[Download] Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế – Tải về File Docx, PDF

Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế

Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế
Nội dung Text: Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế

Download


Bài viết đánh giá tổng quát về thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó xác định những nội dung mang tính chiến lược cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn mới, đáp ứng đòi hỏi của thời kì hội nhập quốc tế.

Bạn đang xem: [Download] Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế File Docx, PDF về máy

Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế

  1. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    MỘT SỐ NỘI DUNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT
    VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

    CONTENTS COMPLETING THE LEGAL SYSTEM OF VIETNAM
    IN THE INTERNATIONAL INTEGRATION PERIOD

    CN. Nguyễn Võ Anh1, ThS. Trần An Phương2
    CN. Quản Tuấn Anh3

    Tóm tắt – Sau chặng đường một phần ba thế kỉ Đổi mới (1986), hệ thống
    pháp luật Việt Nam đã không ngừng được xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, hệ
    thống pháp luật vẫn còn những khiếm khuyết như thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu
    thuẫn, thiếu ổn định và tính khả thi chưa cao. Vì vậy, bài viết đánh giá tổng quát
    về thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó xác định những nội
    dung mang tính chiến lược cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật trong
    giai đoạn mới, đáp ứng đòi hỏi của thời kì hội nhập quốc tế.
    Từ khóa: pháp luật Việt Nam, hội nhập quốc tế, xây dựng pháp luật.
    1. THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY NÓI
    RIÊNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ NÓI CHUNG
    Sau gần 40 năm tiến hành sự nghiệp Đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
    công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những tiến bộ
    quan trọng. Quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới.
    Nhiều bộ luật, luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lí ngày càng
    hoàn chỉnh hơn để Nhà nước quản lí bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời
    sống xã hội. Nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được đề cao và
    phát huy trên thực tế. Công tác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng cường.
    Những tiến bộ đó đã góp phần thể chế hoá đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực,
    hiệu quả quản lí điều hành của Nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ vững
    ổn định chính trị – xã hội của đất nước.
    Trong chặng đường hơn 30 năm qua, chúng ta đã có ba lần sửa đổi, bổ sung
    Hiến pháp (ban hành Hiến pháp 1992 thay thế Hiến pháp năm 1980; sửa đổi, bổ
    sung Hiến pháp năm 1992 vào năm 2001 và ban hành Hiến pháp mới năm 2013).

    1
    Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; Email: anhnv@hcmue.edu.vn
    2
    Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Trà Vinh; Email: anphuong.travinh@gmail.com
    3
    Học viện Hành chính Quốc Gia; Email: anhqt@napa.vn
    427

  2. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Như vậy, trong giai đoạn này, cứ khoảng 10 năm chúng ta lại sửa đổi, bổ sung
    Hiến pháp một lần. Có thể khẳng định, ba lần sửa đổi Hiến pháp đã tạo cơ sở cho
    ba giai đoạn phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Có thể khái quát ba giai
    đoạn, tương ứng với ba cấp độ phát triển, hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt
    Nam như sau: giai đoạn thứ nhất từ 1986 đến 2001, là hệ thống pháp luật chuyển
    đổi; giai đoạn thứ hai từ 2002 đến 2013, là hệ thống pháp luật chuyển đổi và hội
    nhập; giai đoạn thứ ba từ 2014 đến nay và cho tương lai, là hệ thống pháp luật hội
    nhập và kiến tạo phát triển [1].
    Hệ thống pháp luật hội nhập và kiến tạo phát triển là hệ thống pháp luật
    trong giai đoạn hiện nay, bắt đầu từ sau sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 và sẽ là
    tư tưởng, định hướng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt
    Nam trong những thập kỉ tới. Hệ thống pháp luật này được coi là thế hệ thứ ba của
    hệ thống pháp luật thời kì đổi mới. Theo đó, hệ thống pháp luật sẽ được xây dựng
    và hoàn thiện theo hướng: phục vụ mục tiêu kiến tạo phát triển, tạo dựng hành
    lang pháp lí an toàn cho phát triển và hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới cả
    về kinh tế, chính trị và văn hóa như đã được khẳng định trong Hiến pháp năm
    2013: ‘xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác
    quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã
    hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’ và xây
    dựng ‘nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở
    hữu, nhiều thành phần kinh tế’ [2].
    Chủ trương về chủ động, tích cực hội nhập quốc tế nói chung và trong lĩnh
    vực pháp luật nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta nêu rõ trong nhiều văn bản
    đã ban hành, nhất là Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây
    dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến
    năm 2020; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội
    nhập quốc tế, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng, Nghị
    quyết số 06-NQ/TW ngày 05/11/2016 và Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày
    20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng
    cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, trong đó nhấn
    mạnh trọng tâm thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập quốc tế, giữ vững ổn
    định kinh tế – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các Hiệp định thương mại tự
    do thế hệ mới [3]-[6].
    Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 170 quốc gia trên
    thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hóa tới 230 thị trường của
    các nước và vùng lãnh thổ, kí kết trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần
    60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 hiệp định chống đánh thuế hai
    lần. Bên cạnh đó, đến nay, Việt Nam đã có 16 FTA, trong đó, có rất nhiều hiệp
    định thương mại tự do thế hệ mới, bao gồm tất cả các nền kinh tế lớn trên thế giới
    [7]. Nội dung hoạt động hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia đều được tiến
    hành dựa trên quy định của các điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế trải rộng
    428

