[Download] Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số – Tải về File Word, PDF

Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số

Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số
Nội dung Text: Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số

Download


Bài viết với mục tiêu nhằm đảm bảo an ninh kinh tế, giữ một môi trường kinh doanh thuận lợi và an toàn có vai trò then chốt để ổn định kinh tế vĩ mô, tạo tiền đề quan trọng để hoàn thành các chiến lược và mục tiêu kinh tế dài hạn. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số File Word, PDF về máy

Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    17.

    1Nguyễn Đông Phong*
    Tô Công Nguyên Bảo*
    Nguyễn Khắc Quốc Bảo*

    Tóm tắt
    Hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là hai xu hướng toàn cầu chủ
    yếu hiện nay, tác động bao trùm lên mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, trong đó có vấn đề an
    ninh kinh tế. Các mô hình kinh doanh kiểu mới, các sản phẩm – dịch vụ của nền kinh tế
    số cũng đặt ra các thách thức cho an ninh không gian mạng và an ninh phi truyền thống.
    Trong khi đó, đại dịch Covid-19 bùng nổ đã gây ra nhiều hệ lụy, làm trầm trọng hơn các
    bất ổn toàn cầu vốn đã tồn tại trước đây. Các quốc gia đang đối mặt với những thách
    thức nghiêm trọng, các rủi ro tiềm ẩn có thể dẫn đến sự đổ vỡ các mối quan hệ kinh tế
    và chính trị toàn cầu. Khi luật pháp quốc tế và vai trò của các thiết chế đa phương bị suy
    yếu và thách thức thì việc tự cường trong mọi mặt từ kinh tế đến chính trị là nhân tố sống
    còn của mỗi quốc gia. Vì vậy, đảm bảo an ninh kinh tế, giữ một môi trường kinh doanh
    thuận lợi và an toàn có vai trò then chốt để ổn định kinh tế vĩ mô, tạo tiền đề quan trọng
    để hoàn thành các chiến lược và mục tiêu kinh tế dài hạn.
    Từ khóa: An ninh kinh tế, an ninh phi truyền thống, hội nhập quốc tế.

    1. Bối cảnh quốc tế và làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0
    1.1. Các bất ổn toàn cầu đang có xu hướng gia tăng sau đại dịch Covid-19
    Đại dịch đã khiến các quốc gia phải thực thi những biện pháp mạnh dạn để phòng chống
    và khắc chế, đây được xem là cuộc “Đại phong tỏa” có quy mô toàn cầu. Những tác động
    nặng nề từ cú sốc y tế này không những tàn phá nền kinh tế thế giới mà còn làm các bất
    ổn trước đây diễn ra nhanh và nghiêm trọng hơn. Việc này gây ra những thách thức tiềm

    1
    *Trường Đại học Kinh tế TP. HCM | Email liên hệ: nguyenbao@ueh.edu.vn

    243

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tàng và hậu quả có thể dẫn đến sự đổ vỡ trong mối quan hệ kinh tế lẫn chính trị, một trật
    tự thế giới mới có thể được thiết lập giai đoạn hậu dịch. Đại dịch có lẽ là chất xúc tác làm
    cho sự đối đầu vì mâu thuẫn lợi ích giữa các quốc gia trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết.
    Minh chứng điển hình là cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, quá trình Brexit của
    Anh với EU. Cũng như hành động của Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình
    Dương (TPP) vào tháng 01/2017, xem xét lại Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
    (NAFTA) và việc dán nhãn chỉ định các đối tác thương mại song phương có hành vi thao
    túng tiền tệ gần đây. Các bằng chứng này cho thấy chủ nghĩa đơn phương đang trỗi dậy
    rất mạnh mẽ. Liệu tính dân chủ hóa có suy yếu hay không khi mà chủ nghĩa đa phương
    trong thời gian qua đang gặp phải những thách thức không nhỏ. Không phải ngẫu nhiên
    mà một xu hướng chung hiện nay cho thấy các cường quốc như Mỹ ưu tiên chủ nghĩa
    đơn phương và song phương nhiều hơn. Một viễn cảnh đầy bi quan cho tương lai thế giới
    khi mà hoàn cảnh “đèn nhà ai nấy sáng, thân ai nấy lo” càng gia tăng. Kết quả này minh
    chứng cho sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân túy và khu vực hóa hiện nay.
    Hình 1. Chỉ số bất ổn trong chính sách kinh tế toàn cầu GEPU, giai đoạn 1997-2020

    450.00 412.05

    400.00

    350.00

    300.00

    250.00
    197.64
    200.00
    216.04

    150.00

    100.00

    50.00 74.66

    0.00
    1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020

    GEPU Index

    Nguồn: Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Đông Phong (2021), dữ liệu trích xuất từ Policy Uncertainty
    Ghi chú: Chỉ số bất ổn chính sách kinh tế toàn cầu (Global Economic Policy Uncertainty – GEPU) được
    xây dựng dựa trên số liệu của 21 nền kinh tế lớn trên thế giới, trên cơ sở: (1) mức độ phản ánh các từ khóa
    liên quan đến bất ổn, chính sách, kinh tế trên các tờ báo uy tín; (2) báo cáo của Văn phòng Ngân sách
    Quốc hội Hoa Kỳ (Congressional Budget Office – CBO); và (3) kết quả khảo sát từ Ngân hàng dự trữ liên
    bang Philadelphia.

    Cú sốc phi truyền thống từ Covid-19 buộc các quốc gia phải thay đổi chiến lược phát
    triển, tái cấu trúc nền kinh tế, đồng thời xem xét lại những mối quan hệ thương mại. Đặc
    biệt, sự thay đổi đến từ các cường quốc càng có mức độ ảnh hưởng nhiều hơn đến kinh

    244

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tế và chính trị toàn cầu. Có thể thấy, cạnh tranh địa chính trị của các cường quốc tiếp tục
    leo thang nhằm khẳng định vị thế người “thủ lĩnh” của khu vực và tham vọng hơn là dẫn
    dắt thế giới. Kỷ nguyên hậu Covid-19 có thể sẽ dẫn đến một trật tự thế giới mới được
    thiết lập kể từ sau thời Thế chiến thứ II, thời điểm Mỹ đã có những thành công nhất định
    trong thiết lập vị thế.
    Ở góc độ kinh tế, sự cộng hưởng của những bất ổn trước đây và sức tàn phá từ Covid-
    19 đã khiến thế giới rơi vào một trong những lần suy thoái trầm trọng nhất lịch sử. Quỹ
    Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo kinh tế toàn cầu trong năm 2020 giảm ở mức -4,4%, và một
    “sắc đỏ” bao trùm trong bản đồ tăng trưởng kinh tế. Kinh tế toàn cầu đang đối mặt với
    những bất ổn và thách thức nghiêm trọng. Các nền kinh tế đang “ngập” trong tiền, cùng
    với sự gián đoạn trong thanh khoản, khủng hoảng nợ công có khả năng xảy ra, sự đứt gãy
    các chuỗi cung ứng, sự quay đầu của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết hợp với
    những bất ổn trước đây, Covid-19 làm cho quá trình toàn cầu hóa trở nên thoái trào và
    một trật tự thế giới mới hậu dịch sẽ được thiết lập.
    Hình 2. Tỷ lệ các nền kinh tế đối mặt với suy thoái (%), 1871-2021

    100
    92.9

    83.8
    80

    60 59.5 61.2

    40

    20

    0
    1935
    1939
    1871
    1875
    1879
    1883
    1887
    1891
    1895
    1899
    1903
    1907
    1911
    1915
    1919
    1923
    1927
    1931

    1943
    1947
    1951
    1955
    1959
    1963
    1967
    1971
    1975
    1979
    1983
    1987
    1991
    1995
    1999
    2003
    2007
    2011
    2015
    2019

    Tỷ lệ các nền kinh tế suy thoái

    Nguồn: Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Đông Phong (2021), dữ liệu trích xuất từ WB.
    Ghi chú: Tỷ lệ các nền kinh tế suy thoái được định nghĩa như là sự thu hẹp GPD bình quân đầu người hàng năm.

    Vai trò của luật pháp quốc tế và các thiết chế đa phương đang dần suy yếu. Một ví dụ
    chính là việc Liên Hợp Quốc (UN) không thể hiện mạnh mẽ vai trò thúc đẩy nỗ lực hợp
    tác giữa các nước nhằm ứng phó với sự tàn phá của Covid-19, việc này càng làm sự chia
    rẽ sâu sắc giữa các siêu cường như Trung Quốc và Mỹ thêm trầm trọng. Song song đó,
    sự phản ứng chưa kịp thời của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cũng đã dẫn đến những
    tranh luận lớn về vai trò chống dịch của tổ chức này, thậm chí trở thành một sàn diễn
    chính trị giữa các nhóm quốc gia thân Mỹ và các quốc gia ủng hộ Trung Quốc.

