêu chuẩn cho phép. Các tiêu chuẩn được quy định phù hợp với từng
    ngành công nghiệp. Mức phí sẽ thay đổi tùy theo loại chất gây ô nhiễm. Pháp luật
    Trung Quốc cho phép các địa phương có thể đưa ra các tiêu chuẩn chặt chẽ hơn
    tiêu chuẩn quốc gia và có thể đưa ra mức phí cao hơn mức phí chung của quốc gia
    [7].
    Thứ hai, bổ sung quy định đối tượng chịu phí BVMT:
    (i) Xác định rõ ràng đối tượng chịu phí đối với nước thải tại các siêu thị có
    hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh, sản xuất bánh, các cửa hàng thức
    ăn nhanh. Cụ thể, trường hợp các siêu thị, trung tâm thương mại là các cơ sở kinh
    doanh không có hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh sẽ thuộc đối tượng
    chịu phí nước thải sinh hoạt. Trường hợp các cơ sở này có hoạt động chế biến
    thực phẩm, thức ăn nhanh mà hoạt động chế biến thực phẩm, thức ăn nhanh là
    hoạt động chính thì các cơ sở này sẽ thuộc đối tượng chịu phí nước thải công
    nghiệp;
    (ii) Bổ sung hệ thống xử lí nước thải tập trung khu đô thị là đối tượng chịu
    phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
    (iii) Bổ sung khu công nghệ cao là đối tượng chịu phí BVMT đối với nước
    thải công nghiệp
    414

  7. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    2.3. Quỹ bảo vệ môi trường
    Thứ nhất, bổ sung nguồn vốn cho Quỹ BVMT bằng cách thu hút vốn ODA,
    WB và các tổ chức quốc tế khác đầu tư cho môi trường tại Việt Nam.
    Thứ hai, hoàn thiện các quy chế, quy trình nghiệp vụ theo hướng thông
    thoáng, gọn nhẹ để các đơn vị có nhu cầu có thể tiếp cận được nguồn vốn. Cụ thể:
    – Tích cực tiếp cận các đơn vị có nhu cầu và giải quyết cho vay đối với các
    chủ đầu tư về môi trường đáp ứng được các điều kiện theo quy định của Nhà
    nước;
    – Nghiên cứu đề xuất mở rộng đối tượng cho vay ưu đãi, chú ý tới nhóm đối
    tượng nhà thầu triển khai dự án BVMT;
    – Nghiên cứu xem xét đề xuất bổ sung hoàn thiện các quy định hoạt động
    nghiệp vụ, cơ chế ưu đãi cho phù hợp với thực tế. Thực hiện đa dạng hóa các hình
    thức hỗ trợ tài chính như Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đã ban hành (cho
    vay ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, tài trợ không hoàn lại).

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Michel Bouvier. General Introduction of Tax Law and the Theory of Taxation.
    LGDJ, Lextenso editions; 2012.
    [2] Võ Trung Tín. Về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền – kinh nghiệm
    nước ngoài và những vấn đề pháp lí đặt ra đối với Việt Nam. Tạp chí Khoa
    học Pháp lý. 2014;Số 06 (85).
    [3] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Thuế bảo vệ môi
    trường. 2010.
    [4] Nguyễn Ngọc Anh Đào. Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ
    môi trường ở Việt Nam hiện nay [Luận án tiến sĩ]. Học viện Khoa học Xã
    hội. 2013
    [5]Elzbieta Broniewicz. Environmental Protection Expenditure in European
    Union, Available from: https://www.intechopen.com/books/environmental-
    management-in-practice/environmental-protection-expenditure-in-european-
    union [Accessed 15th October 2020].
    [6] Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Phí và Lệ phí.
    2015.
    [7] Lê Thị Thu Hằng. Pháp luật về phí bảo vệ môi trường từ thực tiễn thành phố
    Đà Nẵng [Luận án tiến sĩ]. Học viện Khoa học Xã hội. 2018.
    [8] Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Nghị định về phí bảo vệ môi trường đối
    với nước thải. Nghị định số 154/2016/NĐ-CP. 2016.
    415

  8. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    [9] Nguyễn Văn Luân. Hiệu quả kinh tế và môi trường của Quỹ Bảo vệ môi
    trường Việt Nam. Tạp chí Công thương điện tử. 2020. Truy cập từ:
    http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/hieu-qua-kinh-te-va-moi-truong-cua-quy-
    bao-ve-moi-truong-viet-nam-71106.htm [Ngày truy cập: 15/10/2020].
    [10] Nguyễn Nam Phương. Những vướng mắc trong việc sử dụng Quỹ Bảo vệ môi
    trường Việt Nam trong quản lí môi trường và giải pháp khắc phục. Viện
    Khoa học Pháp lí. Bộ Tư pháp; 2005.
    [11] Vương Thị Thu Hiền, Phạm Xuân Thắng. Thuế bảo vệ môi trường: Kinh
    nghiệm quốc tế và những khuyến nghị với Việt Nam. Tạp chí Tài chính.
    2017;Số 666.
    [12] Võ Trung Tín. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật
    môi trường Việt Nam [Luận án tiến sĩ]. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí
    Minh. 2019.
    [13] Võ Trung Tín, Nguyễn Lâm Trâm Anh. Thuế bảo vệ môi trường – hình thức
    thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền trong pháp luật môi
    trường Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2014;số 16 (272).
    [14] Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Nghị định của Chính phủ quy định chi
    tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế bảo vệ môi trường.
    Nghị định số 67/2011/NĐ-CP. 2011.
    [15] Lê Hà Thanh và Đinh Đức Trường. Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải:
    Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam. Tạp chí Những Vấn đề Kinh
    tế & Chính trị Thế giới. 2013;Số 4(204);tr.25-36.

    416

Download tài liệu Pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững File Docx, PDF về máy