[Download] Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam – Tải về File Docx, PDF

Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam

Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam
Nội dung Text: Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam

Download


Bài viết đề cập về nguyên tắc xác định thời hiệu khởi kiện, trao đổi về thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về mất quyền khởi kiện khi hết thời hiệu khởi kiện về trách nhiệm dân sự; về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện và cân nhắc trong lộ trình tương lai sửa đổi pháp luật Việt Nam nên cân nhắc bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện.

Bạn đang xem: [Download] Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam File Docx, PDF về máy

Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam

  1. MẤT QUYỀN KHỞI KIỆN VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
    KHI HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
    Nguyễn Minh Hằng
    Người phản biện:TS. Nguyễn Thị Thúy Hằng

    Tóm tắt:
    Trách nhiệm dân sự là hậu quả bất lợi mà cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền áp
    dụng đối với hành vi vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm nghĩa vụ nói riêng. Khi
    trách nhiệm dân sự giả thiết bị xâm phạm hoặc tranh chấp, một bên hoặc các bên trong
    quan hệ nghĩa vụ đƣợc quyền khởi kiện để yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền
    giải quyết tranh chấp. Mặc dù vậy, quyền khởi kiện vẫn bị mất trong những trƣờng
    hợp có yêu cầu và đủ điều kiện áp dụng thời hiệu khởi kiện mà hết thời hiệu khởi kiện
    theo quy định của pháp luật Việt Nam. Kể từ sau Hiến pháp năm 2013, hệ thống pháp
    luật Việt Nam có nhiều sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện, trong đó bảo đảm
    hơn cho đƣơng sự thực hiện quyền khởi kiện, hạn chế việc mất quyền khởi kiện do hết
    thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định về thời hiệu, cách xác định và vận dụng thời
    hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện về trách nhiệm dân sự nói riêng, đến
    thời điểm hiện tại vẫn tồn tại những bất cập, vƣớng mắc nhất định, ảnh hƣởng đến
    công tác giải quyết tranh chấp của các cơ quan có thẩm quyền, cũng nhƣ quyền lợi của
    đƣơng sự. Bài viết đề cập về nguyên tắc xác định thời hiệu khởi kiện, trao đổi về thực
    trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về mất quyền khởi kiện khi hết thời hiệu khởi kiện
    về trách nhiệm dân sự; về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện và cân nhắc trong lộ trình
    tƣơng lai sửa đổi pháp luật Việt Nam nên cân nhắc bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện.
    Từ khóa: quyền khởi kiện, trách nhiệm dân sự, thời hiệu khởi kiện, Pháp luật
    Việt Nam
    Résumé:
    La responsabilité civile est une conséquence préjudiciable que l‟organisme d’État
    compétent applique les violations de la loi en général et les violations des obligations
    en particulier. Lorsque la responsabilité civile hypothétique est violée ou contestée,
    une ou plusieurs parties à la relation d‟obligation peuvent le droit de poursuivre pour


    PGS.TS Học viện tƣ pháp

    56

  2. demander à l‟organisme d’État compétent de résoudre le différend. Quand même, le
    droit de poursuivre peut être perdu dans les cas où il est nécessaire et suffisant les
    conditions d‟appliquer le délai de prescription pour engager des poursuites mais
    l’expiration du délai de prescription pour engager des poursuites selon aux dispositions
    de la loi vietnamienne. Depuis la Constitution de 2013, le système juridique
    vietnamien comporte de nombreux amendements et suppléments et est de plus en plus
    complet, qui a assuré plus pour les plaideurs d’exercer leur droit de poursuivre, limiter
    la perte du droit de poursuivre en raison de l’expiration du délai de prescription pour
    engager des poursuites. Toutefois, jusqu’à présent, il existe certaines lacunes et
    problèmes subsistent en prescrivant le délai de prescription pour engager des
    poursuites, comment déterminer et appliquer le délai de prescription pour engager des
    poursuites en général et le délai de prescription pour engager des poursuites sur la
    responsabilité civile en particulier, affectant le règlement des différends des agences
    compétentes, ainsi que les intérêts des plaideurs. L’article mentionne le principe de la
    détermination du délai de prescription pour engager des poursuites, en échangeant la
    situation actuelle de la loi vietnamienne sur la perte du droit de poursuivre lorsque le
    délai de prescription pour engager des poursuites pour responsabilité civile est expiré;
    sur le rétablissement du délai de prescription pour engager des poursuites et sur la
    future feuille de route visant à modifier la loi vietnamienne, envisager de supprimer le
    délai de prescription pour engager des poursuites.
    Mot clés: Droit de poursuivre, Responsabilité civile, Délai de prescription pour
    engager des poursuites, Droit vietnamien
    1. Mất quyền khởi kiện khi hết thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp
    luật Việt Nam
    Sự sống của con ngƣời là hữu hạn, pháp luật đƣợc hình thành để điều chỉnh về
    hành vi của con ngƣời theo một trật tự xã hội chung, trong sự điều chỉnh đó có những
    hạn định về thời gian đối với các hành vi và quyền lợi của con ngƣời. Từ quy luật
    chung của sự hữu hạn này, dấu ấn quy định về thời hiệu đƣợc hình thành trong lịch sử.
    Trên phƣơng diện xã hội, thời hiệu là phƣơng tiện đƣợc sử dụng nhằm ổn định tình
    trạng hiện hữu của các quan hệ xã hội sau một thời gian nhất định. Các nhà lập pháp
    ấn định việc thực hiện quyền khởi kiện trong một thời hạn nhất định tùy thuộc vào

