[Download] Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy – Tải về File Word, PDF

Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy

Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy
Nội dung Text: Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy

Download


Hiện đang bước vào mùa kinh doanh cao điểm nên các doanh nghiệp ngành giấy không thể giảm năng suất sản xuất. Hầu hết các doanh nghiệp đều khẳng định, nếu giá nguyên liệu giấy vẫn tiếp tục căng thẳng thì việc tiếp tục điều chỉnh giá sản phẩm từ giấy tăng trong thời gian tới là khó thể tránh khỏi dù doanh nghiệp luôn nêu cao tinh thần tiết kiệm chi phí sản xuất, chấp nhận giảm lợi nhuận. Đứng trước tình hình căng thẳng của thị trường giấy và bột giấy như hiện nay thì việc xây dựng nhà máy là cần thiết. Tham khảo bài thuyết minh dự án “Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất giấy và bột giấy” dưới đây để hiểu hơn về vấn đề này.

Bạn đang xem: [Download] Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy File Word, PDF về máy

Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy

  1. CÔNG TY TNHH DƯƠ NG CH ẤN
    

    THUYẾT MINH
    DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 
    NHÀ MÁY SẢN XUẤT

    GIẤY VÀ BỘT GIẤY
    

    ĐỊA ĐIỂM:  KHU CÔNG NGHI ỆP ĐÔNG QUẾ SƠN, HUY ỆN QU Ế SƠN,
                                                        T ỈNH QU ẢNG NAM
    CHỦ ĐẦU TƯ:   CÔNG TY TNHH DƯƠ NG CH ẤN
                                  

  2. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHỦ ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN

    I.1. Giới thiệu chủ đầu tư
    – Tên Công Ty : 
    – Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 
    – Giấy chứng nhận đăng ký thuế
    – Trụ sở công ty : Bình Dương.
    – Đại diện pháp luật công ty:       Di động: 
    – Chức vụ: Giám đốc công ty.
    – Điện Thoại:                         Fax : 
    – Email : .
    – Mã số thuế : 

    I.2. Mô tả sơ bộ dự án
    – Tên dự án   :     Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất giấy và bột giấy .
    – Địa điểm : Khu Công nghiệp Đông Quế Sơn, Quảng Nam.
    – Hình thức đầu tư : Đầu tư xây dựng mới .

    I.3. Các văn bản pháp quy về quản lý đầu tư
    – Luật   Xây   dựng   số   16/2003/QH11   ngày   17/6/2003   của   Quốc   Hội   nước  
    CHXHCN Việt Nam;
    – Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội nước CHXHCN  
    Việt Nam;
    – Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc Hội nước CHXHCN 
    Việt Nam;
    – Luật   Doanh   nghiệp  số   60/2005/QH11  ngày   29/11/2005   của   Quốc   Hội   nước 
    CHXHCN Việt Nam;
    – Luật   Đấu   thầu   số   61/2005/QH11   ngày   29/11/2005   của   Quốc   Hội   nước  
    CHXHCN Việt Nam;
    – Luật Kinh doanh Bất động sản 63/2006/QH11 ngày 29/6/2006 của Quốc Hội  
    nước CHXHCN Việt Nam;
    – Luật   Nhà   ở   56/2005/QH11   ngày   29/11/2005   của   Quốc   Hội   nước   CHXHCN  
    Việt Nam; 
    – Luật Thuế  thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc  
    Hội nước CHXHCN Việt Nam;
    – Luật  Bảo  vệ   môi  trường  số   52/2005/QH11  ngày  29/11/2005   của  Quốc   Hội  
    nước CHXHCN Việt Nam;
    – Bộ   luật   Dân   sự   số   33/2005/QH11   ngày   14/6/2005   của   Quốc   Hội   nước  
    CHXHCN Việt Nam;
    – Luật thuế Giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc Hội nước  
    CHXHCN Việt Nam;
    – Nghị định số 12/2009/NĐ­CP ngày 12/02/2009  của Chính phủ về việc Quản lý  
    dự án đầu tư xây dựng công trình.
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 2

