[Download] Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay – Tải về File Docx, PDF

Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Nội dung Text: Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Download


Trong các cơ quan chính quyền của nước ta hiện nay, tình trạng “gia đình trị”, hay hiện tượng “cả họ làm quan” không hiếm gặp. Đây là một điều kiện thuận lợi cho tham nhũng nảy sinh và được che đậy. Những sự việc bất thường gần đây xảy ra đặt ra một câu hỏi phải chăng đang tồn tại lỗ hổng nào đó trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức? Trong lịch sử, Luật “hồi tỵ” được xây dựng và áp dụng nhằm ngăn chặn những tình huống tương tự như trên xảy ra.

Bạn đang xem: [Download] Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay File Docx, PDF về máy

Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

  1. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    LUẬT HỒI TỴ TRIỀU NGUYỄN VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO
    TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
    Nguyễn Minh Tuấn*
    Trần Tuấn Kiệt**
    *PGS. TS. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
    **Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.

    Thông tin bài viết: Tóm tắt:
    Từ khoá: Luật hồi tỵ, Luật hồi tỵ triều Trong các cơ quan chính quyền của nước ta hiện nay, tình trạng
    Nguyễn, tham nhũng. “gia đình trị”, hay hiện tượng “cả họ làm quan” không hiếm gặp.
    Đây là một điều kiện thuận lợi cho tham nhũng nảy sinh và được
    che đậy. Những sự việc bất thường gần đây xảy ra đặt ra một câu
    Lịch sử bài viết: hỏi phải chăng đang tồn tại lỗ hổng nào đó trong công tác tuyển
    Nhận bài : 26/7/2020 dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức? Trong lịch sử, Luật “hồi tỵ”
    Biên tập : 03/8/2020 được xây dựng và áp dụng nhằm ngăn chặn những tình huống
    tương tự như trên xảy ra. Đây đã từng là một công cụ đắc lực của
    Duyệt bài : 05/8/2020
    các triều đại quân chủ Việt Nam trong phòng, chống tham nhũng.
    Các quy định hồi tỵ dưới triều Nguyễn, đặc biệt là từ thời Minh
    Article Infomation: Mệnh, đã được sử dụng như một biện pháp thực sự hiệu quả để
    Keywords: Rules of Avoidance, làm trong sạch đội ngũ quan lại, ngăn chặn tham nhũng và sự cát
    Rules of Avoidance under the cứ quyền lực.
    Nguyen Dynasty, corruption.

    Article History: Abstract:
    Received : 26 Jul. 2020 Abstract: In the current time, it commonly occurs the situation of
    Edited : 03 Aug. 2020 “nepotism”, or the phenomenon of “the whole clan as mandarins”
    in the governmental agencies of our country. This is a favorable
    Approved : 05 Aug. 2020
    condition for corruption practice to arise and to be concealed. The
    unusual events recently raised a question whether there are any
    gaps in the recruitment and appointment of cadres and public
    servants? Historically, the Rules of Avoidance was approved and
    applied to prevent situations similar to the above from happening.
    This was once an effective tool of the Vietnamese monarchs in
    fighting against corruption. The rules of avoidance under the
    Nguyen Dynasty, especially from the Minh Menh period, were
    used as a really effective means to clean up the bureaucracy,
    prevent corruption and to control the state powers.

    1. Luật hồi tỵ: mục đích ra đời, khái niệm việc trong cùng một cơ quan nhà nước.
    và những đặc trưng căn bản Ngoài ra, cũng có những quy định không
    Luật Hồi tỵ (chữ Hán: 迴避 – phồn thể cho phép quan chức mua ruộng đất tại nơi
    hoặc 回避l – giản thể, tiếng Anh: Rules of mình cai quản, không cho phép quan lại
    Avoidance) hiểu sơ lược là “luật về sự tránh được tham gia vào một số khâu quan trọng
    né”. Nội dung của các quy định hồi tỵ xoay của các kỳ thi tuyển người cho triều đình.
    quanh việc ngăn chặn những người thân Các quy định như vậy nhắm đến việc loại bỏ
    thích với nhau (người trong gia đình, họ hiện tượng những người thân thuộc gần gũi
    hàng; người đồng hương; thầy trò…) làm với nhau kéo bè kết phái bao che, hỗ trợ lẫn