    245

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Thay vì cùng nhau hợp tác tìm ra giải pháp khắc chế đại dịch, thì hành động đầu tiên
    mà Mỹ và các liên minh hướng đến đó là muốn trừng phạt Trung Quốc do nghi ngờ quốc
    gia này cố tình làm lây lan Covid-19. Chính vì lẽ đó, ngày 19/5/2020, Đại hội đồng Y tế
    Thế giới (WHA) và các thành viên WHO thông qua việc kêu gọi điều tra về những phản
    ứng của WHO trước đại dịch, khiến Covid-19 lây lan trên diện rộng. Đây cũng là một
    minh chứng cho thấy sự suy yếu của các thiết chế đa phương, không những chỉ có WHO
    mà cả UN, tổ chức đa phương lớn nhất thế giới hiện nay.
    Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng không phải là trường hợp ngoại lệ trong
    xu hướng suy yếu của các thiết chế đa phương. Việc Mỹ châm ngòi thương chiến Mỹ-
    Trung hay dán nhãn thao túng tiền tệ dựa trên các tiêu chuẩn đơn phương đã khiến vai trò
    của WTO trở nên mờ nhạt. Theo thông lệ quốc tế, việc giải quyết tranh chấp thương mại
    thường phải thông qua các tổ chức quốc tế như WTO. Toàn bộ các sự kiện nêu trên đã
    khiến những nghi vấn về vai trò của các tổ chức quốc tế, hợp tác đa phương ứng phó ra
    sao trước những thảm họa toàn cầu như Covid-19 khi mà một thế giới đang chìm đắm
    trong sự chia rẽ sâu sắc. Thậm chí, có những thế lực lợi dụng tình hình dịch bệnh để thực
    thi những hành động chống phá, kìm hãm sự phát triển của các nước khác.
    An ninh phi truyền thống đang được báo động. Một trong những vấn đề cấp bách hiện
    nay là cần phải đảm bảo an ninh quốc gia, bao gồm cả an ninh truyền thống và phi truyền
    thống, khi đó đòi hỏi các quốc gia phải nỗ lực để theo kịp và giải quyết sự biến hóa đa
    dạng của các hình thức phạm tội. Trong phạm vi bài tham luận này, chúng tôi tập trung
    xem xét vấn đề an ninh phi truyền thống mà cụ thể là an ninh kinh tế và an ninh mạng
    trong bối cảnh hội nhập quốc tế và làn sóng CMCN 4.0. An ninh phi truyền thống thường
    liên quan đến các vấn đề về an ninh mạng, kinh tế, lương thực, năng lượng, môi trường,
    dịch bệnh, nguồn nước, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, v.v.
    Với sự bùng nổ của CMCN 4.0, một minh chứng từ các cuộc xung đột chính trị không
    chỉ đơn thuần ở khía cạnh giao chiến trực tiếp mà còn là những hành động tấn công an
    ninh mạng như cách Iran áp dụng với Mỹ. Đây thật sự là mối đe dọa đến hòa bình và an
    ninh toàn cầu khi mà cách thức triển khai của các cuộc tấn công mạng rất đa dạng và rất
    khó để phát hiện. Ở khía cạnh kinh tế, các ngân hàng lớn như JPMorgan Chase, Bank of
    America cũng đã trải qua những lần bị tấn công mạng theo hình thức làm gián đoạn, từ
    chối các dịch vụ của khách hàng (DDos). Những cuộc tấn công này còn gây thiệt hại kinh
    tế cho các chủ thể, cá nhân bằng cách phát tán mã độc, virus, phần mềm gián điệp, thu
    thập thông tin cá nhân bất hợp pháp, v.v.
    Có thể thấy tầm quan trọng của không gian mạng không khác gì so với các vùng lãnh
    thổ trên đất liền, trên biển, trên không và không gian. Cùng với CMCN 4.0 thì hội nhập
    quốc tế là một xu hướng chủ đạo hiện nay của thế giới. Bên cạnh những lợi ích song
    246

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    phương, đa phương có được thì vẫn có những thách thức đặt ra cho mỗi quốc gia. Một
    trong những thách thức đó là tồn tại những âm mưu “dùng kinh tế để chuyển hóa chính
    trị” của các cường quốc với những nước phụ thuộc quá nhiều vào họ. Đã có những giả
    thuyết cho rằng Trung Quốc đang lợi dụng việc hội nhập toàn cầu để “xâm lược” kinh tế
    và hoàn thiện sức mạnh quân sự nhằm hiện thực hóa “Giấc mộng Trung Hoa”.
    Một thách thức khác đáng quan tâm hiện nay đó là an ninh lương thực và nạn đói,
    Covid-19 khiến số lượng người lâm vào cảnh đói trong năm 2020 tăng thêm 132 triệu, nâng
    tổng số lên 822 triệu người, chiếm 10,6% dân số toàn cầu (FAO, UNICEF, WFP, WHO).
    Dự báo của Oxfam International cho thấy Covid-19 có thể khiến khoảng 12.000 người chết
    vì đói mỗi ngày vào cuối năm 2020. Thống kê từ UN cũng đã minh chứng rằng lương thực
    trên toàn thế giới hiện này hoàn toàn đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản của mỗi người dân, điều
    này hàm ý rằng trong khi một số quốc gia không thể tiếp cận với lương thực, thực phẩm thì
    tại nhiều quốc gia khác lại đang dư thừa. Kết quả này càng làm rõ hơn sự bất bình đẳng
    trong xã hội hiện nay, khi mà “kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra”.
    Covid-19 đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh hơn. CMCN 4.0 đã lan tỏa
    đến mọi ngõ ngách và định hình lại cách thức vận hành, hoạt động sản xuất, dịch vụ của
    toàn thế giới. Trong bối cảnh Covid-19, làm thế nào để các cá nhân, doanh nghiệp thích
    ứng và tồn tại trong một nền kinh tế không tiếp xúc trực tiếp. Việc chuyển đổi số lúc này
    là một giải pháp được sử dụng rộng rãi và hướng đến một tương lai mới theo một cách
    tiếp cận mới.
    Nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy khả năng thích ứng tích cực, đặc biệt là khi xem
    xét hành vi của doanh nghiệp trong giai đoạn đại dịch. Khả năng ứng dụng công nghệ số,
    tự động hóa sản xuất, áp dụng các hoạt động đổi mới sáng tạo đã góp phần giúp doanh
    nghiệp vượt qua những khó khăn từ cuộc khủng hoảng y tế lẫn kinh tế. Báo cáo BPS do
    Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Thế giới (WB) đã ghi nhận, trong 09 tháng đầu
    năm 2020, hơn 60% doanh nghiệp tham gia khảo sát thích nghi với trạng thái bình thường
    mới bằng cách ứng dụng công nghệ số, tăng thêm 10% so với tháng 06/2020. Có lẽ sự
    tàn phá của Covid-19 đã quá rõ ràng nhưng cũng từ biến cố này đã thay đổi hành vi và
    cách thức hoạt động của các doanh nghiệp, từ cơ cấu tổ chức đến khả năng sản xuất, quản
    lý, và vận hành.

    247

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hình 3. Xu hướng ứng dụng các nền tảng số (% số doanh nghiệp khảo sát)

    60% 56.0%

    50% 47.0%
    43.0%

    40%

    30%
    22.0%
    20%
    10.0% 11.0%
    10% 6.0% 7.0%
    2.0%
    0%
    Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Doanh nghiệp lớn

    Tăng ứng dụng nền tảng số Đầu tư vào giải pháp số Nâng cấp, phát triển danh mục sản phẩm

    Nguồn: Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Đông Phong (2021), dữ liệu trích xuất từ WB.
    Ghi chú: Báo cáo Đánh Giá Tác Động Tới Doanh Nghiệp (Business Pulse Survey, BPS) được thực hiện
    trong giai đoạn cuối tháng 9 và giữa tháng 10 năm 2020 nhằm đánh giá hiện trạng hồi phục kinh tế thông
    qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp và điện thoại từ 501 doanh nghiệp ở 15 tỉnh, thành theo quy mô hoạt
    động và trải đều cho các ngành kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp chế tạo, bán buôn và bán lẻ, các các
    dịch vụ khác.