  3. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    – Nghị  định số  124/2008 NĐ­CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính Phủ  về 
    thuế thu nhập doanh nghiệp;
    – Nghị định số 123/2008/NĐ­CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ Qui định chi tiết  
    thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng;
    – Nghị định số 80/2006/NĐ­CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc  
    qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường;
    – Nghị  định số  21/2008/NĐ­CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ  về  sửa đổi bổ 
    sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ­CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ 
    về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi  
    trường;
    – Công văn số 1779/BXD­VP ngày 16/08/2007 của Bộ Xây dựng về việc công bố 
    định mức dự toán xây dựng công trình ­ Phần Khảo sát xây dựng;
    – Thông tư  số  08/2006/TT­BTNMT ngày 08/9/2006 của Bộ  Tài nguyên và Môi 
    trường hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường 
    và cam kết bảo vệ môi trường;
    – Nghị  định số  12/2009/NĐ­CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ  về  việc Quản lý 
    dự án đầu tư và xây dựng công trình;
    – Nghị định số 209/2004/NĐ­CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về việc Quản lý 
    chất lượng công trình xây dựng và Nghị định số 49/2008/NĐ­CP ngày 18/04/2008 của 
    Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 2009/2004/NĐ­CP;
    – Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng kèm theo Quyết định 
    số 957/QĐ­BXD ngày 29/9/2009 của Bộ Xây dựng;
    – Nghị định số 99/2007/NĐ­CP ngày 13/06/2009 của Chính phủ về quản lý chi phí 
    đầu tư xây dựng công trình;
    – Các văn bản khác của Nhà nước liên quan đến lập Tổng mức đầu tư, tổng dự 
    toán và dự toán công trình

    I.4. Các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng
    1. Các tiêu chuẩn Việt Nam
    Dự  án đầu tư  xây dựng Nhà máythực hiện trên cơ  sở  những tiêu chuẩn, quy 
    chuẩn chính như sau:
    – Quy chuẩn xây dựng Việt Nam (tập 1, 2, 3 xuất bản 1997­BXD);
    ­     Quyết định số  04 /2008/QĐ­BXD ngày 03/4/2008. Ban hành Quy chuẩn kỹ 
    thuật Quốc gia về Quy hoạch xây dựng (QCVN: 01/2008/BXD);
    ­ TCVN 2737­1995 : Tải trọng và tác động­ Tiêu chuẩn thiết kế;
    ­ TCXD 229­1999 : Chỉ dẫn tính toán thành phần động của tải trọng gió theo  
    TCVN 2737 ­1995;
    ­ TCVN 375­2006 : Thiết kế công trình chống động đất;
    ­ TCXD 45­1978 : Tiêu chuẩn thiết kế nền nhà và công trình;
    ­ TCVN 5760­1993 : Hệ thống chữa cháy ­ Yêu cầu chung thiết kế lắp đặt và  
    sử dụng;
    ­ TCVN 5738­2001 : Hệ thống báo cháy tự động ­ Yêu cầu kỹ thuật;
    ­ TCVN 2622­1995 : PCCC cho nhà, công trình yêu cầu thiết kế;
    ­ TCVN­62:1995 : Hệ thống PCCC chất cháy bột, khí;
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 3