    8 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 15 (415) – T8/2020

  2. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    nhau, là môi trường lý tưởng của tham cương). Điều này dẫn đến hệ quả là con
    nhũng. Luật Hồi tỵ ở Việt Nam bắt đầu xuất người đề cao vai trò của gia đình, dòng tộc
    hiện từ đời Hồng Đức (1460 – 1497), học tập lên mức cao nhất, có khi lợi ích của gia đình
    những quy định tương tự từ Trung Hoa vốn cao hơn lợi ích của xã hội, cộng đồng3.
    đã có từ triều đại nhà Tùy. Tính cố kết chặt chẽ của cá nhân đối với
    Dưới triều Nguyễn, Nguyễn Sĩ Giác đã gia đình, dòng tộc, quê hương do vậy đã trở
    lý giải thuật ngữ “hồi tỵ” khá đơn giản rằng, thành một truyền thống tốt đẹp lâu đời,
    “trong một nha môn hay một hạt, cha con nhưng khó tránh khỏi có mặt trái là con
    anh em hay thân thích khác không được làm người có những mối quan tâm cục bộ, thu
    cùng một việc, nếu chánh phủ không biết mà hẹp trong một nhóm nhỏ người, tinh thần
    bổ, thì các đương sự phải khai ra, để đổi một cộng đồng không cao.
    người đi nơi khác. Nhất là các khoa thi các Như vậy, nếu như có một nhóm những
    viên chức được sự chân khảo quan, nếu có người có quan hệ gia đình, họ hàng, đồng
    anh em, con cháu dự kỳ thi đó, phải khai hương làm việc trong cùng cơ quan, cùng
    thực mà xin hồi tỵ, chứ không được nhận địa phương đó sẽ là môi trường lý tưởng của
    làm khảo quan”1. tham nhũng, cụ thể là hiện tượng kéo bè kéo
    Luật hồi tỵ được xây dựng dựa trên cánh, nâng đỡ, bao che cho nhau. Sự có mặt
    chính cơ sở xã hội – văn hóa truyền thống của của những người thân thuộc ở đây có thể là
    Việt Nam, sản phẩm của một quá trình phát động cơ thúc đẩy tham nhũng (do tình cảm,
    triển lâu dài của văn hóa dân gian, chịu ảnh nể nang mà nâng đỡ, hỗ trợ nhau trái pháp
    hưởng mạnh mẽ bởi hệ tư tưởng Nho giáo. luật, kể cả việc lạm dụng quyền lực đưa
    những người này vào các cơ quan nhà nước)
    Xuất phát từ nền văn hoá nông nghiệp và /hoặc điều kiện để tham nhũng (những
    vốn dĩ phải phụ thuộc nhiều vào thời tiết, người thân thuộc không tố giác việc phạm
    người nông dân có xu hướng chú trọng tới pháp, trái lại còn giúp đỡ, bao che cho nhau).
    các mối quan hệ hoà đồng, hình thành lối tư Không thể khẳng định điều này là tuyệt đối
    duy cầu an, ưa ổn định, ngại thay đổi2. Ngay đúng cho mọi trường hợp, nhưng vẫn là
    cả khi đã có cơ hội rời khỏi làng và định cư nguy cơ rất lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả
    ở nơi khác do nhu cầu làm ăn, thì người Việt và sự trong sạch của bộ máy công quyền. Do
    vẫn không quên quê hương bản quán là nơi vậy, Luật Hồi tỵ được đặt ra như một công
    chôn rau cắt rốn và nơi chôn cất ông bà tổ cụ pháp lý mạnh để ngăn chặn việc hình
    tiên. Tục bái vọng của người Việt là một ví thành các nhóm gồm toàn những người có
    dụ tốt. Tâm lý của người Việt do đó thể hiện quan hệ gắn bó trong bộ máy chính quyền
    rõ sự gắn bó chặt chẽ và sâu sắc với tập thể, địa phương, tránh việc lạm dụng quyền lực.
    với cộng đồng. Qua đó, có thể thấy mục tiêu sau cùng
    Một số khía cạnh của Nho giáo trong của các quy tắc hồi tỵ là nhằm ngăn chặn việc
    quá trình tiếp biến văn hóa tại Việt Nam đã một quan chức có cơ hội xây dựng thế lực cá
    cộng hưởng, khiến cho những mối quan hệ nhân thông qua: (i) các quan hệ thân thuộc,
    gắn bó nhất này càng trở nên quan trọng, gần gũi nhất như vợ, con, người nhà, người
    thậm chi đến mức cực đoan hóa. Học thuyết đồng tộc, đồng hương…và (ii) các quan hệ
    của Nho gia đề cao vai trò của gia đình, dòng khác gây dựng được dựa vào quyền lực (và
    tộc: quan hệ cha – con, vợ – chồng là hai cả tài chính, tài vật…) dựa vào chức vị mà cá
    trong ba mối quan hệ cơ bản của xã hội (tam nhân đó đang đảm nhiệm mà có được, từ đó

    1 Nguyễn Sĩ Giác, Đại Nam điển lệ toát yếu, Đại học Luật khoa Sài Gòn, 1962. Xem chú thích Điều 97 “Hồi tỵ”.
    2 Nguyễn Minh Tuấn, Làng xã xưa và nay, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, số 11+12, 2004.
    3 Xem thêm: Hoàng Thu Trang, Ảnh hưởng của quan niệm đạo đức Nho giáo đến đời sống đạo đức ở Việt
    Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số 7, 2017, tr.13-14.
    NGHIÊN CỨU
    Số 15 (415) – T8/2020 LẬP PHÁP 9