  3. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    trên nhiều lĩnh vực, với nhiều đối tác nước ngoài khác nhau. Việc kí kết và thực
    hiện các thỏa thuận quốc tế thời gian qua đã thúc đẩy hợp tác quốc tế giữa các
    cấp, các ngành, các tổ chức của nước ta với các đối tác nước ngoài. Điều này
    không chỉ góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh
    vực, qua nhiều kênh, mà nó còn góp phần giải quyết những vấn đề quan trọng,
    phức tạp như bảo vệ chủ quyền biển đảo, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của
    Liên Hợp quốc, đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, qua đó tranh thủ sự hỗ
    trợ của các đối tác nước ngoài cho việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định, triển
    khai nhiều chương trình kinh tế, xã hội, trong đó có xóa đói, giảm nghèo, khắc
    phục thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, phục vụ công cuộc bảo vệ Tổ quốc,
    phát triển kinh tế, xã hội, thúc đẩy hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới,
    nâng cao vị thế của Việt Nam.
    Từ năm 2009 đến năm 2019, thực hiện định hướng chủ động, tích cực hội
    nhập quốc tế, trên cơ sở các định hướng, nguyên tắc hợp tác quốc tế được Đảng
    và Nhà nước xác định, các cơ quan, tổ chức, địa phương đã tích cực triển khai
    đàm phán, đề xuất kí kết, gia nhập các điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế về
    pháp luật và tư pháp, trong đó có các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong
    lĩnh vực dân sự, hình sự, dẫn độ, chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt
    Nam và các nước trên thế giới, cũng như đàm phán, xây dựng và triển khai các
    chương trình, dự án hợp tác quốc tế trong lĩnh vực pháp luật, cải cách hành chính,
    cải cách tư pháp theo các hình thức như hội nghị, hội thảo, nghiên cứu chuyên gia,
    khảo sát thực tiễn. Việc thực hiện hoạt động quốc tế về pháp luật theo phương
    châm đa phương hóa, đa dạng hóa, tăng cường kí kết và thực hiện các thoả thuận
    hợp tác song phương với các nước theo nguyên tắc có đi có lại, nâng cao tính hiệu
    quả, phát huy những tác dụng tích cực của các chương trình, dự án đã được kí kết,
    đưa quan hệ hợp tác được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định; lựa chọn nội dung,
    đối tác, hình thức hợp tác hợp lí, thiết thực với các đối tác có khả thi và thiện chí
    để hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp, cải cách hành chính theo chủ
    trương, đường lối, pháp luật của Việt Nam; bảo đảm việc quản lí, sử dụng tiết
    kiệm, hiệu quả, đúng mục đích, quy định, công khai các nguồn kinh phí của các
    chương trình, dự án; việc tiếp thu những tri thức, kinh nghiệm tốt của các nước
    phải được chọn lọc, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tương thích với pháp luật
    trong nước và quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
    Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu
    thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi
    pháp luật còn nhiều bất hợp lí và chưa được coi trọng đổi mới, hoàn thiện. Tiến độ
    xây dựng luật và pháp lệnh còn chậm, chất lượng các văn bản pháp luật chưa cao.
    Việc nghiên cứu và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành
    viên chưa được quan tâm đầy đủ. Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
    dục pháp luật còn hạn chế. Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu.
    Nguyên nhân của những yếu kém nêu trên là do chưa hoạch định được một
    429