  4. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    ­ TCVN 6160 – 1996 : Yêu cầu chung về  thiết kế, lắp đặt, sử  dụng hệ  thống  
    chữa cháy;
    ­ TCVN 6305.1­1997 : (ISO 6182.1­92) và TCVN 6305.2­1997 (ISO 6182.2­93);
    ­ TCVN 4760­1993 : Hệ thống PCCC ­ Yêu cầu chung về thiết kế;
    ­ TCXD 33­1985 : Cấp nước ­ mạng lưới bên ngoài và công trình ­ Tiêu 
    chuẩn thiết kế;
    ­ TCVN 5576­1991 : Hệ thống cấp thoát nước ­ quy phạm quản lý kỹ thuật;
    ­ TCXD 51­1984 : Thoát nước ­ mạng lưới bên trong và ngoài công trình ­ 
    Tiêu chuẩn thiết kế;
    ­ TCXD 188­1996 : Nước thải đô thị ­Tiêu chuẩn thải;
    ­ TCVN 4474­1987 : Tiêu Chuẩn Thiết kế hệ thống thoát nước trong nhà;
    ­ TCVN 4473:1988 : Tiêu Chuẩn Thiết kế hệ thống cấp nước bên trong;
    ­ TCVN 5673:1992 : Tiêu Chuẩn Thiết kế hệ thống cấp thoát nước bên trong;
    ­ TCVN  4513­1998 : Cấp nước trong nhà;
    ­ TCVN 6772 : Tiêu chuẩn chất lượng nước và nước thải sinh hoạt;
    ­ TCVN 188­1996 : Tiêu chuẩn nước thải đô thị;
    ­ TCVN 5502 : Đặc điểm kỹ thuật nước sinh hoạt;
    ­ TCVN 5687­1992 : Tiêu chuẩn thiết kế thông gió ­ điều tiết không khí ­ sưởi 
    ấm;
    ­ TCXDVN 175:2005 : Tiêu chuẩn thiết kế độ ồn tối đa cho phép;
    ­ 11TCN 19­84 :  Đường dây điện;
    ­ 11TCN 21­84 :  Thiết bị phân phối và trạm biến thế;
    ­ TCVN 5828­1994 :  Đèn   điện  chiếu   sáng  đường   phố   ­   Yêu   cầu   kỹ   thuật  
    chung;
    ­ TCXD 95­1983 : Tiêu chuẩn thiết kế chiếu sáng nhân tạo bên ngoài công 
    trình dân dụng; 
    ­ TCXD 25­1991 : Tiêu chuẩn đặt đường dây dẫn điện trong nhà ở và công 
    trình công cộng;
    ­ TCXD 27­1991 : Tiêu chuẩn đặt thiết bị  điện trong nhà  ở  và công trình 
    công cộng;
    ­ TCVN­46­89 : Chống sét cho các công trình xây dựng;
    ­ EVN  : Yêu cầu của ngành điện lực Việt Nam (Electricity of  
    Viet Nam).

    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 4

  5. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    CHƯƠNG II: NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG

    II.1. Tổng Quan Nền Kinh Tế Việt Nam
    II.1.1. Tổng Quan Về Nền Kinh Tế Vĩ Mô Việt Nam:
      Năm 2009, trước tình hình khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế  thế  giới, 
    Việt Nam đã chuyển sang mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế và giữ  ổn định kinh 
    tế vĩ mô. Kinh tế Việt Nam năm 2009 bên cạnh những điểm sáng thể hiện thành tựu  
    đạt được vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Việc đánh giá, nhìn nhận lại 
    kinh tế Việt Nam năm 2009 để rút ra những bài học, chỉ rõ những thách thức và giải  
    pháp cho năm 2010 có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách  ở 
    Việt Nam. 
      Tăng trưởng kinh tế: Cần khẳng định rằng dưới tác động mạnh của khủng  
    hoảng kinh tế toàn cầu, quá trình suy giảm kinh tế của Việt Nam đã không kéo dài và  
    sự phục hồi tốc độ tăng trưởng đến nhanh.Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng trong quý 
    I/2009 sau đó liên tục cải thiện tốc độ   ở  các quý sau. Tốc độ  tăng GDP quý II đạt  
    4,5%, quý III đạt 5,8% và dự đoán quý IV sẽ đạt 6,8%.
      Các chỉ  số tăng trưởng cho các ngành cũng thể  hiện một xu hướng phục hồi rõ 
    rệt. Giá trị  sản xuất công nghiệp quý I đạt 3,2%, quý II tăng lên 7,6% và quý III là 
    8,5%. So với khu vực công nghiệp, thì khu vực dịch vụ chịu tác động ảnh hưởng của  
    suy thoái kinh tế thế giới ở mức độ thấp hơn. Nhìn chung, khu vực dịch vụ vẫn duy 
    trì tăng trưởng khá cao, tốc độ tăng trưởng trong quý I là 5,1%, trong quý II, 5,7% và 
    6,8% trong quý III. Căn cứ  kết quả  thực hiện 9 tháng đầu năm và triển vọng các 
    tháng tiếp theo,  tốc độ  tăng trưởng giá trị  khu vực dịch vụ   ước thực hiện cả  năm 
    2009 có thể đạt 6,5%. Đối với lĩnh vực nông nghiệp, do sản lượng lương thực năm  
    2008 đã đạt mức kỷ lục so với trước, nên ngành nông nghiệp tăng không nhiều trong  
    năm 2009. Uớc thực hiện giá trị  tăng thêm ngành nông, lâm, thủy sản tăng khoảng  
    1,9%.
    Như  vậy xu hướng phục hồi tăng trưởng là khá vững chắc và đạt được ngay từ 
    trước khi các gói kích cầu được triển khai trên thực tế. 
      Đầu tư  phát triển: Trong bối cảnh suy giảm kinh tế, những khó khăn trong sản  
    xuất kinh doanh và hiệu quả đầu tư kinh doanh giảm sút đã ảnh hưởng trực tiếp đến 
    các hoạt động đầu tư phát triển. Trước tình hình đó, Chính phủ đã thực hiện các giải  