    57

  3. từng loại quan hệ pháp luật và sự đặc thù của tranh chấp. “Thời hiệu khởi kiện là thời
    hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo
    vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền
    khởi kiện”58. Là một loại thời hiệu, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự đƣợc xác định
    bằng một thời hạn. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự đƣợc tính liên tục trong trƣờng
    hợp quyền khởi kiện đƣợc chuyển giao hợp pháp cho ngƣời khác. Thời hiệu khởi kiện
    vụ án dân sự đƣợc tính từ ngày ngƣời có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi
    ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác. Đây
    là quy định mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005 “là thời điểm quyền và
    lợi ích bị xâm phạm.”
    Nguyên tắc xác định thời hiệu khởi kiện nói chung và thời hiệu khởi kiện về
    trách nhiệm dân sự nói riêng đƣợc xác định nhƣ sau:
    Thứ nhất, điều kiện xem xét thời hiệu khởi kiện: nếu nhƣ trong Bộ luật tố tụng
    dân sự (BLTTDS) năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 quy định cụ thể về việc xác
    định thời hiệu khởi kiện, thì đến BLTTDS năm 2015 quy định dẫn chiếu “các quy định
    của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.” Về nguyên tắc,
    Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên
    hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải đƣợc đƣa ra trƣớc khi Tòa án cấp sơ thẩm
    ra bản án, quyết định giải quyết vụ, việc. Ngƣời đƣợc hƣởng lợi từ việc áp dụng thời
    hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trƣờng hợp việc từ chối đó nhằm mục
    đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ59. Nhƣ vậy, thời hiệu khởi kiện đã không đƣơng
    nhiên đƣợc Tòa án áp dụng nhƣ thời điểm trƣớc khi BLDS năm 2015 thông qua, mà
    phải xuất phát từ yêu cầu của một trong các bên. Nhƣng nguyên tắc này bị giới hạn
    không áp dụng sau khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết. Việc kết
    thúc thời hiệu chỉ dẫn đến hậu quả pháp lý nếu có những điều kiện do luật định.
    Khi đủ điều kiện áp dụng thời hiệu, việc xác định thời hiệu đƣợc xác định theo 3
    bƣớc cơ bản sau:
    Bước 1 “sử dụng phương pháp loại suy”, tức là loại những loại quan hệ không
    áp dụng thời hiệu và suy luận những quan hệ pháp luật mà thời hiệu khởi kiện không

    58
    Khoản 3 Điều 149 BLDS năm 2015
    59
    Điều 184 BLTTDS năm 2015

    58

  4. bị hạn chế. Theo đó, thời hiệu khởi kiện không áp dụng trong các trƣờng hợp sau
    đây60:
    – Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản;
    – Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trƣờng hợp Bộ luật này, luật khác có liên
    quan quy định khác; Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai;
    – Trƣờng hợp khác do luật quy định.
    Ngoài ra, Pháp luật dân sự Việt Nam cũng ghi nhận những loại quan hệ pháp luật
    mà thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế với những giao dịch dân sự vô hiệu vì có mục
    đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Trong đó, điều cấm của
    luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất
    định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, đƣợc
    cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
    Bước 2, xác định thời hiệu khởi kiện:
    Thời hiệu đƣợc tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt
    tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Ngày đầu tiên của thời hiệu là
    ngày tiếp theo liền kề của ngày đƣợc xác định. Ngày cuối cùng của thời hiệu là ngày
    tƣơng ứng của khoảng thời gian đƣợc xác định và sẽ là ngày làm việc tiếp theo nếu
    ngày cuối cùng là ngày nghỉ hoặc ngày lễ. Do đặc trƣng của pháp luật về thời hiệu nên
    trong trƣờng hợp pháp luật quy định cho các chủ thể đƣợc hƣởng quyền dân sự hoặc
    đƣợc miễn trừ nghĩa vụ dân sự theo thời hiệu thì chỉ sau khi thời hiệu đó kết thúc, việc
    hƣởng quyền dân sự hoặc miễn trừ nghĩa vụ dân sự mới có hiệu lực.
    Quan hệ nghĩa vụ làm xuất hiện hai chủ thể là bên mang quyền và bên mang
    nghĩa vụ. Theo đó, bên mang nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ cụ thể mang lại lợi ích
    cho bên có quyền. Quan hệ nghĩa vụ có thể đƣợc hình thành từ các căn cứ nhƣ: hợp
    đồng, hành vi pháp lý đơn phƣơng, thực hiện công việc không có ủy quyền; chiếm
    hữu, sử dụng tài sản hoặc đƣợc lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; gây thiệt hại
    do hành vi trái pháp luật và những căn cứ khác do pháp luật quy định 61. Do đó, tƣơng
    ứng với từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể, thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự ngoài việc
    đƣợc ghi nhận trong BLDS còn đƣợc quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp

    60
    Điều 155 BLDS năm 2015
    61
    Điều 275 BLDS năm 2015 về “căn cứ phát sinh nghĩa vụ”