  3. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    thực hiện những hành vi tham nhũng. Không Để giải quyết vấn đề nêu trên, Minh
    có môi trường lý tưởng, tham nhũng sẽ bị hạn Mạng đã lựa chọn Luật Hồi tỵ như một giải
    chế, các quan chức sẽ tập trung hơn việc pháp mạnh mẽ và phù hợp trong bối cảnh
    hoàn thành bổn phận của mình và bộ máy nhà nước quân chủ chưa biết đến các biện
    nhà nước sẽ vận hành hiệu quả hơn. pháp phòng, chống tham nhũng hiện đại.
    2. Nguồn và nội dung Luật Hồi tỵ triều Phương pháp này còn có thêm một tác dụng
    là phòng ngừa các nguy cơ hình thành những
    Nguyễn
    thế lực cát cứ tại địa phương, điều mà nhà
    Các quy định hồi tỵ dưới triều nhà vua đặc biệt lưu tâm sau khi loại bỏ các thế
    Nguyễn, đặc biệt là từ đời Minh Mạng (1820 lực cá nhân của thế hệ công thần đời trước.
    – 1841) có sự mở rộng đáng kể về phạm vi Cách tiếp cận của nhà vua mang nặng ảnh
    nếu so sánh với các quy định hồi tỵ từ thời hưởng Nho giáo, coi sự kết bè phái là mối
    Lê Thánh Tông. nguy lớn với tư cách của nho sĩ, như sách
    Khi lên ngôi, Minh Mạng phải đối mặt Luận Ngữ viết: “Người quân tử […] hoà hợp
    rất nhiều khó khăn. Các võ quan hàng đầu từ (cộng tác) với mọi người mà không bè
    thời Gia Long như Lê Chất, Lê Văn Duyệt đảng”5. Điều này có thể được lý giải bởi
    đại diện cho thế hệ có công khai quốc, quyền chính tính cách bảo thủ và những lợi ích mà
    lực rất lớn; hai đơn vị hành chính Bắc Thành Nho giáo với tư cách là một học thuyết chính
    và Gia Định Thành có quá nhiều quyền lực, trị đã đem lại cho những nỗ lực tập trung
    thậm chí thách thức quyền uy của trung quyền lực của nhà vua6.
    ương. Ngoài ra, hiện tượng tham nhũng, nhất – Nguồn luật
    là tham nhũng do việc những người thân Pháp luật thời kỳ quân chủ chỉ có những
    quyến cùng làm ở một nơi (cùng địa phương, nguồn gồm luật và lệ7 do nhà vua ban hành
    cùng cơ quan) diễn ra khá phổ biến, như và các tục lệ đã tồn tại lâu đời trong dân gian.
    trong Đại Nam điển lệ ghi nhận lời than Riêng đối với Luật Hồi tỵ – những quy định
    phiền của nhà vua: “…các chức Thông phán, liên quan đến quan chế triều đình, là sự hiện
    Kinh lịch phần nhiều là người trong địa thực hóa những ý tưởng kiểm soát lực lượng
    phương… Do đó, vì tình riêng làng nước, quan lại địa phương nằm trong những tính
    khó lòng khỏi sự tư túi sinh ra nhiều tệ toán chính trị của hoàng đế- thì không có
    hại…”4. Những điều đó đặt ra cho Minh quy định bắt nguồn từ tục lệ trong dân gian,
    Mạng hai thử thách lớn: (i) cải cách toàn mà chỉ có luật và lệ do nhà vua ban hành.
    diện bộ máy hành chính, tạo ra một hệ thống Đối với triều Nguyễn, bộ luật chính thức
    quan liêu tuyệt đối phục tùng nhà vua và duy nhất là Hoàng Việt Luật Lệ (thường
    quyền lực trung ương, và (ii) ngăn chặn được gọi tên là Luật Gia Long, phân biệt với
    tham nhũng xảy ra trong bộ máy này. Luật Hồng Đức đời vua Lê Thánh Tông) ra

    4 Nguyễn Sĩ Giác (dich), Đại Nam điển lệ toát yếu, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1962. Xem Điều 97 “Hồi tỵ”.
    5 Nguyễn Hiến Lê (dịch), Luận Ngữ, Chương Vệ Linh Công (XV.21), Luận ngữ và Khổng Tử, Nxb. Văn
    Học, 2003. Xem tại: https://nigioikhatsi.net/kinhsach-pdf/LuanNguKhong%20Tu-NguyenHienLe.pdf , truy
    cập ngày 22/4/2020.
    6 Nho giáo đầu triều Nguyễn có mức độ độc tôn không thua kém thời Lê Sơ. Văn minh Hán được coi là khuôn
    thước, và triều đình nhà Nguyễn đã vô cùng tự hào nhận Việt Nam trở thành những “người Hán” đích thực
    duy nhất khi nhà Thanh (gốc mãn Châu, tức theo cách phân loại Hoa-Di thì là Di, người kém văn minh) cai
    trị Trung Hoa. Việt Nam – theo quan điểm của triều đình Minh Mạng – lúc bấy giờ là nơi duy nhất vừa bảo
    lưu dòng máu “Hán truyền” – hậu duệ của Thánh đế Thần Nông, vừa vẫn học theo Khổng, Mạnh, Trình,
    Chu, tuân thủ chặt chẽ theo chế độ, lễ giáo từ xưa của Chu, Hán, Đường, Tống. Xem thêm: Lý Văn Phức,
    “Di biện”, Chu nguyên tạp vịnh thảo, Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.2258, tr.18b.
    7 “Lệnh” dưới triều Lê hay “Lệ” dưới triều Nguyễn thì đều là những điều luật mới do nhà vua ban hành, dựa
    theo một việc xét xử rất điển hình nào đó.

    10 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 15 (415) – T8/2020

  4. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    đời năm 18158, lại không có quy định hồi tỵ tắc hồi tỵ chặt chẽ đã được đặt ra, bao trùm
    nào. Các quy định hồi tỵ dưới triều Nguyễn lên nhiều lĩnh vực hoạt động của bộ máy
    chỉ có nguồn là những lệ được đặt thêm, cụ nhà nước. Cụ thể, trong sách Khâm định
    thể là là từ đời Minh Mạng trở đi. Đại Nam hội điển sự lệ (Tập 3),9 các quy
    – Nội dung Luật hồi tỵ triều Nguyễn định hồi tỵ được ban hành dưới triều Minh
    Bắt đầu từ triều Minh Mạng, nhiều quy Mạng gồm:

    – Năm 1822, quy định: “Từ này về sau phàm quan viên ở các thành, doanh, trấn về
    Kinh vào chầu, thì chuẩn cho từ tham biện trở lên được dự đình nghị, nếu trong khi đang
    bàn gặp có việc can thiệp đến hạt ấy theo lễ trên nên tránh mặt thì cũng cho tránh mặt”.
    – Năm 1823, quy định: “Từ nay các quan viên mọi thành, doanh, trấn được dự đình
    nghị nếu trong khi hội bàn gặp có việc can thiệp đến nha môn ấy mà lẽ nên hồi tỵ thì cũng
    cho hồi tỵ”.
    – Năm 1825, quy định: “Từ nay gặp có công việc án giao bộ (Lại) tra bàn, nếu người
    bị phân xử hiện là quan trên ở trong bộ thì cho hồi tỵ, nếu là quan trên cũ không cần phải
    hồi tỵ”.
    – Năm 1830, quy định “Các lại dịch thuộc bộ, hễ có bố, con cùng anh em ruột, anh
    em chú bác cùng làm ở 1 bộ, đều cho trích ra đổi bổ đi nha môn khác. Lại các nha môn
    trong Kinh và ngoài các tỉnh phàm có việc giống như thế đều nên cứ thực tâu rõ không
    nên vì tình riêng mà che chở”.
    – Năm 1831, quy định: “Viện Thái Y có những người thân thuộc cùng thuộc một nha,
    viện ấy chuyên giữ việc phương thuốc, chẳng phải ví như nha khác, đều vẫn để chức dịch
    cũ không cần hồi tỵ. Trước đây các thông phán, kinh lịch ở các trấn, phần nhiều lấy người
    trong hạt sung bổ, khó khỏi có tình riêng với hương ty sẵn cớ làm tệ. Vậy nay cho phàm
    những người làm thông phán, kich lịch ở hạt mình đều đổi đi hạt khác”.
    – Năm 1834 quy định: “Những chức tri sự, lại mục phủ, huyện ở các tỉnh từ trước đặt
    bổ còn có người cùng hạt một nha xin đều do quan tỉnh ấy thẩm tra đổi đi nơi khác. Nhưng
    lũ tri sự, lại mục ở phủ, huyện các địa phương, trước đình thần đã bàn xin, hoặc có người
    cùng hạt, thì đều tra hạch đổi bổ đã chuẩn cho thi hành. Nay nghĩ tất cả các địa phương
    cũng có người cùng hạt, đều tra hạch đổi bổ đã chuẩn cho thi hành. Nay nghĩ tất cả các
    địa phương cũng có người cùng hạt, duy có 1 phủ ấy, nếu lấy là quê quán ở cùng 1 phủ
    đều bắt hồi tỵ cả, thì sẽ không có chỗ thiếu để đổi đi. Vậy lại chuẩn định, phàm các địa
    phương tỉnh nào từ 2 phủ trở lên, thì những trị sự, lại mục thuộc phủ vẫn xét quê quán đổi
    bổ, duy tỉnh nào có 1 phủ thì những tri sự, lại mục trừ người nào quê ở huyện mà phủ ấy
    kiêm lý thì đổi bổ ngay, nếu chỉ là quê ở thuộc huyện thì vẫn cho ở cùng chức như cũ cho
    giản tiện, không cần đổi đi nơi khác”.
    – Năm 1837 quy định: “Quan lại ở dịch, phủ, huyện, nên do các tổng đốc, tuần phủ,
    bố án, án các tỉnh hội đồng tra xét. Những lại mục, thông lại các nha thuộc hạt, phủ, ba
    năm trở lên, thì chuyển bổ đi nha khác ngay, ai là quê ở cùng phủ, huyện cũng cho chuyển
    bổ ngay, đều do quan tỉnh cấp bằng việc cho đỡ phiền phức”.
    – Cùng vào năm 1837 có chỉ: “Đình thần chọn cử Nguyễn Song Thanh là lang trung
    làm biện lý bộ vụ thăng thự bố chính sứ Định Tường, sớ dâng lên đã phê là đang nhận, lại
    nghĩ viên ấy lúc tuổi trẻ đã từng đi học ở Nam Kỳ lâu ngày quen biết cũng nhiều nay nếu

    8 Một số ý kiến khác cho rằng Luật Gia Long ban hành vào năm 1812.
    9 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Tập 3), Nxb. Thuận Hóa, 1993. Xem tại các
    trang 390-393.
    NGHIÊN CỨU
    Số 15 (415) – T8/2020 LẬP PHÁP 11

  5. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    bổ làm chức tư mục (quan cai trị) ở đấy thực thấy chẳng tiện. Vậy chức bố chính Định
    Tường còn khuyết cho lấy thự bố chính Bình Định là Hà Đăng Khoa bổ thụ ngay. Nay viên
    ấy hiện sung làm phó chủ khảo trường thi Gia Định, cho đợi việc trường thi xong tức thì
    đến nhận chức mới mà làm việc. Còn Nguyễn Song Thanh cho đổi làm thự bố chính sứ
    Bình Định cho hợp sự thể, và bố, án đều làm quan to 1 địa phương, chức dùng quan hệ
    chẳng phải là nhỏ. Từ này phàm đình thần có cử người nào trừ ngoại lệ ở chính quán nên
    phải hồi tỵ, còn người tuy không phải là chính quê mà có nơi ở ngụ hoặc làng mẹ, làng vợ,
    cùng nơi du học lúc trẻ tuổi, có một trong những điều ấy tức phải bày tỏ rõ ràng tâu lên
    đợi Chỉ, không nên hàm bổ như trước”.