    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 5

  6. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    pháp kích cầu đầu tư, tăng cường huy động các nguồn vốn, bao gồm việc ứng trước  
    kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau, bổ sung thêm nguồn vốn trái 
    phiếu Chính phủ, vốn tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu, tín dụng đào tạo lại cho  
    người lao động bị  mất việc làm… Với những nỗ  lực đó, nguồn vốn đầu tư  toàn xã 
    hội năm 2009 đã đạt được những kết quả tích cực. Ước tính tổng đầu tư toàn xã hội  
    năm 2009 đạt 708,5 nghìn tỷ  đồng, bằng 42,2% GDP, tăng 16% so với năm 2008.  
    Trong đó, nguồn vốn đầu tư nhà nước là 321 nghìn tỷ  đồng, tăng 43,3% so với năm  
    2008; nguồn vốn đầu tư  của tư  nhân và của dân cư  là 220,5 nghìn tỷ, tăng 22,5%.  
    Những kết quả này cho thấy các nguồn lực trong nước được huy động tích cực hơn.  
    Tuy nhiên, trong khi các nguồn vốn đầu tư trong nước có sự  gia tăng thì nguồn vốn  
    FDI năm 2009 lại giảm mạnh. Tổng số vốn FDI đăng ký mới và tăng thêm ước đạt  
    20 tỷ  USD (so với 64 tỷ USD năm 2008), vốn thực hiện  ước đạt khoảng 8 tỷ  USD 
    (so với 11,5 tỷ  USD năm 2008). Tổng vốn ODA ký kết cả  năm  ước đạt 5,456 tỷ 
    USD, giải ngân đạt khoảng 3 tỷ USD.
    Chỉ số ICOR năm 2009 đã tăng tới mức quá cao, trên 8 so với 6,6 của năm 2008.  
    Bên cạnh đó còn xảy ra tình trạng chậm trễ  trong giải ngân nguồn vốn đầu tư  từ 
    ngân sách nhà nước và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, lãng phí, thất thoát vốn đầu  
    tư ở tất cả các khâu của quá trình quản lý dự án đầu tư. 
     Lạm phát và giá cả: Nếu như năm 2008 là năm chứng kiến một tốc độ lạm phát  
    cao kỷ  lục trong vòng hơn một thập kỷ  qua thì năm 2009 lại chứng kiến một mức  
    lạm phát  ở  mức dưới hai con số. Chỉ  số  giá tiêu dùng (CPI) cả  nước qua 10 tháng  
    đầu năm chỉ  tăng 4,49% so với tháng 12/2008. Đây là mức tăng chỉ  số  giá tiêu dùng 
    khá thấp so với những năm gần đây và là mức tăng hợp lý, không gây ảnh hưởng lớn 
    đến đời sống và sản xuất của người dân. Chỉ  số  CPI lương thực tăng nhẹ  trong 6 
    tháng đầu năm (0,59%) nhưng lại có xu hướng giảm trong những tháng cuối năm. 
    Lương thực, thực phẩm luôn là đầu tàu kéo lạm phát đi lên trong những năm 2007 và 
    2008 thì ở năm 2009 nhân tố này không còn đóng vai trò chính nữa.
    Tỷ  giá: Trong nhiều năm trở  lại đây, Ngân hàng nhà nước kiên trì chính sách  ổn 
    định đồng tiền Việt Nam so với đồng đô la Mỹ. Diễn biến tỷ giá trong năm 2009 là 
    tương đối phức tạp. Mặc dù NHNN đã điều chỉnh nâng tỷ giá liên ngân hàng và biên 
    độ từ + 3% lên + 5% vào tháng 4/2009, trên thị trường tự do giá ngoại tệ nhanh chóng  
    áp sát mức 18.300 đồng/đô la Mỹ và đến tháng 11 đã lên trên 19.000 đồng/đô la Mỹ.
    Càng về cuối năm tỷ  giá càng biến động và mất giá mạnh, thị  trường ngoại hối 
    luôn có biểu hiện căng thẳng, đồng thời USD tín dụng thì thừa, USD thương mại thì  
    thiếu Trong bối cảnh lạm phát có xu hướng gia tăng và tính không  ổn định trên thị 
    trường tiền tệ, đòi hỏi cần phải có sự lựa chọn linh hoạt cơ chế điều hành tỷ giá để 
    đạt được mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định thị trường tiền tệ.
    Thu chi ngân sách: Năm 2009, các giải pháp miễn, giảm, giãn thuế  kết hợp với  
    giảm thu từ dầu thô và giảm thu do suy giảm kinh tế đã làm cho nguồn thu ngân sách  
    bị giảm mạnh. Uớc tính tổng thu ngân sách cả năm đạt 390,65 nghìn tỷ đồng, xấp xỉ 
    so với mức dự toán (389,9 nghìn tỷ) và giảm 6,3% so với thực hiện năm 2008. Mặt  
    khác, nhu cầu và áp lực chi tăng lên cho kích thích tăng trưởng và đảm bảo an sinh xã  
    hội. Tổng chi ngân sách ước đạt trên 533 nghìn tỷ đồng, tăng 8,5% so với dự toán và 
    7,5% so với năm 2008. Tổng bội chi ngân sách  ước khoảng 115,9 nghìn tỷ  đồng,  
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 6