    59

  5. luật chuyên ngành khác nhau. Khi áp dụng quy định về thời hiệu trong BLDS năm
    2015, trƣờng hợp luật chuyên ngành có liên quan có quy định khác thì phải ƣu tiên áp
    dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định của luật chuyên ngành đó.
    Bước 3, chứng minh căn cứ khôi phục lại thời hiệu: chứng minh thời gian không
    tính vào thời hiệu khởi kiện hoặc thời hiệu khởi kiện không bị hạn chế.
    Khi giả thiết quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm và tranh chấp xảy ra, bất kỳ ai
    cũng có xu thế tìm kiếm giải pháp cho việc đòi lại quyền lợi đó. Mỗi phƣơng thức
    hành động bảo vệ quyền có một giới hạn nhất định của nó, nhất là khi con đƣờng tố
    tụng tại Tòa án đƣợc lựa chọn nhƣ một cách bảo vệ quyền lợi. Nếu ngƣời có quyền để
    vụ việc trôi qua quá lâu mới thực hiện việc kiện thì ngƣời có nghĩa vụ sẽ ở vị thế bất
    lợi và khó có thể đƣa ra đƣợc chứng cứ để biện hộ cho mình 62. Theo nguyên tắc này
    thì thời hiệu khởi kiện hết kéo theo quyền khởi kiện đúng nghĩa chấm dứt nếu một
    hoặc các bên không chứng minh đƣợc căn cứ để khôi phục lại thời hiệu khởi kiện.
    2. Một số vấn đề trao đổi về khôi phục lại thời hiệu thời hiệu khởi kiện theo
    quy định của pháp luật Việt Nam
    Quyền khởi kiện là quyền của ngƣời dân, đƣợc Nhà nƣớc, pháp luật bảo hộ. Mọi
    chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp đều đƣợc pháp luật trao cho
    quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ, việc. Vấn đề xác định thời hiệu khởi kiện còn
    hay hết không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động giải quyết tranh chấp của
    Tòa án, mà còn bảo đảm thực hiện quyền khởi kiện của đƣơng sự. Sự thừa nhận thời
    hiệu là một trong những biện pháp của Nhà nƣớc nhằm thực hiện mục tiêu khách quan
    của pháp luật là bảo đảm trật tự, công bằng xã hội63. Quy định về bắt đầu lại thời hiệu
    khởi kiện tạo điều kiện cho các đƣơng sự ý thức đƣợc việc chứng minh để bảo vệ
    quyền và lợi ích hợp pháp của mình, thực hiện quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
    giải quyết bảo đảm tính chính xác, khách quan trong quá trình tiến hành tố tụng. Đồng
    thời, hạn chế làm xáo trộn các lợi ích xã hội khác.
    Từ các nguyên tắc áp dụng để tính thời hiệu khởi kiện, có thể suy luận, bắt đầu
    lại thời hiệu khởi kiện không áp dụng cho mọi vụ án tranh chấp (Ví dụ, không áp dụng

    62
    Trần Anh Tuấn (2011): Thời hiệu dân sự – Nhìn từ góc độ lịch sử và so sánh, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ 1
    tháng 6-2011, tr 1.
    63
    Tham khảo bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Điện trên Báo điện tử Chính phủ ngày 15/01/2015; nguồn
    http://baodientu.chinhphu.vn/Lay-y-kien-nhan-dan-ve-du-thao-Bo-luat-dan-su-sua-doi/Can-lam-ro-quy-dinh-ve-
    thoi-hieu/218290.vgp, truy cập ngày 20/5/2015.

    60

  6. với những vụ án không áp dụng thời hiệu khởi kiện, những vụ án thời hiệu khởi kiện
    không bị hạn chế, những vụ án đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi
    kiện hoặc yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện “vượt quá thời hạn luật định64”). Nhƣ
    vậy, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự nói chung và tranh chấp liên quan đến
    trách nhiệm dân sự nói riêng chỉ áp dụng cho những tranh chấp pháp luật quy định về
    thời hiệu khởi kiện và đáp ứng điều kiện áp dụng thời hiệu khởi kiện.
    Trên cơ sở nguyên tắc áp dụng thời hiệu khởi kiện, thời điểm bắt đầu thời hiệu
    khởi kiện là căn cứ cho việc xác định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Điều 157 BLDS
    năm 2015 quy định theo hƣớng liệt kê các căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.
    Thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện tùy theo từng vụ, việc; từng căn cứ bắt đầu
    lại thời hiệu khởi kiện. Thông thƣờng, đƣợc xác định là ngày tiếp theo ngày xảy ra sự
    kiện đƣợc pháp luật ghi nhận. Tuy nhiên, việc không ấn định cụ thể thời điểm phát
    sinh căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện trong từng căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi
    kiện dẫn đến thực tiễn vận dụng quy định này không thống nhất ở các Tòa án. Ở khía
    cạnh luật nội dung, các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện cho phép suy luận
    thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện có thể diễn ra trƣớc khi thời hiệu khởi kiện
    hết hoặc khôi phục lại kể cả trong trƣờng hợp thời hiệu khởi kiện đã chấm dứt. Ở khía
    cạnh tố tụng, thời điểm bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện có thể xảy ra trƣớc khi quá trình
    tố tụng bắt đầu và cũng có thể chấp nhận trong quá trình tố tụng đã diễn ra. Các căn cứ
    bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, bao gồm:
    Thứ nhất, khi bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ
    của mình đối với người khởi kiện
    Bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi “bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc
    toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện”. Sự thừa nhận hay không thừa
    nhận nghĩa vụ về bản chất thể hiện sự tồn tại của nghĩa vụ phải thực hiện, mang lại
    quyền đƣợc hành động hay không hành động của ngƣời có quyền yêu cầu ngƣời có
    nghĩa vụ hoàn tất nghĩa vụ đó. Song quy định về thời hiệu khởi kiện lại gắn thêm hệ
    quả về bắt đầu lại thời hiệu cho sự thừa nhận nghĩa vụ tồn tại. Nghĩa vụ còn, quyền
    yêu cầu còn là hiển nhiên, nhƣng ngƣời có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ còn đồng