  4. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    chương trình xây dựng pháp luật toàn diện, tổng thể, có tầm nhìn chiến lược; việc
    đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ pháp luật và công tác nghiên cứu lí luận về pháp
    luật chưa theo kịp đòi hỏi của thực tiễn; việc tổ chức thi hành pháp luật còn thiếu
    chặt chẽ; ý thức pháp luật của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức và người
    dân còn nhiều hạn chế.
    2. NỘI DUNG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRONG
    THỜI KÌ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
    Để khắc phục hạn chế trên, trong thời gian tới, việc xây dựng và hoàn thiện
    pháp luật đòi hỏi cần tập trung vào các nội dung sau đây:
    Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các
    thiết chế trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp
    quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, chú trọng các vấn đề như: đổi mới
    phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
    luật; hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống
    chính trị: Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát, Mặt trận Tổ quốc, chính
    quyền địa phương…; hoàn thiện pháp luật về công chức, công vụ trong Nhà nước
    pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
    Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền con người,
    quyền tự do, dân chủ của công dân. Trong đó, chú trọng các vấn đề như hoàn
    thiện pháp luật về quyền dân sự, chính trị; pháp luật về quyền con người, quyền
    công dân trong các lĩnh vực: kinh tế, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo;
    pháp luật về quyền giám sát của cơ quan dân cử, của công dân và vấn đề bảo đảm
    sự tham gia của công dân vào quản lí nhà nước và xã hội.
    Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể
    chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, chú trọng các vấn
    đề như hoàn thiện pháp luật về quyền tự do kinh doanh; pháp luật về quyền sở
    hữu; pháp luật về doanh nghiệp; pháp luật về việc tạo lập đồng bộ cho các thị
    trường; pháp luật về hệ thống tài chính và thị trường chứng khoán ở nước ta hiện
    nay.
    Bên cạnh đó, để góp phần phục vụ có hiệu quả cho tiến trình hội nhập quốc
    tế sâu rộng, khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện tại, việc xây
    dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp tác quốc tế ở Việt Nam hiện nay cần tập
    trung vào một số nội dung:
    Thứ nhất, cần tiếp tục kí kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong các lĩnh
    vực kinh tế, thương mại, đầu tư, tín dụng quốc tế, sở hữu trí tuệ, thuế quan, bảo vệ
    môi trường. Đồng thời, đẩy mạnh việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành
    mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều
    ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