  7. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    bằng 6,9% GDP, cao hơn nhiều so với mức 4,95% của năm 2008 và   kế hoạch đề ra 
    (4,82%). 
    Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại: Năm 2009, tình hình xuất nhập khẩu  
    khẩu của Việt Nam gặp nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến  
    sự đình trệ sản xuất và hạn chế tiêu dùng ở những nước vốn là thị trường xuất khẩu  
    lớn của Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, EU…   Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2009 
    ước đạt khoảng 56,5 tỷ  USD, giảm 9,9% so với năm 2008 Tổng kim ngạch nhập 
    khẩu năm 2009 ước đạt 67,5 tỷ USD, giảm 16,4% so với năm 2008. Điều này phản 
    ánh những khó khăn của sản xuất trong nước do suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, trong  
    các tháng cuối năm, nhu cầu nhập khẩu có thể tăng lên khi các biện pháp hỗ trợ sản  
    xuất phát huy tác dụng. Mặc dù cả  kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu  
    đều giảm sút, nhưng do tốc độ  giảm kim ngạch xuất khẩu chậm hơn tốc độ  giảm 
    kim ngạch nhập khẩu, nên nhập siêu năm 2009 giảm xuống chỉ  còn khoảng 11 tỷ 
    USD, chiếm 16,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Như vậy, so với nh ững năm gần đây  
    cán cân thương mại đã có sự  cải thiện đáng kể, thể  hiện quyết tâm của chính phủ 
    trong việc kiềm chế  nhập khẩu những mặt hàng không cần thiết. Song mức nhập  
    siêu vẫn còn cao thể hiện việc phát triển các ngành công nghiệp phụ  trợ  và chuyển 
    dịch cơ cấu hàng xuất khẩu vẫn còn chậm.
      Bảo đảm an sinh xã hội: Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, có hiệu quả 
    các chính sách giảm nghèo, trong đó có chính sách hỗ trợ cho các hộ nghèo xây nhà ở, 
    vay vốn sản xuất, kinh doanh, cho vay học sinh, sinh viên, mua thẻ  bảo hiểm y tế.  
    Đồng thời, chính phủ cũng triển khai công tác hỗ trợ các hộ nghèo, hộ bị ảnh hưởng 
    thiên tai, bị thiệt hại về gia súc, gia cầm, vật nuôi để ổn định sản xuất và đời sống. 
    Ngoài ra, chính phủ  cũng đã tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ­
    CP của Chính phủ gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới; tổ chức, động viên  
    các doanh nghiệp, các tổ chức và cá nhân hỗ trợ các huyện nghèo thực hiện chương  
    trình này;  ứng trước vốn cho các huyện; triển khai các chính sách mới, trong đó có  
    chính sách cấp gạo cho hộ nghèo  ở biên giới, thực hiện mức khoán mới về  bảo vệ 
    rừng, hỗ  trợ  học nghề, xuất khẩu lao động và tăng cường cán bộ  cho các huyện  
    nghèo. Hoạt động chăm sóc người có công và các đối tượng chính sách tiếp tục được 
    duy trì và mở rộng.
      Năm 2009 tổng số chi cho an sinh xã hội ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so 
    với năm 2008, trong đó chi điều chỉnh tiền lương, trợ cấp, phụ cấp khoảng 36.700 tỷ 
    đồng; trợ  cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai 41.580 tấn gạo (riêng số  gạo  
    cứu trợ  đợt đầu khắc phục hậu quả  bão số  9 là 10.300 tấn). Tổng dư  nợ  của 18  
    chương trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách do Ngân hàng Chính sách  
    xã hội thực hiện  ước đến cuối năm đạt 76 nghìn tỷ  đồng, tăng 45,3% so với năm 
    2008. Các doanh nghiệp đã hỗ  trợ  62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ  đồng. Tỷ  lệ  hộ 
    nghèo đến cuối năm 2009 giảm còn khoảng 11%. Tuy nhiên, tình hình suy giảm kinh  
    tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải quyết việc làm cho người lao động. Dự 
    kiến đến cuối năm 2009, có khoảng 1,51 triệu lượt lao động được giải quyết việc 
    làm, đạt 88,5% kế  hoạch năm và bằng 93,2% so với thực hiện năm 2008. Số  lao 
    động đi làm việc ở nước ngoài năm 2009 ước đạt 7 vạn người, giảm đáng kể so với  
    con số 8.5 vạn người của năm 2008.
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 7