    64
    Khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về “Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc
    dân sự”

    61

  7. nghĩa thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại. Đối chiếu với quy định bắt đầu thời hiệu khởi
    kiện, một số trƣờng hợp để xác định thời hiệu khởi kiện bắt đầu hay bắt đầu lại có
    những các hiểu “giao thoa”.
    Một là, đồng nhất việc bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện với bắt đầu lại thời hiệu
    khởi kiện bằng sự thừa nhận nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ với bên có quyền theo thỏa
    thuận. Thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện đƣợc tính kể từ ngày quyền và lợi ích
    hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nƣớc bị
    xâm phạm và đƣợc xác định nhƣ sau:
    – Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
    thời hạn thực hiện, nếu hết thời hạn đó mà bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày
    hết hạn thực hiện nghĩa vụ là ngày xảy ra xâm phạm;
    – Đối với nghĩa vụ dân sự mà các bên không thoả thuận hoặc pháp luật không
    quy định thời hạn thực hiện, nhƣng theo quy định của pháp luật các bên có thể thực
    hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bất cứ lúc nào nhƣng phải thông báo
    cho nhau biết trƣớc trong một thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn đã đƣợc thông báo đó
    bên có nghĩa vụ không thực hiện, thì ngày hết thời hạn đã đƣợc thông báo là ngày xảy
    ra xâm phạm;
    – Trƣờng hợp khi hết hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên có thoả thuận kéo
    dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ đó, thì việc xác định ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị
    xâm phạm căn cứ vào ngày chấm dứt thoả thuận của các bên;
    – Trong quá trình thực hiện hợp đồng mà có vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng,
    thì ngày vi phạm nghĩa vụ là ngày xảy ra xâm phạm, trừ trƣờng hợp các bên có thoả
    thuận khác. Nếu một bên đơn phƣơng đình chỉ hợp đồng thì ngày đơn phƣơng đình chỉ
    hợp đồng là ngày bị xâm phạm.
    – Trong một quan hệ pháp luật hoặc trong một giao dịch dân sự, nếu hành vi xâm
    phạm xảy ra ở nhiều thời điểm khác nhau, thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện
    đƣợc tính kể từ thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm cuối cùng.
    Trong trƣờng hợp các bên có thoả thuận khác về thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi
    kiện, thì thời điểm bắt đầu thời hiệu khởi kiện đƣợc xác định theo thoả thuận của các
    bên.

    62

  8. Hai là, căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện với bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện
    có thể có những căn cứ đồng nhất nhƣng là hai nội dung khác nhau. Khi hết hạn thực
    hiện nghĩa vụ và sau một khoảng thời gian các bên mới có trao đổi, xác nhận nghĩa vụ
    kèm theo thỏa thuận kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ, có thể xem là trƣờng hợp
    xuất hiện căn cứ “bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của
    mình đối với ngƣời khởi kiện” nên thời hiệu khởi kiện đƣợc bắt đầu lại. Thực tế là
    không phải lúc nào sự thừa nhận nghĩa vụ đồng nghĩa với bên có nghĩa vụ sẽ thực hiện
    toàn bộ nghĩa vụ của mình. Do quy định tại điểm a khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015
    chỉ quy định thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại khi có các căn cứ sau, nhƣng lại không có
    quy định rõ ràng thời điểm phát sinh căn cứ. Nhƣ vậy, chƣa đủ cơ sở khẳng định thời
    điểm phát sinh căn cứ là phải sau khi hết thời hiệu khởi kiện hay còn trong thời hiệu
    khởi kiện. BLDS năm 2015 đã không hạn định thời điểm phát sinh căn cứ. Đến
    BLTTDS năm 2015 cũng không khƣớc từ quyền khởi kiện của đƣơng sự nếu chƣa
    chứng minh đƣợc thời hiệu khởi kiện vẫn còn ở thời điểm nộp đơn kiện và trong
    khoảng thời gian tố tụng tiếp theo. Do đó, có thể cởi mở phạm vi thời điểm phát sinh
    căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện trong mọi thời điểm bất kể trong hay ngoài tố
    tụng, còn hay hết thời hiệu. Trong trƣờng hợp, mặc dù đã hết thời hiệu khởi kiện,
    nhƣng ngƣời có nghĩa vụ vẫn thừa nhận nghĩa vụ của mình với ngƣời có quyền, chỉ
    cần họ thừa nhận một phần nghĩa vụ là đủ căn cứ để xác định thời hiệu khởi kiện đƣợc
    khôi phục trở lại. Thời điểm khôi phục lại thời hiệu khởi kiện là ngày tiếp theo ngày
    ngƣời có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ của mình.
    Từ các phân tích trên có thể kết luận, căn cứ bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một
    phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với ngƣời khởi kiện là căn cứ bắt đầu lại thời
    hiệu khởi kiện. Nhƣng căn cứ này tạo nên sự băn khoăn trong nhận định pháp lý về
    thời hiệu, bên cạnh sự “chông chênh” về thời điểm phát sinh căn cứ này khi không quy
    định việc thừa nhận nghĩa vụ phải diễn ra ở thời điểm nào mới đƣợc khôi phục lại hoặc
    không khôi phục lại thời hiệu khởi kiện.
    Thứ hai, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi bên có nghĩa vụ thực hiện xong
    một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện
    Giống nhƣ căn cứ thừa nhận nghĩa vụ, luật không quy định căn cứ thực hiện
    xong một phần nghĩa vụ phải diễn ra trong thời gian nào, khi còn hay hết thời hiệu