    Tiếp theo, trong Đại Nam điển lệ toát tức thì phải dời bổ đi nơi khác”.
    yếu , cũng chép thêm quy định hồi tỵ khác
    10
    Luật hồi tỵ không chỉ được phát triển
    do Minh Mạng đặt ra: “Lệ năm Minh Mạng bởi Minh Mạng. Các triều đại kế tiếp không
    thứ mười bảy định rằng phàm các chức lại chỉ vẫn duy trì áp dụng, mà còn có nhiều quy
    mục, thông lại ở một phủ huyện nào, mà là định bổ sung, mở rộng hơn các quy định này.
    người cùng một làng, cùng là viên nào làm Vẫn trong Khâm định Đại Nam hội điển
    việc ở một nha môn đã được ba năm trở lên, sự lệ (phần Chính chép đến đời Tự Đức năm
    tức thì phải chuyển bổ đi nha khác. Những 1851, phần Tục biên chép tiếp từ năm 1852
    viên chức nào nguyên quán ở phủ huyện ấy, đến năm 1889) chép:
    – Đời Thiệu Trị, năm 1844 có quy định: “Về sau là các nha môn lớn nhỏ ở trong Kinh
    và ngoài các tỉnh, nếu trong mỗi nha mà có thân thuộc phải để tang từ 3 tháng trở lên,
    cùng là những nha có tình thông gia, về bên gái có bố mẹ chồng, về bên trai có bố vợ,
    cùng là anh chị em vợ, hễ tương đối có tình thân hậu như thế đều cho hồi tỵ. Còn không
    phải là họ hàng xa, họ hàng với vợ chẳng có thân thiết cùng quyến thuộc với thông gia
    hay anh em nhà vợ lẽ, và cùng quê cùng quán thì tuy cùng thuộc 1 nha cũng cho miễn hồi
    tỵ. Còn như 2 ty phiên, niết ở các trực tỉnh đều có chuyên trách, tựu trung 2 ty phiên, niết
    ở các trực tỉnh đều có chuyên trách, tựu trung 2 ty ấn ấy quan và tá lại mọi người mọi việc
    phần nhiều có tương quan, nếu thuộc vào những loại trên nên cho hồi tỵ”.
    – Đời Tự Đức, năm 1857, quy định: “Trong một tổng không được chọn một người trong
    cùng một xã cùng làm Chánh, Phó tổng; trong một tổng hay trong một xã không được chọn
    người có thân thuộc “cơ phục” cùng làm Chánh, Phó tổng. Lý trưởng cũng không được có
    liên hệ hôn nhân. Trước đây nếu có trường hợp như vậy thì sức cho bắt phải hồi tỵ thôi
    chức. Nay về sau nếu xem thường phạm tội này, viên Chánh, Phó tổng, Lý trưởng đó bị chiếu
    theo luật “vi chế” mà xét xử, viên phủ, huyện kiểm tra để cử bị luận vào tội “thất sát”.
    – Đời Tự Đức, năm 1882, quy định: “Theo lệ phải hồi tỵ, người nào như đã phân ty
    cho phép thượng cấp ở đấy chuyển cải. Còn như nha nào chỉ có một ty thì tư cho Bộ Lại
    để du di bổ đi nơi khác”.
    – Đời Đồng Khánh, năm 1887, quy định: “Từ này về sau, phàm văn võ ấn quan ở trong
    cùng một vệ, một tỉnh những người nào có quê quán cùng một huyện, thường ngày vốn thân
    thiết, phải hồi tỵ. Lại ở cùng một Bộ, một tỉnh mà người cùng một hạt, hoặc cùng làm việc
    một nơi 4 người mà đến 3 người cùng hạt cùng phải hồi ti. Còn như quê quán mẹ, quê quán
    vợ thì đến lúc cần cứ thực sự trình rõ, nên giữ lại chức hay nên cải điều xin chờ chỉ. Còn

    10 Nguyễn Sĩ Giác (dich), Đại Nam điển lệ toát yếu, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1962.

    12 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 15 (415) – T8/2020

  6. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    lại xin tuân theo lệ định vào năm Thiệu Trị thứ 4 mà thi hành cho có quy định thống nhất”.
    – Đời Thành Thái, năm 1890: “Lệ năm Thành Thái thứ hai định rằng sang năm sau
    đến kỳ thi Hương, các tỉnh các đạo phải xét rõ các quan Tỉnh và quan Đốc học, cùng các
    viên Phủ, Huyện, các viên giáo thụ, Huấn đạo, Thông phán, Kinh lịch, viên nào vốn là tiến
    sĩ, phó bảng và cử nhân xuất thân, với lại các cử nhân còn ở nhà (chưa ra làm quan), trừ
    những viên chức nào có duyên cớ gì ra, còn thì người nào có thân thích ứng thi, theo lệ
    phải hồi tỵ, đều phải chú cước rõ ở dưới họ tên, rồi phải nội trong một tháng, kê khai đủ
    chức hàm, tên họ và quan chỉ, đệ trình vào Bộ, để kịp thì giờ lựa chọn làm khảo quan, cử
    hành việc trường” (Đại Nam hội điển sự lệ toát yếu).
    3. Những khía cạnh pháp lý của Luật Hồi – Đối tượng áp dụng
    tỵ triều Nguyễn Các quy định hồi tỵ được đặt ra để
    Qua nghiên cứu các quy định hồi tỵ nêu điều chỉnh việc tuyển lựa, bổ nhiệm quan
    trên, chúng ta có thể rút ra một số kết luận chức nói riêng và các nhân viên nhà nước
    quan trọng như sau: nói chung.
    – Phạm vi áp dụng – Nguyên tắc xây dựng quy định
    Các quy định hồi tỵ được áp dụng bao Đặt ra quy định hồi tỵ vẫn phải đảm bảo
    trùm cho mọi lĩnh vực hoạt động của bộ máy tính hợp lý, hiệu quả hoạt động của bộ máy
    nhà nước: từ tuyển bổ nhân sự cho đến công nhà nước. Các quy định này không được áp
    vụ hành chính, hoạt động xét xử, thậm chí là dụng cho những công việc có tính chuyên
    cả việc thảo luận trong triều về một vấn đề môn cao, chẳng hạn như công việc trong
    của một địa phương. Trong bối cảnh của một Viện Thái Y (cơ quan chuyên trách về y tế)11.
    nhà nước quân chủ, quyền lập pháp tập trung Có quy định cân nhắc đến đặc thù của địa
    trong tay nhà vua thì có thể kết luận rằng, phương để điều chỉnh cho hợp lý, như quy
    Luật Hồi tỵ chỉ áp dụng trong hệ thống các định của vua Minh Mạng năm 1834: “…duy
    cơ quan hành chính, xét xử và sự vận hành tỉnh nào có 1 phủ thì những tri sự, lại mục
    nằm trong tay quan lại. Luật hồi tỵ thể hiện trừ người nào quê ở huyện mà phủ ấy kiêm
    những lo lắng của nhà vua đối với đội ngũ lý thì đổi bổ ngay, nếu chỉ là quê ở thuộc
    dưới quyền mình: những người quản lý có huyện thì vẫn cho ở cùng chức như cũ cho
    thể vượt quá quyền hạn được trao, và những giản tiện, không cần đổi đi nơi khác”. Lại có
    vị quan phán án có thể không xét xử theo quy định tùy nghi, áp dụng theo từng trường
    luật lệ và công bằng. hợp, chẳng hạn quy định đặt ra cho việc Đình
    Ngoài ra, có thể thấy các quy định hồi Nghị12 như quy định ban hành vào các năm
    tỵ được áp dụng chủ yếu đối với các cơ quan 1822, 1823. Các biện pháp hồi tỵ đã được cân
    nhà nước tại địa phương. Càng ở cấp địa nhắc kỹ lưỡng để không ảnh hưởng đến hiệu
    phương thấp hơn (gần dân hơn), thì nguy cơ quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
    xảy ra nạn bè phái, thân thích liên kết với Điểm thành công nhất của Luật Hồi tỵ
    nhau càng lớn, quy định hồi tỵ càng chặt chẽ. là đã nhận ra quy luật: các cơ quan địa