    430

  5. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Trong hoạt động xây dựng pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế, cần
    nghiên cứu, tiếp thu các quy định trong pháp luật của các nước, vì những vấn đề
    mà Việt Nam đang tiếp cận đã từng được cộng đồng quốc tế nghiên cứu, giải
    quyết bằng pháp luật một cách thỏa đáng và khoa học. Việc tiếp thu các quy định
    này một mặt giúp chúng ta không tốn thời gian và công sức, mặt khác góp phần
    làm cho pháp luật Việt Nam trở nên tương thích hơn với pháp luật của các nước
    trên thế giới.
    Thời gian qua, hiệu quả của việc kí kết điều ước quốc tế cũng như thực hiện
    điều ước quốc tế chưa cao. Một số điều ước quốc tế chưa đem lại hiệu quả thiết
    thực. Một số điều ước quốc tế không triển khai được vì thiếu cơ sở thực tế, kém
    khả thi hoặc do thiếu nguồn lực. Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy
    phạm pháp luật để thực hiện điều ước quốc tế có lúc còn chậm trễ, ảnh hưởng đến
    việc thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam. Trách nhiệm của cơ quan đề xuất kí
    kết điều ước quốc tế chưa gắn với trách nhiệm triển khai thực hiện cam kết của
    phía Việt Nam theo điều ước quốc tế. Việc tổ chức theo dõi và đánh giá việc thực
    hiện điều ước quốc tế, đánh giá hiệu quả của điều ước quốc tế, ban hành văn bản
    pháp luật để thực hiện các cam kết quốc tế chưa được thực hiện thường xuyên, có
    hệ thống. Để khắc phục hạn chế này, các chủ thể có thẩm quyền cần thực hiện có
    hiệu quả các nội dung của Luật Điều ước quốc tế (sửa đổi) và khẩn trương xây
    dựng Luật Thỏa thuận quốc tế. Hai văn bản quy phạm pháp luật này sẽ tạo được
    khung pháp lí vừa chặt chẽ, vừa linh hoạt, đáp ứng nhu cầu kí kết và thực hiện
    điều ước quốc tế và thỏa thuận quốc tế phù hợp với lợi ích của đất nước. Đồng
    thời, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp nhằm tạo điều kiện cho việc xây
    dựng, hình thành những cam kết quốc tế đem lại và bảo vệ tối đa lợi ích của đất
    nước. Ngoài ra, cũng cần quy định trao quyền chủ động của các cơ quan trong đề
    xuất kí kết và triển khai thực hiện các điều ước quốc tế phải đi kèm với trách
    nhiệm, có cơ chế phân công, phối hợp, kiểm tra.
    Thứ hai, ưu tiên xây dựng các văn bản pháp luật và các thiết chế bảo vệ nền
    kinh tế độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
    Để cụ thể hóa nội dung này, ngoài việc cần khẩn trương khắc phục những
    điểm yếu trong công tác xây dựng pháp luật kinh tế tồn tại trong nhiều năm qua
    như ban hành hướng dẫn thi hành pháp luật kinh tế vẫn còn chậm; hạn chế tình
    trạng sửa đổi, bổ sung luật quá nhiều lần hoặc một nội dung mà có quá nhiều luật
    điều chỉnh, khiến doanh nghiệp khó nắm bắt và áp dụng; nâng cao chất lượng ban
    hành chính sách pháp luật kinh tế đáp ứng được yêu cầu quản lí của nhà nước
    pháp quyền. Các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp
    luật cần giải quyết hợp lí mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế. Để
    bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước trong bối cảnh tiếp tục chủ động, tích cực hội
    nhập quốc tế đòi hỏi: (1) phải giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ
    trương, đường lối, chiến lược phát triển đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
    phải không ngừng củng cố, tăng cường tiềm lực, nâng cao sức mạnh tổng hợp của
    431