    63

  9. khởi kiện. Thực hiện nghĩa vụ đƣợc xem nhƣ bƣớc tiếp theo hệ quả của sự thừa nhận
    nghĩa vụ gắn với trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Vì thế, nếu thừa nhận
    nghĩa vụ là căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện thì thực hiện xong một phần nghĩa vụ
    lại càng phải đƣợc xem là căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu nhƣ một tính tất yếu.
    Thực hiện xong một phần nghĩa vụ mang hình bóng của căn cứ thừa nhận nghĩa
    vụ, đó là việc thực hiện xong một phần nghĩa vụ dẫn đến thời hiệu bắt đầu lại đƣợc suy
    xét trên cơ sở “thừa nhận ngầm” nghĩa vụ và thực hiện nghĩa vụ đó, mặc dù việc thực
    hiện chỉ là một phần. Giống nhƣ căn cứ thừa nhận nghĩa vụ thời điểm xảy ra căn cứ
    thừa nhận nghĩa vụ có thể suy luận chấp nhận khi thời hiệu khởi kiện còn hoặc hết.
    Nhƣng điều đáng xem xét nhất đó không phải là thời điểm xảy ra căn cứ mà là cách
    hiểu thống nhất về nội hàm nhƣ thế nào là thực hiện “xong một phần nghĩa vụ”. Về lý
    luận, do chƣa có hƣớng dẫn, giải thích thống nhất của cơ quan nhà nƣớc có thẩm
    quyền về vấn đề này nên thực tiễn xét xử gặp những vƣớng mắc nhất định. Nghĩa vụ
    tuy đƣợc thực hiện, nhƣng chƣa xong phần nào hoặc không thể xác định là đã hoàn
    thành một phần khó có thể coi là căn cứ bắt đầu lại thời hiệu. Thực hiện xong một
    phần nghĩa vụ có thể đƣợc hiểu là thực hiện xong một phần nghĩa vụ trong tổng thể
    nghĩa vụ chung phân định rõ ràng những phần vụ khác nhau. Nhƣng nếu giản đơn ở
    mức độ nghĩa vụ luôn đƣợc phân thành các nghĩa vụ nhỏ cụ thể thì không có gì phải
    bàn. Trên thực tế có sự phong phú về nghĩa vụ và sự thỏa thuận thực hiện nghĩa vụ của
    các chủ thể không phải lúc nào cũng làm cho các nghĩa vụ tách bạch.
    Đối với trƣờng hợp chỉ có một quan hệ tranh chấp đƣợc yêu cầu giải quyết trong
    vụ án, nhƣng nghĩa vụ không đƣợc phân thành các phần nhỏ nhƣ quan hệ hợp đồng
    vay tài sản. Trong đó khoản nợ tiền vay, khoản tiền lãi và toàn bộ khoản nợ đó đƣợc
    xác định phải trả trong cùng một thời điểm thì thanh toán số nợ bao nhiêu để đƣợc coi
    là “thực hiện xong một phần nghĩa vụ”. Chƣa nói đến vấn đề là khoản tiền lãi mà các
    bên có thỏa thuận, bởi theo quy định của pháp luật hiện tại nếu thời hiệu khởi kiện hết
    thì chỉ đƣợc đòi lại tài sản đã cho vay (nợ gốc), còn tiền lãi thì không xem xét 65. Nếu
    nhƣ không chứng minh đƣợc nghĩa vụ trả tiền vay đã đƣợc thực hiện xong một phần,

    65
    Áp dụng tƣơng tự tinh thần tại khoản 3 Điều 23 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 hƣớng dẫn
    thi hành một số quy định trong phần thứ nhất của BLTTDS hƣớng dẫn điểm a khoản 3 Điều 159 BLTTDS 2004
    (sửa đổi, bổ sung năm 2011).