    Xu hướng số hóa có tác động sâu rộng và đa chiều đến kinh tế thế giới, cũng như sự
    phát triển của mỗi quốc gia. Cạnh tranh công nghệ trở thành mặt trận quyết định và việc
    làm chủ công nghệ mới là nhân tố chủ chốt để tránh sự phụ thuộc vào bất kỳ một quốc
    gia nào. Trong thời kỳ bùng nổ của CMCN 4.0, quá trình đổi mới sáng tạo, tri thức, nhân
    lực là những động lực chính để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội và dẫn dắt quốc giá vào
    một kỷ nguyên số của nhân loại. Sự cộng hưởng trong quá trình chuyển đổi số của nhiều
    lĩnh vực khác nhau đã dẫn đến sự bùng nổ của nhiều mô hình, giao thức kinh doanh mới,
    và hình thành các phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất mới. Và trong giai đoạn hiện
    nay có thể được xem là tâm điểm của quá trình hội tụ công nghệ đó. Trên nền tảng kinh
    tế chia sẻ, sự hội tụ và cộng hưởng này sẽ càng lan toả mạnh và thúc đẩy quá trình chuyển
    đổi số diễn ra nhanh chóng. Bởi lẽ, nó sẽ là một xu hướng mà doanh nghiệp, công chúng
    và các Chính phủ không thể đứng ngoài.
    Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là các quy định pháp luật vẫn chưa bắt kịp sự thay đổi
    nhanh chóng của những mô hình kinh doanh trong nền kinh tế số. Việc này dẫn đến sự
    “lúng túng” và “đuối sức” đối với công tác quản lý Nhà nước. Hàng loạt các vấn đề mới
    sẽ nảy sinh, từ những yếu tố vi mô như hành vi người tiêu dùng, trải nghiệm khách hàng,
    quản lý con người, cho đến các vấn đề vĩ mô như chính sách tài khoá, tiền tệ và điều tiết
    một nền kinh tế số sẽ làm các chính phủ phải thích ứng. Những câu chuyện liên quan đến

    248

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    quản lý và truy thu thuế của các cá nhân kinh doanh trên mạng, cụ thể là mạng xã hội
    Facebook là bằng chứng điển hình nhất, hoặc là mối quan hệ lợi ích giữa người dùng và
    đơn vị cung cấp dịch vụ trực tuyến như Google, Apple, Youtube. Dường như những nỗ
    lực của các cơ quan quản lý nhà nước vẫn chưa đem lại hiệu quả cao.
    1.2. Tác động của thương chiến Mỹ – Trung
    Những cuộc điều tra ban đầu từ Mỹ kết luận Trung Quốc đã sử dụng những biện pháp trợ
    cấp phi thị trường, thiếu minh bạch cho nhóm ngành công nghiệp. Cơ quan đại diện
    Thương mại Mỹ (USTR) cũng chỉ ra hành động chiếm dụng trái phép tài sản trí tuệ và
    thiết lập các điều khoản kinh tế buộc Mỹ phải chuyển giao công nghệ cho Trung Quốc.
    Các bất cập này được Mỹ lấy làm lý do để đưa ra những biện pháp trừng phạt với Trung
    Quốc, từ đó khởi xướng thành một cuộc chiến tranh thương mại song phương có sức ảnh
    hưởng toàn thế giới.
    Quan sát tỷ giá giữa VND và USD trong giai đoạn 2018-2020 (Hình 4) có thể thấy tỷ
    giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV) đã có sự điều chỉnh tăng từng
    bước, cụ thể giai đoạn trước khi thương chiến leo thang (từ tháng 01/2018 đến tháng
    06/2018) tỷ giá trung tâm đã tăng lên khoảng 0,8%, điều này có thể hàm ý rằng SBV đã
    có sự chuẩn bị và hành động trước nhằm đối phó với tác động của thương chiến gây ra.
    Riêng trong năm 2018 tỷ giá đã tăng 1,7% so với đầu năm và tương ứng cho năm 2019
    là 1,4%, kết quả này đáp ứng mục tiêu không tăng quá 3% do Chính phủ đưa ra. Tỷ giá
    USD/VND không có biến động quá lớn trong năm 2020. Tỷ giá trung tâm SBV hiện tại
    tăng khoảng 0,19% so với thời điểm tháng 01/2020. Khi xét đến tỷ giá tại ngân hàng
    Vietcombank tỷ lệ mất giá giữa VND và USD rơi vào khoảng 0,01%.
    Trong khi đó, tỷ giá giao dịch trên thị trường ngân hàng trong đã cho thấy mức độ
    phản ứng của thị trường trước những cú sốc, đặc biệt là trong thương chiến Mỹ-Trung,
    cụ thể từ tháng 06/2018 đến tháng 08/2018, tỷ giá giao dịch trên thị trường ngân hàng đã
    nhảy vọt lên gần 2%. Trong giai đoạn đình chiến từ tháng 12/2018 đến tháng 04/2019, tỷ
    giá giao dịch ở ngân hàng duy trì ở mức trung bình là 23.268 USD/VND. Tuy nhiên, thời
    điểm tháng 05/2019 và 06/2019 là khi Mỹ áp thuế từ 10% lên 25% cho 200 tỷ USD hàng
    hóa nhập khẩu trước đó từ Trung Quốc và Trung Quốc đáp trả lên 60 tỷ USD đã tiếp tục
    cho thấy phản ứng của tỷ giá giao dịch ở ngân hàng với mức tăng 0,6% trong 2 tháng.

    249

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hình 4. Tỷ giá USD/VND, T1.2018 – T9.2020

    23,600

    23,400

    23,200

    23,000

    22,800

    22,600

    22,400

    22,200

    22,000

    21,800

    Tỷ giá trung tâm SBV Vietcombank (TB mua/bán)

    Nguồn: Nguyễn Khắc Quốc Bảo và Nguyễn Đông Phong (2021), dữ liệu trích xuất từ IMF và Vietcombank.

    Những bất ổn trước đây cộng hưởng với tác động của khủng hoảng Covid-19 đã gây
    ra sự đứt gãy chuỗi giá trị toàn cầu, sự thoái trào của toàn cầu hóa, cũng như sự quay đầu
    của dòng vốn quốc tế. Các vấn đề này đã đặt ra thách thức lớn cho SBV trong việc điều
    hành tỷ giá hối đoái. Tại Việt Nam, với cơ chế vận hành tỷ giá thả nổi có quản lý, SBV
    đã giữ vững lập trường và có những hành động phản ứng hợp lý trên cơ sở xem xét những
    yếu tố tác động bên ngoài và tín hiệu của thị trường, đồng thời không sử dụng biện pháp
    phá giá để gia tăng xuất khẩu. Những phản ứng này giúp ổn định được niềm tin của các
    doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như tâm lý và kỳ vọng lạm phát trong nền kinh tế. SBV
    đã can thiệp và cho phép đồng nội tệ giảm giá dần dần và tạo ra cơ chế điều chỉnh tỷ giá
    linh hoạt hơn. Bên cạnh đó, để tránh gây bất ổn trong thị trường tài chính khi tiến hành
    điều chỉnh lãi suất, việc sử dụng dự trữ ngoại tệ để can thiệp vào tỷ giá được xem là một
    chính sách dung hòa trong thời điểm này. Lượng dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã tăng
    liên tục trong thời gian và chạm ngưỡng gần 100 tỷ USD trong năm 2020.
    Một tác động khác của thương chiến là sự chuyển dịch thương mại mạnh mẽ giữa Mỹ
    với Trung Quốc và Việt Nam kể từ khi bùng nổ năm 2018 và đại dịch năm 2020. Số liệu
    từ FRED cho thấy giá trị cao nhất của Việt Nam là 310,1 vào tháng 08/2020, cùng thời
    điểm này Trung Quốc đạt 105,8. Cần phải lưu ý, kết quả từ này có thể khiến Mỹ đưa ra
    nghi vấn liệu Việt Nam có phải là nơi trung gian thương mại (transhipment) của các nước
    đang bị Mỹ trừng phạt. Do đó cần phải cảnh giác hiện tượng hàng hoá Trung Quốc “mượn
    đường” Việt Nam, dán nhãn “Made in Vietnam” sau đó xuất qua Mỹ để tránh mức thuế
    quan cao.