    11 Cũng phải nhìn nhận đặc thù công việc nghề y xưa kia thường là cha truyền con nối, các thầy thuốc truyền
    đời kinh nghiệm hoặc các bài thuốc quý cho con trai hoặc học trò thân tín nhất. Vậy áp dụng luật hồi tỵ sẽ
    không phù hợp.
    12 Định chế do Minh Mạng phát triển năm 1820 trên cơ sở định chế Công Đồng từ đời vua Gia Long, gồm các
    quan từ tam phẩm trở lên (thời Minh mạng), có nhiệm vụ quyết định các công việc quan trọng mà riêng
    một Bộ không tự quyết được, hoặc xử lại kiện tụng ở địa phương mà đương sự không phục. Sau này, Minh
    Mạng lập Tam Pháp Ty ( năm 1831) để lo việc tư pháp, định chế Đình Nghị giữ lại vai trò là cơ quan hành
    pháp cao nhất. Xem thêm: Nguyễn Minh Tuấn, Mai Văn Thắng và Phạm Thị Duyên Thảo (đồng chủ biên),
    Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017, tr. 214-217.
    NGHIÊN CỨU
    Số 15 (415) – T8/2020 LẬP PHÁP 13

  7. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    phương cấp dưới trong tổ chức bộ máy hành Thứ nhất, truyền thống coi trọng gia
    chính, đặc biệt là cấp cơ sở, nguy cơ xảy ra đình, dòng họ, thân hữu vừa có mặt tích cực
    tham nhũng càng cao, các quy định càng cần và vừa có mặt tiêu cực, tuỳ thuộc vào mối
    chặt chẽ đầy đủ. Các cơ quan hành chính cấp quan hệ cụ thể.
    cơ sở đồng thời cũng là những cơ quan trực Luật pháp của quốc gia không những
    tiếp giải quyết hầu hết các công việc có liên phải phản ánh trung thực tất cả các điều kiện
    quan mật thiết với cuộc sống của người dân, xã hội hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là các
    và gần với quan sát của người dân nhất; do điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa. v.v.. mà
    đó, phòng, chống tham nhũng ở cấp cơ sở là còn phải phù hợp với tinh thần và truyền
    đặc biệt quan trọng: vừa hạn chế nhiều nhất thống dân tộc. Luật Hồi tỵ một mặt phản ánh
    số vụ, cũng như tác hại của tham nhũng, vừa thực tế từ trong truyền thống người Việt luôn
    là cách trực tiếp nhất duy trì uy tín của nhà coi trọng tình cảm, đạo nghĩa gia đình, dòng
    nước trong mắt người dân. tộc, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Đề
    Các quy định hồi tỵ triều Nguyễn đã tính cao tình cảm gia đình, đề cao dòng tộc, huyết
    đến hầu hết các tình huống rủi ro cao trong thống vẫn là những nét tính cách nổi trội và
    hoạt động công vụ và đưa ra biện pháp ngăn rõ ràng trong tâm thức người Việt. Nếu chỉ
    chặn. Những quy định này cũng được xây dừng lại trong phạm vi gia đình, dòng tộc thì
    dựng có cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng nhằm đây là truyền thống hết sức tốt đẹp. Tuy
    cân bằng được với hiệu quả hoạt động của nhiên, trong quan hệ công vụ, nếu đưa quan
    bộ máy. hệ gia đình, dòng tộc, thân hữu lấn sân sang
    – Biện pháp đảm bảo thi hành hoạt động công, nó có nguy cơ tiềm ẩn tạo
    Các quy tắc hồi tỵ thời kỳ này có một ra sự cục bộ, tham nhũng. Chính vì vậy, cần
    điểm yếu là không có biện pháp bảo đảm thi xác định rõ trong quan hệ gia đình thì việc
    hành trực tiếp hoặc chế tài rõ ràng cho sự coi trọng gia đình, dòng tộc, bạn hữu là
    vi phạm. Các quy định hầu hết mang tính truyền thống tốt đẹp. Trong quan hệ công vụ,
    chất khuyên răn: “nên tránh mặt thì cũng việc giải quyết công việc dựa trên quan hệ
    cho tránh mặt”; “nên hồi tỵ thì cũng cho hồi gia đình, dòng tộc, bạn hữu là việc cần tránh,
    tỵ”, “cho hồi tỵ”, “không nên vì tình riêng
    cần ngăn chặn.
    mà che chở”. Biện pháp thực hiện chủ yếu
    là: “đổi bổ đi nha môn khác”, “đổi đi hạt Điều 19 và Điều 390 Bộ luật Hình sự
    khác”. Hầu như không có một quy định nào năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm
    cụ thể về việc vi phạm Luật Hồi tỵ thì sẽ 2017 quy định: người không tố giác là ông,
    chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào. Điều bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ
    đó khiến cho giá trị của các quy định hồi tỵ hoặc chồng của người phạm tội không phải
    giảm đi đáng kể trong ngăn ngừa tham chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại
    nhũng; trong khi đó, xử lý các vụ tham Điều 390, chỉ trừ các tội xâm phạm an ninh
    nhũng là một mối quan tâm lớn ngay từ thời quốc gia và tội đặc biệt nghiêm trọng khác.
    Gia Long13. Như vậy, ngay cả đối với các tội phạm là
    4. Vận dụng kinh nghiệm của Luật Hồi tỵ những hành vi xâm phạm nghiêm trọng nhất
    trong phòng, chống tham nhũng ở nước trật tự xã hội, Nhà nước cũng nhận biết rằng
    ta hiện nay không thể tránh khỏi do tình cảm gia đình,
    Qua nghiên cứu về Luật Hồi tỵ triều huyết thống mà người ta có thể bỏ qua, thậm
    Nguyễn, có thể rút ra một số bài học kinh chí giúp đỡ, bao che cho người phàm tội. Rõ
    nghiệm có thể vận dụng trong phòng, chống ràng một khía cạnh khác của truyền thống đề
    tham nhũng ở nước ta hiện nay như sau: cao gia đình, dòng tộc là nguy cơ ảnh hưởng