    64

  10. ngƣời cho vay đứng trƣớc nguy cơ bị mất khoản tiền lãi theo thỏa thuận khi thời hiệu
    khởi kiện không đƣợc tính lại.
    Đối với trƣờng hợp có nhiều nghĩa vụ xuất phát từ nhiều quan hệ pháp luật có
    liên quan với nhau, để xác định nghĩa vụ đƣợc thực hiện xong một phần khó khăn hơn
    nhiều so với nghĩa vụ phát sinh từ một quan hệ pháp luật. Vì luật vẫn chƣa cho biết
    thực hiện xong một phần nghĩa vụ là của một hay của nhiều quan hệ pháp luật, kèm
    theo hệ quả của nó. Dẫn đến suy luận thực hiện xong một phần nghĩa vụ của một mối
    quan hệ pháp luật, chƣa đủ điều kiện để thời hiệu khởi kiện đƣợc bắt đầu lại cho tất cả
    các mối quan hệ pháp luật khác có liên quan cùng giải quyết trong một vụ án. Nếu thời
    hiệu khởi kiện đƣợc khôi phục lại cho mối quan hệ pháp này có kéo theo hệ quả đó
    cho mối quan hệ pháp luật khác có liên quan có tranh chấp.
    Căn cứ thực hiện xong một phần nghĩa vụ nếu đƣợc hiểu một cách máy móc theo
    nguyên nghĩa ngôn từ không tránh khỏi những vƣớng mắc về lý luận, khi việc thực
    hiện nghĩa vụ có xảy ra, nhƣng chƣa thực hiện “xong một phần nghĩa vụ” đó thì rất có
    thể không thuộc trƣờng hợp khôi phục lại thời hiệu khởi kiện. Tất nhiên, chiếu theo hệ
    quả pháp lý của nó ngƣời có quyền mất đi quyền khởi kiện, dù nghĩa vụ vẫn còn tồn
    tại và việc thực hiện nghĩa vụ tuy chƣa xong một phần nhƣng đã diễn ra.
    Nếu nhƣ điểm b, khoản 1 Điều 162 BLDS năm 2005 quy định “Bên có nghĩa vụ
    thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện” thì đến BLDS
    năm 2015 tại điểm b, khoản 1 Điều 157 BLDS 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung: “Bên có
    nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người
    khởi kiện”. Việc bổ sung căn cứ thừa nhận thực hiện một phần nghĩa vụ không lấp đầy
    đƣợc nhƣợc điểm còn tồn tại trong căn cứ này. Bởi lẽ, khi bổ sung căn cứ làm trùng
    lắp với quy định tại điểm a khoản 1 bên có nghĩa vụ thừa nhận nghĩa vụ ở điểm a
    khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015. Chúng tôi cho rằng, để áp dụng thống nhất quy
    định về căn cứ này, cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cần có văn bản hƣớng dẫn về
    nhƣ thế nào là thực hiện xong một phần nghĩa vụ đối với ngƣời khởi kiện, đặc biệt là
    việc xác định thời điểm xảy ra căn cứ để xác định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi
    đƣơng sự yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu trong thời hạn luật định.
    Thứ ba, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi các bên đã tự hòa giải với nhau

    65

  11. Hòa giải đƣợc các bên chọn lựa nhƣ một biện pháp để các bên giải quyết tranh
    chấp, tháo gỡ mối bất đồng, rắc rối giữa họ. Khi các bên chịu ngồi lại thƣơng lƣợng
    với nhau, theo lẽ thƣờng mâu thuẫn dƣờng nhƣ đƣợc thu xếp ổn thỏa, chiều hƣớng
    khởi kiện không còn là giải pháp kiên quyết đặt ra trong những tình huống nhƣ vậy.
    Xuất phát từ quyền tự do, tự nguyện của đƣơng sự, nên dù đã có tranh chấp xảy ra,
    nhƣng nếu các bên đƣơng sự hòa giải đƣợc với nhau, thỏa thuận đƣợc với nhau luôn
    luôn đƣợc khuyến khích và các bên cần phải tôn trọng sự hòa giải, sự thỏa thuận của
    họ. Nhƣng vì một lý do nào đó, một trong các bên không tôn trọng thỏa thuận, không
    tôn trọng kết quả tự hòa giải với nhau, tiếp tục có tranh chấp thì kết quả tự hòa giải là
    một cơ sở xem xét vấn đề thời hiệu.
    Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015, nếu các bên đã tự
    hòa giải với nhau mà sự hòa giải của các bên không thể giải quyết triệt để vấn đề, bắt
    đầu lại thời hiệu khởi kiện nhƣ một quy định mang tính dự liệu hợp lý và cần thiết bảo
    vệ quyền, lợi chính đáng cho các bên, khi nội dung hòa giải không đƣợc tôn trọng,
    thực hiện nghiêm túc. Khi tiếp cận quy định này hiện có các cách hiểu khác nhau:
    Có cách hiểu cho rằng, trƣờng hợp các bên đƣơng sự tự hòa giải với nhau đƣợc
    coi là căn cứ để áp dụng điểm c khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015 phải trong trƣờng
    hợp việc tự hòa giải của các bên đƣơng sự trong thời hiệu khởi kiện và không cần thiết
    phải là trƣờng hợp tự hòa giải thành vì điều luật không hạn định căn cứ xác định thời
    hiệu bởi hòa giải thành.
    Ý kiến khác lại cho rằng, điểm c khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015 chỉ đề cập là
    các bên đƣơng sự tự hòa giải với nhau, về nguyên tắc do điều luật không quy định nên
    không nên tách biệt việc thỏa thuận trong tố tụng hay ngoài tố tụng khi còn thời hiệu
    khởi kiện hay thỏa thuận ngoài tố tụng khi đã hết thời hiệu khởi kiện.
    Từ ý nghĩa của việc khuyến khích các bên đƣơng sự tự hòa giải, chúng tôi cho
    rằng nên hiểu về quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 157 BLDS năm 2015 theo tinh
    thần sau:
    Một là, căn cứ để áp dụng quy định về việc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện khi các
    bên đƣơng sự tự thoả thuận với nhau, nhằm đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của các
    bên đƣơng sự. Thỏa thuận tự hòa giải phải là hòa giải thành giữa các bên đƣơng sự.
    Nếu tiếp cận theo hƣớng “mở” chỉ cần có ý chí hòa giải giữa các bên đƣơng sự thì trên