  8. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    II.1.2. Những thách thức của kinh tế Việt Nam năm 2010
    Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2010 phụ  thuộc vào 3 yếu tố  chính: tình hình 
    kinh tế thế giới, sức mạnh nội tại của kinh tế trong nước và sự điều hành vĩ mô của 
    Chính phủ. Tuy nhiên bên cạnh những thời cơ, thuận lợi thì cũng đặt ra nhiều thách 
    thức cho cả 3 yếu tố trên. 
    Trong ngắn hạn, năm 2010 sẽ chứng kiến sự phục hồi  ở những nền kinh tế lớn  
    nhất thế giới. Hoạt động đầu tư và thương mại Quốc Tế sẽ được hồi phục sau khi  
    có sự giảm sút mạnh năm 2009. Với tư cách là một nền kinh tế nhỏ có độ mở cao4, 
    điều này tạo ra những ảnh hưởng tích cực trực tiếp lên nền kinh tế Việt Nam để có  
    thể  đạt tăng trưởng cao hơn trong năm 2010. Tuy nhiên, từ  kinh nghiệm của những  
    năm vừa qua, vấn đề đặt ra cho Việt Nam là cần phải xác định và điểu chỉnh độ mở 
    của nền kinh tế  như  thế  nào cho phù hợp để  tránh được các cú sốc do hội nhập  
    Quốc Tế mang đến. Đối với trong nước, những bất ổn vĩ mô trong nội tại nền kinh  
    tế vẫn còn tồn tại và trở thành thách thức cho phát triển kinh tế năm 2010.
    Thách thức tiếp theo là áp lực lạm phát cao. Lạm phát không phải là là vấn đề 
    của năm 2009, nhưng năm 2010 hoàn toàn có thể  là một năm lạm phát bùng lên trở 
    lại do các nguyên nhân gây ra lạm phát bị  tích lũy ngày càng nhiều trong năm 2009.  
    Về các công cụ điều hành kinh tế vĩ mô, hiện nay chúng ta dựa trên 3 công cụ chính  
    để  tác động đến nền kinh tế, đó là chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ  và chính  
    sách cán cân thanh toán.
    Đối với chính sách tài khoá, nếu bù đắp thâm hụt ngân sách bằng biện pháp vay 
    nợ trong nước thì sẽ gây ra áp lực tăng lãi suất. Điều này đi ngược với mục tiêu của 
    chính sách tiền tệ là giảm dần lãi suất trong thời gian tới. Nhưng nếu bù đắp thâm  
    hụt ngân sách bằng việc vay nợ  nước ngoài thì gặp phải áp lực gia tăng nợ  nước 
    ngoài mà đã ở tỷ lệ khá cao rồi. Đối với chính sách tiền tệ, khoảng cách giữa lãi suất  
    huy động và trần lãi suất cho vay hiện đã quá nhỏ. Do vậy, nếu bỏ lãi suất trần thì 
    sẽ làm thắt chặt tiền tệ quá sớm và ảnh hưởng đến phục hồi kinh tế. Mặt khác, với  
    lạm phát kỳ vọng cao trong thời gian tới, dường như không còn cơ hội cho thực hiện 
    nới lỏng tiền tệ  để  kích thích kinh tế. Những đặc điểm trên sẽ  đóng vai trò quan 
    trọng trong việc định hình nền kinh tế Việt nam trong năm 2010. Tuy nhiên cũng cần  
    phải nhận thấy một điểm tích cực là khả  năng chống chọi với suy thoái kinh tế  và 
    bất ổn vĩ mô của Việt Nam đã khá hơn. Thực tế cho thấy, dưới tác động mạnh của 
    khủng hoảng kinh tế thế giới và bất ổn kinh tế vĩ mô trong nước, quá trình suy giảm 
    tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 không kéo dài và sự phục hồi đến nhanh hơn và  
    không đến nỗi “bi quan” và “nghiêm trọng” như những dự  báo đầu năm 2009. Điều  
    này một mặt cho thấy năng lực chống đỡ  của nền kinh tế  đã được nâng lên, nhưng 
    mặt khác cũng cho thấy khả năng dự báo chính sách còn hạn chế và bất cập