    250

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    1.3. Mỹ cáo buộc Việt Nam là quốc gia thao túng tiền tệ
    Việc dán nhãn chỉ định Việt Nam là quốc gia thao túng tiền tệ là hành động đơn phương
    của Mỹ, dựa trên ba tiêu chí ban hành vào năm 2015: (i) Thặng dư thương mại hàng hóa
    song phương với Mỹ đạt ít nhất 20 tỷ USD; (ii) Thặng dư cán cân vãng lai tương đương ít
    nhất 2% GDP; và (iii) Mua ròng ngoại tệ trong ít nhất 6 tháng trong khoảng thời gian 12
    tháng với tổng lượng ngoại tệ mua ròng trong 12 tháng tương đương ít nhất 2% GDP. Tuy
    nhiên, những tiêu chí này là cứng nhắc, áp đặt và hoàn toàn không có cơ sở kinh tế, vì việc
    sử dụng ngoại hối để duy trì tỷ giá là nhằm ổn định lạm phát và ổn định nền kinh tế, duy trì
    chính sách tiền tệ độc lập, không vì bất kỳ một mối quan hệ thương mại song phương nào.
    Diễn biến tỷ giá USD/VND đã cho thấy tỷ giá trung tâm được SBV điều chỉnh từng
    bước dựa trên những phản ứng từ thị trường thế giới và trong nước. SBV sử dụng chính
    sách tỷ giá thả nổi có quản lý và vẫn giữ vững lập trường này trong nhiều năm qua, đồng
    thời không chủ động thực thi chính sách phá giá đồng tiền để tạo lới thế cạnh tranh không
    công bằng. Dựa trên mô hình tỷ giá hối đoái hiệu dụng thực, IMF ghi nhận VND đang bị
    định giá cao đến 15,2%, nghĩa là chính sách tỷ giá mà SBV đang vận hành không hề cố
    tình phá giá như cáo buộc của Mỹ. Hiện nay, với lãi suất thấp kỷ lục do các đợt điều chỉnh
    để giảm đau nền kinh tế từ Fed, có lẽ Mỹ mới là quốc gia đang hạ giá trị đồng tiền của
    mình. Đồng thời, mức lạm phát của Việt Nam cao hơn nhiều so với Mỹ, do đó tỷ giá hối
    đoái thực tế sau khi trừ đi lạm phát vẫn ở mức ổn định kể từ năm 2016, thậm chí là bị
    định giá cao, hoàn toàn phù hợp với nhận định của IMF.
    Công bằng mà nói, dự trữ ngoại hối của Việt Nam ở mức khoảng 29% GDP vẫn thấp
    hơn so với các nước láng giềng như Malaysia và Thái Lan và hoàn toàn phù hợp với thông
    lệ quốc tế. IMF đã khuyến nghị các quốc gia nên có mức dự trữ ngoại hối từ mức từ 3
    đến 6 tháng nhập khẩu để đảm bảo cán cân thanh toán được ổn định. Việt Nam với mức
    khoảng 100 tỷ USD trong năm 2020 vẫn thuộc phạm vi khuyến nghị của IMF. Dự trữ
    ngoại hối là cần thiết để đảm bảo an ninh tài chính tiền tệ quốc gia, ổn định tỷ giá hối
    đoái và thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, thặng dư thương mại của Việt Nam là
    kết quả của sự chuyển dịch sản xuất trong hàng hóa xuất khẩu, không hoàn toàn đến từ
    sự thay đổi chính sách của SBV.
    Việc bị cáo buộc là quốc gia thao túng tiền tệ có thể khiến Việt Nam đối mặt với
    những lệnh trừng phạt. Kịch bản có thể xảy ra là việc Mỹ, cụ thể hơn là USTR đơn phương
    áp thuế trừng phạt cho một số mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam khi cho rằng có sự trợ
    cấp, gian lận thương mại, và không chứng minh được nguồn gốc xuất xứ. Với một nền
    kinh tế với độ mở hơn 200% GDP như Việt Nam, hành động áp thuế của Mỹ sẽ dẫn đến
    những bất lợi trong xuất khẩu, đặc biệt khi Mỹ là đối tác xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch
    76,4 tỷ USD (GSO, 2020), chiếm 27,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2020.
    251

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Quan trọng hơn, với xu hướng chuyển dịch cơ sở sản xuất từ Trung Quốc vào Việt
    Nam, cũng như sự gia tăng dòng vốn FDI, đặc biệt là các công ty có xuất xứ từ Mỹ. Nếu
    hành động áp thuế được thực thi thì Mỹ đang vô tình “gián đòn” vào các đồng minh của
    chính họ, cản trở hoạt động đầu tư của những công ty này tại Việt Nam. Tuy nhiên, quá
    trình áp thuế cần phải có lộ trình và phụ thuộc vào kết quả của các vòng đàm phán song
    phương trong thời gian tới. Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề an ninh tài chính tiền tệ quốc
    gia được quan tâm hàng đầu, nội dung này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo.

    2. Các vấn đề đặt ra đối với an ninh kinh tế của Việt Nam
    Với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế,
    công tác bảo đảm an ninh kinh tế luôn được Đảng và Nhà nước ở Việt Nam quan tâm
    hàng đầu. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết để tạo lập một môi trường kinh tế
    thuận lợi, an toàn, độc lập và tự chủ, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và
    bền vững. Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới đầy bất định với những diễn biến phức tạp
    và khó lường, cùng với những thảm họa toàn cầu như Covid-19 càng khiến mỗi quốc gia
    phải thận trọng hơn, đặc biệt là trong kỷ nguyên số. Trong bối cảnh đó, chúng tôi xin khái
    quát một số vấn đề có tính xu hướng và liên quan trực tiếp đến an ninh kinh tế cần được
    thảo luận và nghiên cứu sâu.
    2.1. Dùng kinh tế để chuyển hóa chính trị
    Một trong những thách thức đặt ra hiện nay khi hội nhập quốc tế đó là xuất hiện sự chống
    phá của các thế lực thù địch nhằm gây bất ổn cho nền kinh tế vĩ mô. Bên cạnh những lợi
    ích có được, nếu Việt Nam không thận trọng sẽ dẫn đến việc quá phụ thuộc vào ngoại lực
    bên ngoài, điển hình như trường hợp các quốc gia đang phụ thuộc vào chuỗi cung ứng từ
    “công xưởng của thế giới” Trung Quốc hay việc thu hút quá nhiều dòng vốn FDI có thể
    làm giảm tính tự chủ và nội lực của nền kinh tế. Quan trọng hơn, thách thức lớn nhất mà
    lực lượng an ninh và các nhà hoạch định chính sách phải cảnh giác là âm mưu “dùng kinh
    tế để chuyển hóa chính trị” từ hợp tác quốc tế, việc này một phần đến từ sự lệ thuộc quá
    nhiều vào ngoại lực bên ngoài và sự suy yếu nội lực quốc gia.
    Vấn đề này có tính quan trọng hàng đầu và bao quát cao. Khi mà mức độ chống chịu
    của nền kinh tế Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định, áp lực cạnh trạnh quốc tế
    càng lớn, thậm chí là phải cạnh tranh ngay trên chính sân nhà do quá trình hợp tác quốc
    tế ở giai đoạn vừa qua. Covid-19 là chất xúc tác làm trầm trọng hơn những nguy cơ tiềm
    ẩn này. Các xu hướng mà chúng tôi đã trình bày cho thấy sự cộng hưởng từ Covid-19 và
    các phản ứng chính sách đã làm cho các nền kinh tế đang “ngập” trong tiền, khả năng
    thâm hụt nợ công cao, xảy ra sự đứt gãy các chuỗi cung ứng, sự quay đầu của dòng vốn
    đầu tư trực tiếp nước ngoài và xu hướng kích cầu nội địa nhiều hơn, quá trình toàn cầu