    66

  12. thực tế quy định về thời hiệu sẽ không còn ý nghĩa, vì mọi trƣờng hợp khi hết thời hiệu
    khởi kiện đƣơng sự đều có thể viện dẫn đề xuất tự hòa giải là cơ sở để bắt đầu lại thời
    hiệu khởi kiện.
    Hai là, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện đƣợc áp dụng ở mọi thời điểm (còn trong
    thời hiệu và đã hết thời hiệu khởi kiện). Nội dung và hình thức các bên tự hòa giải,
    thỏa thuận rất phong phú. Các bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hiệu khởi kiện, kéo
    dài thời gian thực hiện nghĩa vụ, thực hiện nghĩa vụ trong nhiều giai đoạn, trong nhiều
    lần, thỏa thuận việc bù trừ nghĩa vụ, hoặc chỉ phải thực hiện một phần nghĩa vụ, thực
    hiện một nghĩa vụ khác thay thế hoặc cùng với bên thứ ba thỏa thuận chuyển giao
    nghĩa vụ, thỏa thuận chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi có những điều kiện xuất hiện…
    các bên có thể tự hòa giải đƣợc trƣớc hoặc sau khi khởi kiện đều đƣợc tính lại thời
    hiệu khởi kiện. Việc các bên đã tự hòa giải với nhau về việc thực hiện nghĩa vụ, nhƣng
    sau đó lại xảy ra tranh chấp, thời điểm các bên tự hòa giải đƣợc hoặc thời điểm mà các
    bên thỏa thuận bên bị khởi kiện, bị yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ, nhƣng đã không
    thực hiện… Tùy theo nội dung đã thỏa thuận để xác định thời điểm bắt đầu tính lại
    thời hiệu khởi kiện.
    Ba là, ngoài khía cạnh về thời hiệu khởi kiện, căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi
    kiện này đƣợc liên kết với quy định mới tại Điều 416 BLTTDS năm 2015 về công
    nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án: “Kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án
    được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra
    giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ
    hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải”. Sự tự hòa giải
    của các bên nếu đi đến kết quả thống nhất phƣơng thức giải quyết tranh chấp còn tồn
    tại sẽ có thêm một vai trò đó là định đoạt luôn trách nhiệm của các bên về nội dung
    hòa giải thông qua sự công nhận của Tòa án66. Tòa án chỉ là chủ thể trung gian xác
    nhận hiệu lực của hòa giải, không còn giữ vai trò giải quyết, quyết định nhƣ trƣớc đây.

    66
    Điều 417 BLTTDS năm 2015 quy định điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án:
    1. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
    2. Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là ngƣời có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải.
    Trƣờng hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của ngƣời thứ ba thì phải đƣợc
    ngƣời thứ ba đồng ý.
    3. Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.
    4. Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật,
    không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nƣớc hoặc ngƣời thứ ba.

    67

  13. Tuy nhiên, kết quả tự hòa giải của các bên chỉ đƣợc Tòa án xem xét công nhận trong
    thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt đƣợc thỏa thuận hòa giải thành67.
    Có thể nói, dù xét dƣới góc độ nào đi nữa căn cứ các bên đã tự hòa giải với nhau
    là một quy định có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đƣợc xuất phát từ quyền tự do,
    tự nguyện cam kết, thỏa thuận, quyền tự định đoạt… đã đƣợc quy định trong Hiến
    pháp, trong rất nhiều các ngành luật khác nhau68.
    Thực tiễn phong phú bởi căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện xuất hiện không
    chỉ trong những hình thức cố định, dễ nhận biết, dễ xét đoán qua nhiều hình thức khác
    nhau đã khiến quá trình vận dụng căn cứ không giống nhau. Sự bỏ ngỏ về hình thức
    chứng minh các căn cứ bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định của BLDS năm
    2015 là hợp lý. Việc vận dụng nghĩa vụ chứng minh, căn cứ chứng minh đƣợc dẫn
    chiếu theo quy định của BLTTDS năm 2015. Theo đó, khi đƣơng sự viện dẫn căn cứ
    bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, đƣơng sự đƣợc sử dụng linh hoạt các nguồn chứng cứ,
    xác định chứng cứ để thực hiện quyền tranh tụng của mình.
    3. Cân nhắc sửa đổi Pháp luật Việt Nam trong tƣơng lai theo hƣớng bỏ thời
    hiệu khởi kiện
    Quy định về thời hiệu từ truyền thống tố tụng có sức sống riêng trong việc đảm
    bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đƣơng sự, trách nhiệm chứng minh
    của Tòa án. Việc duy trì thời hiệu khởi kiện đã khẳng định đƣợc ý nghĩa đối với đặc
    thù mô hình tố tụng dân sự ở Việt Nam. Một mặt, quy định về thời hiệu khởi kiện đảm
    bảo đƣợc trật tự công cộng, quyền đƣợc an toàn, quyền đƣợc ổn định của con ngƣời.
    Mặt khác, quy định về thời hiệu khởi kiện góp phần nâng cao trách nhiệm của các bên
    trong việc yêu cầu Nhà nƣớc bảo vệ quyền lợi cho mình, giảm bớt gánh nặng cho Tòa
    án đặc biệt với những vụ án đƣơng sự nhờ tòa án thu thập chứng cứ. Tuy nhiên, đã đến
    lúc, chúng ta cần nghiêm túc xem xét lại vấn đề giữ hay bỏ quy định về thời hiệu khởi
    kiện khi sửa đổi hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Từ lý luận và thực tiễn, đặc
    biệt trong bối cảnh Việt Nam đang theo mô hình tố tụng tranh tụng, chúng tôi cho rằng
    cần thiết cân nhắc bỏ quy định về thời hiệu khởi kiện vì các lý do cơ bản sau:

    67
    Khoản 1 Điều 418 BLTTDS năm 2015.
    68
    Ví dụ tại Điều 4 của Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định về quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhƣ
    sau: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đƣợc pháp luật bảo đảm, nếu
    cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”.

    68

  14. Thứ nhất, quyền khởi kiện là quyền của ngƣời dân đƣợc nhà nƣớc, pháp luật bảo
    hộ. Vấn đề cốt lõi của việc ghi nhận quyền dân sự là tạo điều kiện để mỗi ngƣời đƣợc
    sống trong sự tôn trọng, đƣợc bảo vệ trƣớc mọi hành vi vi phạm quyền và lợi ích hợp
    pháp của họ. Mọi chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm hay tranh chấp hoặc cần ghi
    nhận các quyền hay tình trạng pháp lý đều đƣợc pháp luật trao cho quyền yêu cầu Tòa
    án giải quyết các vụ việc. Do vậy, ngƣời dân khởi kiện thì tòa án phải thụ lý. Quyền
    khởi kiện của đƣơng sự là tiền đề làm phát sinh quan hệ tố tụng dân sự, là cơ sở để tiến
    hành các thủ tục tố tụng dân sự ở các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Từ góc nhìn của thực
    tiễn xét xử, khi vận dụng pháp luật, thực trạng một số Toà án đã xác định thời hiệu
    khởi kiện không đúng dẫn tới việc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án sai làm cho
    đƣơng sự mất quyền khởi kiện.
    Thứ hai, qua nghiên cứu xu hƣớng sửa đổi pháp luật chung của nhiều nƣớc trên
    thế giới, phần lớn không quy định thời hiệu khởi kiện là rào cản pháp lý để đƣơng sự
    mất quyền khởi kiện;
    Thứ ba, vấn đề lo lắng hiện tại là nếu không quy định thời hiệu khởi kiện sẽ làm
    xáo trộn các lợi ích xã hội khác, ngƣời dân phải có ý thức thực hiện quyền của mình
    trong khoảng thời hạn do luật định, nếu không xem nhƣ đã tự từ bỏ quyền của mình và
    phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi vì không nhận thức đƣợc đầy đủ về ý nghĩa của thời
    hiệu khởi kiện. Xét về góc độ tố tụng thì một sự việc xảy ra đã quá lâu thì nên hệ quả
    dẫn đến khó khăn trong việc xác định sự thật khách quan, bên cạnh đó, cũng không hề
    đơn giản khi thu thập chứng cứ và việc giải quyết vụ án có thể sẽ dẫn đến tình trạng
    tồn động án. Một số ý kiến cho rằng nếu không có quy định về thời hiệu khởi kiện thì
    sẽ không hạn chế đƣợc những tranh chấp đã xảy ra quá lâu khiến cho việc thụ lý, giải
    quyết án của tòa không đạt đƣợc hiệu quả mà nhiều khi còn phát sinh tác dụng ngƣợc.
    Tuy nhiên, hiện nay án tồn đọng của tòa đã đƣợc giải quyết rất tốt. Công tác xét xử của
    tòa đƣợc nâng cao nên đã giảm đáng kể án tồn, án quá hạn. Vì vậy, việc bỏ thời hiệu
    khởi kiện sẽ không thể khiến án chồng án. Mặt khác, việc loại bỏ quy định về thời hiệu
    khởi kiện sẽ thúc đẩy mạnh hơn việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của đƣơng sự.
    Khi đó, thay vì Tòa án ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án do hết thời hiệu
    khởi kiện, Tòa án sẽ ban hành quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

    69

  15. đƣơng sự nếu đƣơng sự không thực hiện đƣợc, không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và
    nghĩa vụ chứng minh của mình.
    Thứ tư, trong các giao dịch dân sự, chủ thể tham gia quan hệ dân sự đƣợc hƣởng
    các quyền và thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Sự ổn định của các quan hệ dân sự là một
    trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự. Việc ghi nhận quyền khởi kiện
    tuyệt đối của đƣơng sự, không hạn chế về mặt thời gian là một phƣơng thức bảo đảm
    quyền khởi kiện một cách hợp lý và chặt chẽ, mặt khác còn giảm thiểu đƣợc những tranh
    chấp mà do áp lực về thời hiệu khởi kiện họ buộc phải khởi kiện ra tòa.

    70

Download tài liệu Mất quyền khởi kiện về trách nhiệm dân sự khi hết thời hiệu khởi kiện theo pháp luật Việt Nam File Docx, PDF về máy