  6. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    đất nước cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh; nâng cao uy tín quốc tế;
    không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phải bảo đảm
    an ninh, giữ vững ổn định chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, phát triển doanh
    nghiệp Việt Nam lớn mạnh, thực sự là nòng cốt trong hội nhập kinh tế quốc tế; (2)
    hội nhập quốc tế trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực pháp luật cần phải theo một
    chiến lược hội nhập tổng thể với nhiều hình thức đa dạng, lộ trình, bước đi phải
    phù hợp với chiến lược, mục tiêu, năng lực của đất nước trong từng giai đoạn. Đa
    phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, nhất là với các đối tác lớn, có vai trò và
    ý nghĩa chiến lược, tránh lệ thuộc vào một đối tác, một thị trường. Đổi mới, nâng
    cao hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài. Có những giải pháp hiệu quả ngăn ngừa,
    làm thất bại những âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; chủ
    động xây dựng hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp và thị
    trường trong nước trước những biến động phức tạp, tác động tiêu cực từ thị trường
    và kinh tế thế giới, không trái với các cam kết quốc tế đã kí kết.
    Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế (trọng tài, hoà
    giải) phù hợp với tập quán thương mại quốc tế. Tham gia các điều ước quốc tế đa
    phương về tương trợ tư pháp, nhất là các điều ước liên quan tới việc công nhận và
    cho thi hành các bản án, quyết định của toà án, quyết định trọng tài thương mại.
    Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, trọng tài và hòa giải đã,
    đang và sẽ trở thành phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả. Sự ra đời của
    Công ước Liên Hợp quốc về thỏa thuận giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải
    (Công ước Singapore) tạo ra những cơ hội thuận lợi cho Việt Nam trong việc giải
    quyết các tranh chấp thương mại quốc tế khi tham gia Công ước và yêu cầu đặt ra
    để có thể tận dụng tốt cơ hội này [8]. Để gia nhập Công ước này, Việt Nam cần
    hoàn thiện hệ thống pháp luật để thu hẹp những khoảng cách, sự khác biệt giữa
    quy định của Công ước Singapore và quy định của pháp luật Việt Nam như quy
    định trong Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Thương mại, Luật Trọng tài Thương mại
    và Nghị định 22/2017/NĐ-CP của Chính phủ cũng như dự thảo Luật Hòa giải,
    Đối thoại tại Tòa án [9].
    Thứ tư, kí kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống khủng bố quốc tế,
    chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền, chống tham nhũng, các
    hiệp định tương trợ tư pháp. Chú trọng việc nội luật hoá những điều ước quốc tế
    mà Nhà nước ta là thành viên liên quan đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Đòi
    hỏi sớm ban hành Luật Dẫn độ tội phạm và chuyển giao người bị kết án phạt tù.
    Thời gian qua, công tác kí kết và gia nhập các công ước quốc tế về chống
    khủng bố quốc tế, chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, chống rửa tiền,
    chống tham nhũng, các hiệp định tương trợ tư pháp được quan tâm đẩy mạnh.
    Tính đến tháng 7 năm 2017, Việt Nam đã kí kết với 05 quốc gia Hiệp định chuyển
    giao người bị kết án (Anh, Hàn Quốc, Australia, Thái Lan và Hungary); 05 Hiệp
    định dẫn độ với Algeria, Ấn Độ, Hàn Quốc, Indonesia, Hungary và 27 Hiệp định
    432

  7. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    tương trợ tư pháp (về cả các vấn đề hình sự và dân sự) [10]. Việc nội luật hoá
    những điều ước quốc tế mà Nhà nước ta là thành viên liên quan đến an ninh, trật
    tự, an toàn xã hội cũng đạt được những kết quả cao. Thời gian tới, điều này dẫn
    đến đòi hỏi sớm ban hành Luật Dẫn độ tội phạm và Luật Chuyển giao người bị kết
    án phạt tù để đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thực tiễn quản lí nhà nước và
    yêu cầu hội nhập quốc tế.
    Công tác dẫn độ tội phạm đòi hỏi Quốc hội sớm ban hành đạo luật chuyên
    biệt về dẫn độ trên cơ sở tách quy định về dẫn độ trong Luật Tương trợ tư pháp
    năm 2007. Đạo luật về dẫn độ cần bảo đảm các yêu cầu về chính trị, ngoại giao,
    pháp luật; nội luật hoá các quy định của điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam
    đã kí kết hoặc tham gia; đồng bộ hoá các quy định về dẫn độ giữa đạo luật về dẫn
    độ với các quy định của pháp luật liên quan, nhất là trong Bộ luật Hình sự và Bộ
    luật Tố tụng hình sự; xây dựng cơ chế phối hợp hiệu quả trong hoạt động dẫn độ
    và xác định, phân định lại cơ quan quản lí nhà nước về dẫn độ; bảo đảm các điều
    kiện về cơ sở vật chất và bố trí cán bộ làm công tác dẫn độ. Đồng thời, Nhà nước
    cần tiếp tục đàm phán, kí kết và triển khai thực hiện có hiệu quả các hiệp định hợp
    tác song phương về dẫn độ; trong đó, ưu tiên đàm phán, kí kết với các quốc gia là
    đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước có
    truyền thống quan hệ lịch sử và thiện chí với Việt Nam và các nước có yêu cầu
    hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm với Việt Nam. Ngoài ra, các cơ quan có
    thẩm quyền cần tăng cường áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong giải quyết vụ
    việc dẫn độ khi Việt Nam chưa kí kết hiệp định hợp tác song phương về dẫn độ
    với nước ngoài, tránh việc người phạm tội lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật và trong
    hợp tác quốc tế để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
    Về hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, trong thời gian
    tới, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm ban hành một đạo luật riêng biệt về
    chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù trên cơ sở tách từ Luật tương trợ tư
    pháp năm 2007 để phân biệt rõ giữa các hoạt động mang bản chất nhân đạo với
    các hoạt động mang tính cưỡng chế cao như dẫn độ, tương trợ tư pháp về hình sự
    của Luật Tương trợ tư pháp hiện hành. Các nội dung quy định trong dự thảo Luật
    Chuyển giao về người đang chấp hành án phạt tù sẽ tạo cơ sở pháp lí mới đầy đủ,
    toàn diện hơn trong việc thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở
    Việt Nam, góp phần bảo đảm chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt
    Nam, bảo đảm hiệu quả công tác thi hành án hình sự và tái hoà nhập xã hội thành
    công. Đồng thời, tăng cường đàm phán, kí kết điều ước quốc tế về chuyển giao
    người đang chấp hành án phạt tù với các quốc gia và vùng lãnh thổ nơi có nhiều
    công dân Việt Nam đang làm việc, sinh sống, lao động, học tập hoặc các quốc gia
    có nhiều công dân hiện đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam; các quốc gia láng
    giềng có chung đường biên giới trên đất liền, trong khối ASEAN. Mặt khác, cũng
    cần tiến hành khảo sát, thống kê, đánh giá thực trạng, tình hình người Việt Nam
    đang chấp hành án tại nước ngoài và nhu cầu được chuyển giao về Việt Nam để
    433