    13 Luật Gia Long đã coi tệ tham nhũng là một nội dung quan trọng của luật. Xem Trương Hữu Quỳnh (chủ
    biên), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb. Giáo Dục, 2002, tr.443.

    14 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 15 (415) – T8/2020

  8. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    tiêu cực đến lợi ích công đã được pháp luật luật đã quy định) với người tham gia tố tụng
    trù liệu. hoặc kể cả với người tiến hành tố tụng (như
    Thứ hai, cần bổ sung các chế tài và việc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
    những điều kiện đảm bảo cho việc thực thi không được quen biết hoặc “căn cứ cho
    các quy định liên quan đến “hồi tỵ” thời rằng” người tiến hành tố tụng đó “không vô
    hiện đại. tư khách quan”; các quy tắc cấm người có
    Căn cứ vào tính chất, mức độ của việc chức vụ, quyền hạn không được bố trị người
    vi phạm các quy định về “hồi tỵ” mà có thể nhà vào những vị trí quan trọng hoặc nguy
    bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính cơ cao trong cơ quan mình như kế toán, thủ
    hoặc xử lý hình sự. Ngoài ra, cần đảm bảo quỹ, thủ kho… hoặc không được thành lập,
    những điều kiện thiết yếu để những quy định tham gia điều hành doanh nghiệp hoặc góp
    liên quan đến “hồi tỵ” thời hiện đại phát huy vốn cho doanh nghiệp có người thân thích
    nắm vai trò chủ chốt hoặc doanh nghiệp
    tác dụng đó là cần phải có quy định của pháp
    trong lĩnh vực mình đang quản lý. Những
    luật chặt chẽ, đầy đủ; có cơ chế thanh tra,
    quy định đó cho thấy, bằng cách này hay
    kiểm tra, xử lý nghiêm mọi trường hợp vi
    cách khác pháp luật hiện hành đã có sự “lồng
    phạm; có đủ những điều kiện về cơ sở vật
    ghép” vấn đề hồi tỵ. Điều này cho thấy trong
    chất, kỹ thuật, nhân lực, trang thiết bị cần tương lai, việc lồng ghép này cần phải tiếp
    thiết hỗ trợ cho việc phát hiện, xử lý vi tục được vận dụng để nâng cao hiệu quả của
    phạm. Có như vậy, những quy định về hồi tỵ hoạt động phòng, chống tham nhũng, chống
    thời hiện đại mới có khả năng hiện thực hoá lại nguy cơ cục bộ địa phương, cục bộ
    trên thực tế. ngành, cục bộ Bộ.
    Thứ ba, cần tiếp tục đẩy mạnh việc lồng Thứ tư, cần tiếp tục nghiên cứu áp dụng
    ghép các quy định về hồi tỵ trong các văn bản các quy tắc hồi tỵ ở phạm vi rộng hơn hiện nay.
    pháp luật để nâng cao hiệu quả của hoạt động Hiện nay, chúng ta đang áp dụng các
    phòng, chống tham nhũng, chống lại nguy cơ loại hình công cụ pháp lý trong phòng,
    cục bộ địa phương, cục bộ ngành, Bộ. chống tham nhũng, nhưng hiện tượng “gia
    Thực tế, gia đình trị, chủ nghĩa thân hữu, đình trị” vẫn còn xày ra ở các cơ quan nhà
    sự thiên vị là một vấn đề không phải của nước cấp địa phương đến cấp tỉnh, thành
    riêng một đất nước, nền văn hóa nào, mà là phố15. Đây là một yếu tố khiến niềm tin của
    một vấn đề phổ biến và đã được quan tâm, người dân vào chính quyền suy giảm. Nghi
    nghiên cứu rộng rãi trên thế giới14. Khảo cứu vấn của người dân không phải là không có
    pháp luật hiện hành cho thấy, những quy tắc căn cứ, và những biện pháp ngăn chặn cho
    mang tính hồi tỵ đã được đặt ra từ lâu, chẳng các tình huống như vậy cần phải được hiện
    hạn các quy định thay đổi người tiến hành tố thực. Xuất phát từ thực tế này, chúng tôi cho
    tụng vì lý do có mối quan hệ thân thiết (mà rằng, việc tiếp tục nghiên cứu áp dụng các