    252

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    hóa trở nên thoái trào nhanh hơn và một trật tự thế giới mới sẽ xuất hiện.
    Sự bất định rất rõ nét, tâm lý hoang mang, lo sợ đã làm cho hoạt động đầu tư, sản xuất
    trì trệ, tiêu dùng nội địa sụt giảm đáng kể, đặc biệt là với các nhóm đối tượng dễ bị tổn
    thương thuộc khu vực phi chính thức, các chủ thể yếu thế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
    các doanh nghiệp thuộc ngành nghề du lịch, vận tải, bán lẻ, dịch vụ lưu trú, ăn uống, y tế,
    giáo dục, v.v. Hệ miễn dịch của các nền kinh tế đã suy giảm mạnh sau những làn sóng
    dịch bệnh, đồng thời dư địa trong chính sách của Chính phủ cũng sụt giảm và khả năng
    chống chịu trong dài hạn sẽ trở nên khó khăn hơn. Do đó, đây cũng chính là lúc các thế
    lực thù địch có thể lợi dụng để thực hiện những hành vi gây mất an toàn đối với nền kinh
    tế vĩ mô cũng như sử dụng sức mạnh kinh tế để chi phối chính trị.
    2.2. An ninh tài chính, tiền tệ quốc gia
    Khi xét đến hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia trong quá trình hội nhập toàn cầu và tự do
    hóa kinh tế – tài chính mạnh mẽ hiện nay. Có thể thấy, những bất ổn kinh tế và chính trị
    thế giới đang đe dọa đến mức độ an toàn của hệ thống tài chính, tiềm ẩn rủi ro đến từ việc
    thâm hụt ngân sách, nợ công, nợ nước ngoài đang gia tăng, sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo
    hộ được sử dụng để giải quyết thâm hụt thương mại, sự đảo chiều của các dòng vốn quốc
    tế có thể xảy ra bất cứ lúc nào như trường hợp chiến tranh thương mại Mỹ-Trung hay đại
    dịch Covid-19.
    Hơn nữa, trong giai đoạn ứng phó Covid-19, các nước đồng loạt hạ lãi suất điều hành
    nhằm giảm đau cho nền kinh tế, sẽ dẫn đến lượng cung tiền tăng nhanh khi tình hình
    Covid-19 được kiểm soát. Ngoài ra, để đảm bảo cho cuộc sống của người dân được duy
    trì tối thiểu và không gây ra sự đổ vỡ hệ thống, Chính phủ các nước đã tung ra các gói
    giảm đau kinh tế rất khổng lồ, trị giá gần 26.000 tỷ USD (ADB, 2021). Áp lực giải ngân
    đang đặt các ngân hàng thương mại vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, việc giải ngân ồ ạt
    có thể dẫn đến nợ xấu tăng nhanh, tỷ lệ an toàn vốn bị sụt giảm, và nếu xảy ra trong một
    quốc gia có hệ thống tài chính yếu kém sẽ dẫn đến sự đổ vỡ toàn hệ thống. Như vậy,
    những hành động nêu trên có thể dẫn đến sự tăng vọt của rủi ro tài chính ở quy mô toàn
    cầu, và nếu những dòng vốn không được truyền dẫn đúng chỗ, sử dụng sai mục đích, sẽ
    dẫn đến nguy cơ bong bong tài sản, và thị trường bất động sản là một ví dụ diển hình.
    Hội nhập quốc tế còn gây sức ép rất lớn lên chính sách điều hành tỷ giá của Việt Nam
    trong thời gian qua, điển hình là khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung nổ ra vào
    những tháng đầu năm 2018. Kết hợp với sự dịch chuyển tự do của dòng vốn quốc tế, việc
    ổn định tỷ giá hối đoái và duy trì chính sách tiền tệ độc lập trở nên khó khăn hơn bao giờ
    hết, đặc biệt là khi một số quốc gia như Mỹ đang giải quyết thâm hụt thương mại bằng
    chủ nghĩa bảo hộ với những tiêu chí mang tính áp đặt và phá vỡ các thông lệ quốc tế. Đây

    253

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    cũng là lý do tại sao Việt Nam bị dán nhãn thao túng tiền tệ vào ngày 16/12/2020. Tiếp
    đến, môi trường thể chế và pháp lý của Việt Nam vẫn chưa chặt chẽ, đồng bộ, và chưa
    theo kịp sự phát triển của thị trường cũng như những mô hình kinh doanh mới. Vẫn còn
    đó tình trạng các doanh nghiệp FDI thực hiện hành vi chuyển giá, trốn thuế, gian lận
    thương mại, các hành vi thao túng thị trường chứng khoán từ các doanh nghiệp.
    2.3. An ninh mạng là vấn đề toàn cầu
    Hội nhập quốc tế trong bối cảnh bùng nổ CMCN 4.0 là một xu hướng toàn cầu chủ yếu
    hiện nay. Những đột phá công nghệ từ cuộc cách CMCN 4.0 sẽ khiến cách sống của người
    dân, cách thức hoạt động của doanh ngiệp và cách quản lý của Chính phủ cũng phải khác
    đi. Nếu một trong những chủ thể này không bắt kịp thì nguy cơ tụt hậu dẫn đến bị đào thải
    là hoàn toàn có thể xảy ra, một quy luật thị trường tất yếu. Đối với các nước đang phát triển,
    tính cạnh trạnh về vốn, công nghệ, lao động kém lợi thế hơn so với những nước phát triển.
    Tuy nhiên, các nước đang phát triển có thể tận dụng quá trình hội nhập quốc tế để tiếp
    cận và rút ngắn khoảng cách với vốn vào công nghệ với những nền kinh tế phát triển,
    bằng cách mở cửa thị trường, thu hút dòng vốn FDI có chuyển giao công nghệ, tăng cường
    nguồn nhân lực chất lượng cao, cải cách thể chế và tạo môi trường pháp lý thuận lợi. Bên
    cạnh những lợi ích to lớn đạt được thì vẫn tồn tại rất nhiều thách thức, đặc biệt là trước
    sự bùng nổ CMCN 4.0 song song hội nhập quốc tế.
    Không gian mạng được xem như là một vùng lãnh thổ riêng biệt của mỗi quốc gia với
    đặc tính kết nối toàn cầu, tuy nhiên việc bảo vệ biên giới ở vùng lãnh thổ này không phải
    là câu chuyện đơn giản đối với Chính phủ các nước. Đây là một trong những ưu tiên hàng
    đầu cần những hành động cụ thể. Việt Nam đã thấy được mối nguy hại tiềm tàng từ không
    gian mạng, khi mà các cuộc tấn công mạng diễn ra trong tích tắc và ảnh hưởng nghiêm
    trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Đó cũng là lý do tại sao Luật An ninh
    mạng được Việt Nam ban hành vào ngày 12/6/2018.
    Theo thống kê của hãng bảo mật Kaspersky, trong 6 tháng đầu năm 2020, Việt Nam
    là một trong những nước bị tấn công mạng nhiều nhất Đông Nam Á. Báo cáo của Vina
    Aspire trong quý IV/2020 cũng cho thấy Việt Nam đứng thứ 7 thế giới về các vụ tấn công
    mạng và có chỉ số kém an toàn nhất Đông Nam Á, đây thật sự một lỗ hổng rất lớn trong
    lĩnh vực bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin. Trung tâm Giám sát an toàn không
    gian mạng quốc gia (NCSC) trong 10 tháng đầu năm 2020 đã ghi nhận, cảnh báo và
    hướng dẫn xử lý 4.161 sự cố tấn công mạng vào các hệ thống thông tin tại Việt Nam.
    Đảm bảo an ninh mạng là mục tiêu then chốt hiện nay, đòi hỏi sự đồng lòng của người
    dùng, doanh nghiệp, tổ chức, và các quốc gia trên toàn cầu. Đại Hội đồng Liên minh Nghị
    viện Thế giới lần thứ 132 (IPU-132) ngày 1/4/2015 đã thống nhất Nghị quyết về “Chiến

    254

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tranh mạng: mối đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình và an ninh toàn cầu”. Đại Hội đồng
    Liên Hiệp Quốc (UNGA) vào tháng 9/2019 cũng đã chứng kiến việc ký kết thỏa thuận
    ngăn chặn lan truyền tin giả trực tuyến của 20 quốc gia. Những hành động này đã cho
    thấy sự nhất quán giữa các quốc gia và xem an ninh mạng là mốt vấn đề của quốc tế.
    2.4. Các thách thức của nền kinh tế số
    Các quy định pháp luật vẫn chưa chặt chẽ, đồng bộ và vẫn chưa theo kịp sự phát triển
    của các mô hình kinh doanh trong nền kinh tế số hiện nay. Một minh chứng điển hình
    đó là sự “đuối sức” và “lúng túng” của các cơ quan quản lý về thu thuế, quản lý hình thức
    kinh doanh qua mạng, kinh doanh xuyên biên giới, và các mô hình đổi mới sáng tạo.
    Quyền lợi của người tiêu dùng trong nền kinh tế số cũng là một thách thức lớn đối với
    Chính phủ. Rất khó khăn để có thể giải quyết những vấn đề tranh chấp, xung đột lợi ích
    giữa người mua, người bán, và các chủ thể trung gian của các mô hình kinh doanh phi
    truyền thống này.
    Nếu một quốc gia không có những quy định chặt chẽ, không thực thi vai trò kiến tạo
    cho những hình thức kinh doanh trong nền kinh tế số thì việc chuyển dịch đến một quốc
    gia khác an toàn hơn có lẽ là hiển nhiên. Vấn đề này cần phải có sự đồng bộ và hợp tác
    chặt chẽ giữa các chủ thể tham gia trong nền kinh tế số và sự nhất quán trong chính sách
    quản lý chung của các nước, tránh tạo những lợi thế không công bằng giữa các quốc gia,
    giữa các doanh nghiệp truyền thống và phi truyền thống.
    Thách thức tiếp theo là sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực
    công nghệ thông tin, đặc biệt là liên quan đến an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo (AI), máy
    học (machine learning) và Internet vạn vật (IoT). Việc bổ sung kịp thời đội ngũ nhân lực
    này là nhân tố quyết định để bắt kịp sự phát triển của nền kinh tế số trước sự bùng nổ vũ
    bão của CMCN 4.0.
    Hạ tầng viễn thông vẫn còn hạn chế. Một trong những nguyên liệu quan trọng của nền
    kinh tế số đó chính là dữ liệu và cách truyền tải dữ liệu. Việc thu thập và sử dụng dữ liệu
    hiện nay chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến tình trạng người dùng bị đánh cắp thông
    tin mà ngay bản thân họ cũng không hề hay biết. Hàm ý đằng sau vấn đề này là liệu người
    dùng có đang bị giám sát bởi các tổ chức có hành vi thu thập thông tin bất hợp pháp và
    bán thông tin cho bên thứ ba nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Đây cũng là một nội dung
    mà khái niệm chủ nghĩa tư bản giám sát có nhắc đến, thay vì tạo “thặng dư sản xuất” thì
    mục đích của các tổ chức này là tạo ra “thặng dư hành vi”.
    Điều này cũng nói lên thực trạng hạ tầng viễn thông hay cụ thể hơn là hệ thống dữ
    liệu ở Việt Nam vẫn chưa tập trung, chưa có sự kết nối đồng bộ, thậm chí mức độ chính
    xác của dữ liệu chưa được kiểm chứng. Một hệ thống toàn diện về cơ sở dữ liệu chung