  8. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    tiếp tục chấp hành án. Đồng thời, khảo sát khả năng đáp ứng yêu cầu tiếp nhận
    của các trại giam tại Việt Nam trong trường hợp tất cả các công dân Việt Nam
    đang chấp hành án tại nước ngoài mong muốn được trở về Việt Nam để chấp
    hành án.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Đinh Dũng Sỹ. Hệ thống pháp luật Việt Nam trong tiến trình đổi mới và phát
    triển đất nước. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Tháng 01/2020; số 01 (401).
    [2] Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 2013.
    [3] Bộ Chính trị. Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn
    thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
    Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24 tháng 5 năm 2005.
    [4] Bộ Chính trị. Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Nghị quyết Đại
    hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng. Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày
    10 tháng 4 năm 2013.
    [5] Bộ Chính trị. Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về
    thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định
    chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại
    tự do thế hệ mới. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 05 tháng 11 năm 2016.
    [6] Bộ Chính trị. Nghị quyết của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế,
    chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến
    năm 2030. Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20 tháng 8 năm 2019.
    [7] Bộ Ngoại giao Nước CHXHCN Việt Nam. Những thành tựu trong tiến trình
    hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Truy cập từ:
    http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/ns120222162217/
    [Ngày truy cập 03/10/2020].
    [8] Tạ Đình Tuyên. Công ước Singapore về hòa giải – phương thức giải quyết
    tranh chấp thương mại quốc tế hiệu quả. Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử.
    Truy cập từ: https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat-the-gioi/cong-uoc-cua-
    lien-hop-quoc-ve-thoa-thuan-giai-quyet-tranh-chap-thong-qua-hoa-giai-mot-
    phuong-thuc-giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai-quoc-te-hieu-quacong-uoc-
    cua-lien-hop-quoc-ve-thoa-thuan-giai-quyet [Ngày truy cập: 30/11/2020].
    [9] Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Nghị định của Chính phủ về Hoà giải
    thương mại. Nghị định 22/2017/NĐ-CP, ngày 24 tháng 02 năm 2017.
    [10] Bộ Ngoại giao Nước CHXHCN Việt Nam. Danh mục các hiệp định về tương
    trợ tư pháp tương trợ tư pháp và pháp lí giữa Việt Nam và các nước. Truy
    cập từ https://lanhsuvietnam.gov.vn/ [Ngày truy cập 03/10/2020].
    434

Download tài liệu Một số nội dung hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế File Docx, PDF về máy