    14 Tham khảo: Susan Morrison, Chapter 11: Leadership behaviour in the context of Nepotism, Cronyism and
    Favouritism: A review of the literature, Leadership for Improvement:Perceptions, Influeneces and Gender
    Differences, Nova Sience Publisher, Inc., 2017. Xem tại: https://www.researchgate.net/profile/
    Kurmet_Kivipld/ publication/320830285_Leadership_Behaviour_in_the_Context_of_Nepotism_Cronyism_
    and_Favouritism_A_Review_of_the_Literature/links/5a70375b458515015e624583/Leadership-
    Behaviour-in-the-Context-of-Nepotism-Cronyism-and-Favouritism-A-Review-of-the-Literature.pdf, truy
    cập ngày 26/4/2020.
    15 Chẳng hạn, vụ việc liên quan đến ông Triệu Tài Vinh, nguyên bí thư tỉnh Hà Giang năm 2018, hay vụ việc
    liên quan ông Nguyễn Văn Trình, nguyên Chủ tịch Liên đoàn lao động tỉnh Bắc Ninh năm 2016, hoặc ở
    cấp huyện như vụ việc liên quan đến ông Lê Văn Sang, bí thư huyện Mỹ Đức, Hà Nội năm 2015, cho đến
    cấp xã, phường, thị trấn như vụ việc liên quan đến ông Lê Quốc Chiến, bí thư xã Bắc Son, An Dương, Hải
    Phòng đầu năm 2020.
    NGHIÊN CỨU
    Số 15 (415) – T8/2020 LẬP PHÁP 15

  9. NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

    quy tắc hồi tỵ ở phạm vi rộng hơn hiện nay cả là trách nhiệm giải trình của mỗi cán bộ
    là cần thiết. cấp dưới phần nào phụ thuộc vào người lãnh
    Thứ năm, cần ngăn chặn mối quan hệ đạo cơ quan cấp trên.
    giữa nhiều cá nhân có quan hệ thân thiết Tóm lại, hồi tỵ là một biện pháp đáng
    trong nhiều cơ quan ở một địa phương. được nghiên cứu thêm với tư cách là một
    Các quy định mang tính hồi tỵ như vừa công cụ bổ sung hữu hiệu nhằm hạn chế
    đề cập trên đã góp phần đáng kể vào việc nguy cơ tham nhũng xảy ra trong bộ máy
    ngăn chặn tham nhũng xảy ra trong nội bộ nhà nước Việt Nam hiện đại, mà đặc biệt như
    một cơ quan. Tuy nhiên, một vấn đề khác là vừa đề cập là là phòng, chống tham nhũng ở
    mối quan hệ giữa nhiều cá nhân có quan hệ cấp địa phương. Định hướng mở rộng áp
    thân thiết trong nhiều cơ quan ở một địa dụng và phát huy vai trò của các quy tắc hồi
    phương dường như lại chưa được tính toán tỵ sẽ là: nhìn nhận nguy cơ ở các mối quan
    một cách toàn diện. Chúng tôi cho rằng, sự hệ không chỉ giới hạn trong nội bộ cơ quan
    hiện diện của những người có quan hệ thân mà ở nhiều cơ quan hành chính tại cùng một
    thiết với nhau trong các vị trí lãnh đạo ở địa phương; đồng thời, tiếp tục củng cố các
    nhiều cơ quan của bộ máy chính quyền là quy định của pháp luật khác về kiểm tra,
    một nguy cơ tham nhũng, hoặc ở mức độ giám sát bổ nhiệm cán bộ và thi tuyển, bổ
    thấp nhất là nguy cơ bộ máy hoạt động kém nhiệm công chức, đảm bảo hiệu quả của
    hiệu quả. Bởi lẽ, một tính chất nền tảng của những biện pháp hồi tỵ, bao gồm nhưng
    bộ máy hành chính là trật tự thứ bậc chiều không giới hạn ở việc công khai hóa, minh
    dọc,16 tinh thần làm việc và quan trọng hơn bạch hóa quy trình n

    16 Xem thêm: Phạm Hồng Thái (chủ biên), Giáo trình Luật hành chính, Nxb. Đại học Quốc gia, 2017, tr.114 – 117.

    nhà nước pháp quyền… (Tiếp theo trang 7)

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính
    trị quốc gia, Hà Nội 2016.
    2. Trần Ngọc Đường, Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp
    chí Tuyên giáo, ngày 2/1/2016, http://tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-
    song/xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-83808.
    3. Lương Đình Hải, Xây dựng nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hoá xã hội ở nước
    ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 1 (176), tháng 1-2006.
    4. Trần Đại Quang, “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của
    nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”, www.nhandan.com.vn, 2017.
    5. Lưu Ngọc Tố Tâm, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong xu
    thể hội nhập và phát triển, Tạp chí Tổ chức nhà nước, ngày đăng 12/04/2018.
    6. Rule of Law, tại https://www.lexico.com/en/definition/rule_of_law, truy cập ngày
    25/10/2019.
    7. Brian Tamanaha (2007), “A Concise Guide to the Rule of Law”, tại
    http://ssrn.com/abstract=1012051, truy cập ngày 28/10/2019.
    8. The World Justice Project, tại: http://worldjusticeproject.org/about-us/overview/what-
    rule-law, truy cập ngày 25/10/2019.

    16 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 15 (415) – T8/2020

Download tài liệu Luật hồi tỵ triều Nguyễn và những giá trị tham khảo trong phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay File Docx, PDF về máy