    255

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    có lẽ là cần thiết lúc này. Nền kinh tế số sẽ trở nên rất hiệu quả khi có nguyên liệu đầu
    vào tốt, và nguyên liệu đó chính là dữ liệu và các quy định pháp luật của Chính phủ.
    Nguồn dữ liệu phải là nguồn bất kỳ ai cũng có tiếp cận, việc này sẽ giúp các doanh nghiệp
    trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh truyền thống có thể cạnh tranh sòng
    phẳng với những mô hình kinh doanh xuyên biên giới từ quốc gia khác. Một ví dụ đó là
    liệu chăng nên có sự đồng bộ thông tin giữa hệ thống ngân hàng và cơ quan chức năng
    trong việc xác minh danh tính người dùng, khi họ có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng.
    Những nguy hại tiềm tàng từ không gian mạng. Vấn đề an ninh mạng, an toàn thông
    tin là cực kỳ quan trọng trong một nền kinh tế số, thông tin người dùng có thể bị đánh cắp
    để phục vụ những động cơ phạm pháp, thậm chí các hacker có thể can thiệp vào quyền
    kiểm soát của các chủ thể tham gia nền kinh tế số, Chính phủ cũng không phải là ngoại
    lệ. Như đã trình bày, an ninh mạng là một vấn đề toàn cầu, vấn đề này không chỉ riêng
    biệt cho từng cá nhân, doanh nghiệp, Chính phủ trong nền kinh tế số mà đòi hỏi trách
    nhiệm chung của toàn thể các chủ thể. Đảm bảo tốt an ninh mạng, an toàn thông tin cũng
    chính là đảm bảo lợi ích của mọi người và lợi ích của quốc gia.
    Sự cạnh tranh không bình đẳng. Khi mà các định chế tài chính đang tuân thủ những
    quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo an ninh tài chính, tiền tệ thì hành lang pháp
    lý cho các mô hình mới trong nền kinh số mới như các công ty Fintech lại chưa rõ ràng.
    Những công ty này cung các sản phẩm, dịch vụ tài chính như cho vay ngang hàng (P2P),
    huy động vốn từ cộng đồng, và các sản phẩm từ công nghệ tài chính, v.v. Những hình
    thái này nếu không được quy định chặt chẽ sẽ dẫn đến sự cạnh tranh không công bằng
    trên thị trường.
    Quản lý tiền điện tử. Tiền điện tử trong thời kỳ CMCN 4.0 đã trở nên phổ biến và được
    sử dụng như là một phương tiện thanh toán trong đời sống ở một số quốc gia. Một trong
    những hình thức phổ biến tại Việt Nam đó là thẻ trả trước hay ví điện tử. Tuy nhiên, chưa
    có một quy định rõ ràng nào về tiền điện tử ở Việt Nam. Sẽ cần luật hóa cụ thể hơn khái
    niệm tiền điện tử cũng như quy định về cách thức vận hành, sử dụng hình thức tiền tệ
    này. Chúng ta cần có hành lang pháp lý chặt chẽ và tận dụng thế mạnh từ công nghệ.
    Một khái niệm khác đó là tiền kỹ thuật số, còn có tên gọi là tiền mã hóa, tiền ảo. Tại
    Việt Nam, đồng tiền này không được xem là một phương tiện thanh toán, tuy nhiên cũng
    cần phải có sự chuẩn bị trước cho một tương lai xa hơn khi mà NHTW Nhật (BOJ) đang
    lên kế hoạch thử nghiệm đồng tiền kỹ thuật số phát hành bởi chính họ (Central Bank
    Digital Currency – CBDC) vào đầu năm tài khóa 2021. Thời điểm này chưa phải phù hợp
    với Việt Nam nhưng chúng ta có thể ứng dụng các công nghệ từ tiền kỹ thuật số. Một ví
    dụ đó là công nghệ blockchain, ứng dụng được công nghệ này sẽ giúp hệ thống tài chính
    an toàn, bảo mật, minh bạch hơn, đây là một nền tảng quan trọng trong kỷ nguyên số.
    256

  15. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Ngay lúc nay, cần phải làm rõ các khái niệm về tiền điện tử, tiền kỹ thuật số, CBDC để
    bắt kịp với xu hướng phát triển của nền kinh tế số.
    Những vấn đề khác về an ninh mạng. Không gian mạng đã và đang mang lại những lợi
    ích nhất định trong việc số hóa nền kinh tế. Bên cạnh những thách thức mà chúng tôi đã
    trình bày thì không gian mạng vẫn tiềm tàng những nguy hại khác đến an ninh quốc gia,
    một khi bất ổn an ninh xảy ra thì những ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội là điều tất yếu.
    Đầu tiên, các thế lực thù địch có thể lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền, xuyên
    tạc, chống phá chế độ, kích động biểu tình, gây mất an ninh, trật tự xã hội. Ví dụ về trường
    hợp tổ chức khủng bố “Triều đại Việt” có trụ sở tại Canada đã minh chứng cho thấy nguy
    hại từ không gian mạng, khi mà các hoạt động hầu hết được tuyền truyền và giao tiếp trên
    mạng. Đặc biệt, một số thế lực còn lợi dụng tình hình khó khăn do đại dịch gây ra để bịa
    đặt các thông tin của Chính phủ trong công tác chống dịch, kích động đình công, chia rẽ
    quan hệ giữa Việt Nam và nước ngoài.
    Nguy hiểm hơn, các hacker còn trực tiếp tấn công vào các tập đoàn kinh tế lớn, các
    định chế tài chính, cơ quan quản lý Nhà nước để chiếm đoạt thông tin, tài liệu bí mật và
    phát tán chúng. Hình thức phổ biến nhất là phát tán mã độc đến các máy tính của người
    dùng bằng cách giả mạo các thư điện tử. Ngoài ra, còn có các thủ đoạn mạo danh cơ quan
    chức năng yêu cầu cung cấp thông tin và từ đó chiếm đoạt tài sản.
    Không gian mạng cũng là nơi các tổ chức cá cược trực tuyến, đánh bạc lợi dụng để
    hoạt động phi pháp và có tính chất xuyên quốc gia với giá trị hàng triệu đôla mỗi ngày.
    Các hoạt động trá hình trên internet hiện nay rất phức tạp, phục vụ cho nhiều mục đích
    khác nhau như tín dụng đen, trốn thuế, rửa tiền, tài trợ cho tổ chức khủng bố, lừa đảo
    trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng-chứng khoán, v.v. Việc này dẫn đến một thực tế tội
    phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng gia tăng, từ trong nước lẫn quốc tế đều có thể
    thực hiện hành vi phạm tội, chỉ cần họ kết nối được internet. Toàn bộ các nguy hại đã nêu
    ra thật sự là những thách thức lớn cho lực lượng chức năng để đảm bảo an ninh quốc gia
    nói chung, và an ninh kinh tế nói riêng.
    3. Các đề xuất chính sách và kết luận
    3.1. Điểm lại một số vấn đề trọng tâm
    Qua đánh giá, phân tích các xu hướng toàn cầu trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự
    bùng nổ của làn sóng CMCN4.0, kết hợp với các vấn đề nội tại của nền kinh tế Việt Nam,
    chúng tôi đúc kết lại thành mười nội dung cốt lõi cần tập trung nghiên cứu, thảo luận và
    tìm kiếm giải pháp liên quan đến an ninh kinh tế quốc gia như sau:

    257

  16. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    (1). Hội nhập quốc tế và CMCN 4.0 là hai xu hướng chủ đạo của kỷ nguyên mới,
    đóng vai trò trụ cột trong phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia.
    (2). Covid-19 khiến các bất ổn toàn cầu trước đây trở nên nghiêm trọng hơn, gây
    ra những thách thức tiềm tàng và hậu quả có thể dẫn đến sự đổ vỡ trong mối
    quan hệ kinh tế lẫn chính trị.
    (3). Vai trò của luật pháp quốc tế và các thiết chế đa phương đang dần suy yếu, chủ
    nghĩa đơn phương trỗi dậy.
    (4). Các vấn đề an ninh phi truyền thống đang được báo động, đặc biệt là trong bối
    cảnh thế giới phải đối mặt với nhiều bất ổn và sự tàn phá của đại dịch.
    (5). Xu hướng số hóa có tác động sâu rộng và đa chiều đến các nền kinh tế toàn
    cầu, cạnh tranh công nghệ trở thành mặt trận quyết định.
    (6). Thương chiến Mỹ-Trung đã mang lợi những lợi ích nhất định cho Việt Nam, ít
    nhất là trong ngắn hạn. Tuy nhiên, cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam
    trong tình hình mới.
    (7). Việt Nam không thao túng tiền tệ như cáo buộc của Mỹ. Mỹ có lẽ đã phạm sai
    lầm ngoại giao khi cho rằng Việt Nam là một bằng chứng cho những vấn đề
    rộng hơn của khái niệm thao túng tiền tệ.
    (8). Để ổn định nền kinh tế vĩ mô, việc đảm bảo an ninh kinh tế và an ninh mạng
    trong xu hướng hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của CMCN 4.0 là vô cùng quan
    trọng, đây là một vấn đề mang tính toàn cầu. Vì vậy, các giải pháp cũng phải
    mang tính toàn cầu.
    (9). An ninh quốc gia, an ninh kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ những nguy
    hại tiềm tàng trong không gian mạng, một vùng lãnh thổ kiểu mới.
    (10). Các quy định pháp luật vẫn chưa chặt chẽ, đồng bộ và chưa theo kịp sự phát
    triển của các mô hình kinh doanh trong nền kinh tế số; Tạo ra rủi ro cũng như
    động cơ cho tội phạm kinh tế số.
    3.2. Một số đề xuất chính sách về an ninh kinh tế Việt Nam
    Qua các phân tích tổng quan vừa nêu chúng ta có thể nhận thấy an ninh kinh tế là một
    vấn đề rộng, phức tạp, gồm nhiều nội dung, liên quan đến rất nhiều các lĩnh vực khác
    nhau. Vì vậy, vấn đề đảm bảo an ninh kinh tế cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh
    tế quốc tế và làn sóng CMCN4.0 đòi hỏi phải có nhiều nghiên cứu công phu, từ nhiều
    khía cạnh khác nhau của nền kinh tế để đi đến các giải pháp toàn diện và triệt để. Tuy
    nhiên, trong khuôn khổ một bài tham luận, nhóm nghiên cứu chúng tôi cũng mạnh dạn

    258

  17. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    đưa ra một số gợi ý, đề xuất về chính sách để tạo tiền đề cho các nghiên cứu và thảo luận
    tiếp theo.
    3.2.1. Chủ trương của Đảng và các chính sách về an ninh kinh tế
    Việc ban hành Chỉ thị số 12-CT/TW ngày 05/01/2017 của Bộ Chính trị về “Tăng cường
    sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo an ninh kinh tế trong điều kiện phát triển
    kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã cho thấy sự quan
    tâm của Đảng đối với an ninh kinh tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và kỷ
    nguyên của nền kinh tế số. Ngay sau đó, Nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 13/9/2017 của
    Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW đã
    được ban hành. Công tác đảm bảo an ninh kinh tế trong giai đoạn vừa qua cũng đã cho
    thấy những chuyển biến rất tích cực. Các cấp, các ngành đã nhận thức được ý nghĩa và
    tầm quan trọng của nhiệm vụ đảm bảo an ninh kinh tế trong bối cảnh hiện nay. Dưới sự
    lãnh đạo của Đảng và điều hành của Chính phủ, an ninh kinh tế là nhiệm vụ của toàn bộ
    các cấp, ngành và cả hệ thống chính trị.
    Đảng và Nhà nước cũng đã có những chủ trương, chính sách khuyến khích thúc đẩy
    ứng dụng nền tảng số để phát triển kinh tế – xã hội trước sự bùng nổ của làn sóng CMCN
    4.0, đây cũng là một trong những động lực để đạt được mục tiêu trong chiến lược 10 năm.
    Chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông của Việt Nam xếp hạng thứ 41 thế
    giới vào năm 2019, so với hạng 95 năm 2018. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra cần phải triển
    khai song song đó là đảm bảo an ninh mạng. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/0/2019
    của Bộ Chính trị “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng
    công nghiệp lần thứ tư”, Luật An ninh mạng 2018, Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước 2018,
    Luật An toàn thông tin mạng 2015 lần lượt được ban hành.
    3.2.2. Một số gợi ý chính sách và các hướng hành động tiếp theo
    Theo dõi diễn biến kinh tế thế giới để đưa ra chính sách kịp thời, có tính đón đầu. Thế
    giới đang phải đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn về suy thoái kinh tế, khủng hoảng nợ
    công, đứt gãy chuỗi cung ứng, thiết lập trật tự mới, chủ nghĩa bảo hộ và bất bình đẳng gia
    tăng. Sự xuất hiện của Covid-19 càng làm sự bất ổn của thế giới cao hơn và khó lường
    trước được tương lai, do đó các quốc gia cần phải tìm kiếm nhưng hướng phát triển mới
    cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cần phải theo dõi diễn biến kinh tế, chính trị thế
    giới để có chính sách ứng phó kịp thời, đặc biệt là trong quá trình hội nhập quốc tế sâu
    rộng và làn sóng lan tỏa từ CMCN 4.0.
    Những hướng hành động với tầm nhìn dài hạn. Những năm gần đây, chủ nghĩa bảo hộ
    đã trỗi dậy và càng mạnh mẽ hơn trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tàn phá nền kinh tế
    toàn cầu cũng như làm suy yếu quá trình toàn cầu hóa cũ và làm đứt gãy, chuyển dịch

    259

  18. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    chuỗi cung ứng trước đây. Trước tình thế đó, đòi hỏi các quốc gia có độ mở thương mại
    cao như Việt Nam phải có chính sách thích ứng kịp thời thông qua việc tái cấu trúc và đa
    dạng hóa chuỗi cung ứng đang tham gia.
    Đồng thời, sự thiếu hụt các hàng hóa có nguồn cung từ nước ngoài đặt ra cho Chính
    phủ cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp nâng cao năng lực tự sản xuất các mặt hàng
    này trong nước, giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài, điển hình là giảm phụ
    thuộc vào Trung Quốc, qua đó nâng cao sức đề kháng cho kinh tế Việt Nam. Chính phủ
    cũng cần hỗ trợ và tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngoài để thu hút
    dòng vốn FDI đang dịch chuyển, đặc biệt là FDI có chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó,
    việc nỗ lực tham gia ký kết các hiệp định thương mại, thành lập liên minh chiến lược là
    cần thiết để đa dạng hóa chuỗi cung ứng, các thị trường đầu ra cũng như thúc đẩy quá
    trình hợp tác quốc tế.
    Thương mại điện tử và dịch vụ trực tuyến cũng cần được thúc đẩy nhanh chóng, đặc
    biệt là khi thế giới đang gồng mình chống lại Covid-19 với hàng loạt các biện pháp phòng
    chống như giãn cách xã hội, các hoạt động tránh tiếp xúc trực tiếp. Các nền tảng số hóa
    cần được khai thác tối đa để ứng dụng vào công việc, đời sống như giáo dục trực tuyến,
    khám chữa bệnh từ xa, thanh toán điện tử, v.v. Các công cụ này sẽ giúp người dân, doanh
    nghiệp dần dần thay đổi những thói quen trước đây để thích ứng với trạng thái bình thường
    mới hiện nay. Chính phủ cũng cần nỗ lực để trở thành một Chính phủ số, đồng thời cần
    ban hành những quy định để quản lý và hướng dẫn các hoạt động kinh doanh có sử dụng
    công nghệ số để đảm bảo tính đồng bộ, an toàn và mức độ hiệu quả của loại hình này.
    Mọi thứ hiện nay rất bất định, do đó tuyệt đối không nên chủ quan. Mọi hành động
    lúc này cần phải theo sát những diễn biến phức tạp từ các mối quan hệ quốc tế đặc biệt là
    với các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc và Liên minh Châu Âu (EU). Việt Nam phải
    hết sức thận trọng trong công tác ngoại giao chiến lược, phải duy trì chính sách tiền tệ,
    chính sách tài khóa trong nước một cách độc lập, đảm bảo tính bền vững và dư địa của
    chính sách trong dài hạn nhằm ứng phó kịp thời trước những bất ổn có thể xảy ra.
    Các chính sách thương mại quốc tế thích ứng với tình hình mới. Với độ mở thương
    mại hơn 200% của GDP, do đó bất kỳ những biến động nào của kinh tế toàn cầu đều được
    truyền dẫn và hấp thụ vào nền kinh tế trong nước. Quá trình hội nhập toàn cầu gần đây
    của Việt Nam có thể mang lại lợi ích kinh tế, ít nhất là trong ngắn hạn. Việt Nam đã ký
    kết 14 hiệp định thương mại tự do (FTA), việc này giúp tiếp cận với nhiều thị trường tiềm
    năng và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.
    Đồng thời, xu hướng thiết lập một cấu trúc đa phương theo kiểu toàn cầu hóa mới sẽ
    mở ra nhiều “sân chơi” mới cho thị trường gần 100 triệu dân thuộc khu vực Châu Á –

    260

  19. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Thái Bình Dương, nơi đang đóng vai trò chiến lược và tiếp tục là động lực quan trọng của
    kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam cần phải thận trọng với những hiệp định có sự
    tham gia của Trung Quốc với vai trò dẫn dắt “cuộc chơi”, khi mà việc nhập siêu của Việt
    Nam liên tục gia tăng trong giai đoạn vừa qua, thâm hụt thương mại trong năm 2020 là
    35,4 tỷ USD (GSO, 2020). Kết hợp với xu hướng đồng Việt Nam (VND) lên giá so với
    đồng nhân dân tệ (CNY) đã tạo áp lực đối với cán cân thương mại giữa Việt Nam và
    Trung Quốc. Hàng hóa Trung Quốc khi đó sẽ rẻ hơn và tràn vào Việt Nam, tạo áp lực cho
    các doanh nghiệp nội địa phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt ngay trên sân nhà. Ngoài ra,
    còn dẫn đến sự cạnh tranh về giá lẫn thị phần của các doanh nghiệp xuất khẩu ở Việt Nam
    trong thương mại toàn cầu.
    Đối với cáo buộc thao túng tiền tệ từ phía Mỹ, Việt Nam cần phải giữ vững lập trường
    trong điều hành chính sách tiền tệ, kiểm tra chặt chẽ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu. Nếu
    có bất kỳ một hành động nào cho thấy là nơi trung gian chuyển tiếp, bán phá giá, trợ cấp,
    chủ động làm giảm giá trị đồng tiền thì sẽ dẫn đến khả năng phải đối mặt các lệnh trừng
    phạt thương mại và phi thương mại khác từ những đối tác lớn, đặc biệt là trong bối cảnh
    chủ nghĩa bảo hộ ngày càng gia tăng.
    Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải nâng cao năng lực sản xuất, tạo giá trị gia tăng
    trong xuất khẩu và tăng cường tính tự chủ của nền kinh tế, tránh phụ thuộc quá nhiều vào
    một quốc gia nào đó. Trong ngắn hạn, kênh ngoại giao có lẽ là quan trọng hơn cả, đó là lý
    do Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có cuộc điện đàm với Tổng thống Donald Trump vào
    ngày 22/12/2020 để khẳng định không sử dụng chính sách tiền tệ để tạo lợi thế cạnh thương
    mại không công bằng. Việt Nam cũng cần tận dụng sự lên án của cộng đồng quốc tế, và
    được đồng thuận bởi các tổ chức, doanh nghiệp, nhà hoạch định chính sách ngay ở Mỹ.
    Tính chủ động trong bảo vệ an ninh kinh tế. Các chiến lược phát triển mà Đảng và Chính
    phủ đưa ra trong giai đoạn 2021-2030 nếu thực thi một cách hiệu quả thì cơ hội thu hẹp
    khoảng cách phát triển với những nền kinh tế tiên tiến hoàn toàn khả thi và triển vọng trở
    thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 sẽ thành hiện thực. Tuy nhiên để đạt được
    những mục tiêu này một cách bền vững đòi hỏi chúng ta phải xây dựng nền kinh tế tự chủ,
    tự cường và chủ động trong mọi nguồn lực phát triển. Song song với theo dõi diễn biến thế
    giới để đưa ra những phản ứng chính sách phù hợp thì việc chủ động trong an ninh kinh tế
    là một trụ cột hết sức quan trọng trong thời kỳ đầy bất ổn như hiện nay, cụ thể:
    Vận dụng triệt để Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị. Các cấp, các ngành cần phải
    thực hiện mạnh dạn, nghiêm túc, cụ thể hóa nhiều hơn nữa chủ trương, quan điểm chỉ đạo
    của Đảng về vấn đến an ninh kinh tế trong hội nhập quốc tế, song song với sự điều hành
    của Chính phủ. Tăng cường các chương trình, đề án, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an
    ninh quốc gia, đặc biệt là an ninh kinh tế. Cần tạo hiệu ứng lan tỏa đến từng người dân,
    261

  20. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    từng chủ thể trong nền kinh tế nhằm nâng cao mức độ nhận thức và chủ động phòng
    chống, cảnh giác trước các thế lực thù địch.
    Cải thiện sức “đề kháng” của nền kinh tế, phát triển nhưng phải bền vững. Với bối cảnh
    rất bất định hiện nay, cần chủ động nâng cao khả năng thích ứng của nền kinh tế trước
    những cú sốc như Covid-19 hay chủ nghĩa bảo hộ. Để làm được việc này đòi hỏi phải
    hoàn thiện thể chế và hướng tới các chuẩn mực quốc tế, các quy định pháp luật phải chặt
    chẽ và tạo điều kiện để khu vực tư nhân, khu vực nước ngoài phát triển nhiều hơn nữa
    trong kỷ nguyên số, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh toàn
    cầu, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính, v.v.
    Lực lượng an ninh kinh tế đóng vai trò nòng cốt. Việc đảm bảo an ninh và các bí mật
    trong lĩnh vực kinh tế sẽ giúp ổn định nền kinh tế vĩ mô. Công tác an ninh cần tăng cường
    nghiệp vụ, chuyên môn để phát hiện và phòng chống các âm mưu phá hoại, chống phá
    của các tội phạm kinh tế, đặc biệt là tội phạm sử dụng công nghệ cao. Với làn sóng CMCN
    4.0 hiện nay, đòi hỏi lực lượng an ninh phải theo kịp với những mô hình, thủ đoạn tinh vi
    của các thế lực thù địch.
    Việc nắm rõ thông tin, phân tích và dự báo đúng với thực tế vô cùng quan trọng để
    tham vấn kịp thời cho Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng đường lối, chính sách, giải pháp
    có tính chất đón đầu. Các hoạt động đáng quan tâm trong bối cảnh hiện nay liên quan đến
    hợp tác quốc tế, nền kinh tế số, trốn thuế, chuyển giá, âm mưu “dùng kinh tế để chuyển
    hóa chính trị”, v.v. Ngoài ra, cần phát hiện kịp thời các trường hợp suy thoái về tư tưởng
    chính trị, đạo đức lối sống trong đội ngũ an ninh.
    Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức. Những nguy hại từ bất ổn an
    ninh kinh tế trong hội nhập quốc tế và CMCN 4.0 cần được truyền thông mạnh mẽ và
    đồng bộ đến toàn dân, toàn quân, và toàn hệ thống chính trị. Vẫn còn những trường hợp
    chủ quan và chưa lường hết sự phức tạp trong đảm bảo an ninh kinh tế. Một số cấp, ngành
    vẫn còn chủ quan, thiếu sự quan tâm và sự chủ động phòng chống trước thủ đoạn khó
    lường từ tội phạm kinh tế, vẫn quan niệm cho rằng an ninh kinh tế là trách nhiệm của cơ
    quan chức năng.
    Tăng cường đảm bảo an ninh mạng. Với sự bùng nổ từ CMCN 4.0 và tính chất phức tạp
    của không gian mạng, ngay lúc này đòi hỏi chúng ta phải có những chiến lược và nhiệm
    vụ cụ thể nhằm ứng phó và bắt kịp sự phát triển không ngừng, khó lường của vùng lãnh
    thổ mới này.
    ▪ Thực thi nghiêm túc chủ trương ứng dụng, phát triển công nghệ số song song
    đảm bảo an toàn thông tin, an ninh mạng, chủ động trong công tác phòng chống
    và làm chủ công nghệ để đảm bảo tuyệt đối an ninh quốc gia trên không gian

    262

Download tài liệu Một số vấn đề về an ninh kinh tế Việt Nam trước các xu thế biến động toàn cầu và quá trình chuyển đổi số File Word, PDF về máy