    II.1.3. Tình hình kinh tế xã hội.
    Trong năm 2009 vừa qua, mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức  
    lớn do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới  
    nhưng với sự  tập trung chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo thành phố, cùng với sự  nỗ 
    lực, đồng tâm, hiệp lực, đoàn kết của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp  
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 8

  9. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    và các tầng lớp nhân dân; tình hình kinh tế thành phố đã từng bước phục hồi và có sự 
    khởi sắc đáng kể, góp phần cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế chung (GDP) trong  
    năm 2009 ;lạm phát được kiềm chế; vốn huy động và tổng dư nợ tín dụng đều tăng  
    khá; thị  trường chứng khoán đang có dấu hiệu phục hồi với khối lượng giao dịch  
    tăng cao; chính sách kích cầu trong đầu tư và tiêu dùng đã bắt đầu phát huy tác dụng, 
    giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn, ổn định sản xuất kinh doanh; các chính  
    sách an sinh xã hội được triển khai tích cực và có hiệu quả, công tác chăm lo cho các  
    đối tượng diện chính sách và người nghèo được thực hiện tốt; tình hình chính trị  ổn  
    định, quốc phòng an ninh được giữ vững.

    II.2. Tổng Quan Ngành Công Nghiệp Giấy Việt Nam.
    Sau khi có phần chững lại vào cuối năm 2008 và 2009, sự tăng trưởng công suất  
    trên thị  trường giấy và bột giấy Việt Nam đã bắt đầu một lịch trình mới. Phản ánh 
    sự  cải thiện trong nền kinh tế, sản lượng giấy và tiêu dùng nội địa theo báo cáo đã  
    tăng đáng kể, tới mức mà nguồn cung nguyên liệu khan hiếm đang bắt đầu trở thành  
    một trở ngại.
    Theo Hiệp hội Giấy và Bột Giấy Việt Nam (VPPA), năm 2009, khoảng 400.000 
    tấn công suất đã đi vào hoạt động  ở  Việt Nam, chủ  yếu là các máy xeo nhỏ. Và  
    nhiều dự  án mở  rộng công suất mới cũng   sẽ   được   đưa   vào   hoạt   động   trong 
    khoảng thời gian từ giữa năm nay tới 2012 có thể làm thay đổi tình hình cung cấp bột  
    hiện tại, do nhiều dự án tập trung vào sản xuất bột.Có một số  dự  án bị  tạm ngừng  
    do khủng hoảng tài chính toàn cầu, đã được triển khai trở lại hoặc có lịch trình mới  
    và còn nhiều dự án khác chưa công bố.
    Một số dự  án thuộc các công ty lớn như  Vinapaco, Tân Mai và Giấy Sài Gòn sẽ 
    làm cho công suất của những công ty này tăng lên gấp bội so với công suất hiện tại  
    và ta sẽ chứng kiến sản lượng bột tăng đáng kể. Việc này cũng có thể  tác động tới  
    sự bất hợp lý giữa công nghiệp xuất khẩu dăm mảnh của Việt Nam đang đâm chồi  
    nảy lộc và sự phụ thuộc tiếp tục vào các sản phẩm bột và giấy nhập khẩu.
    Và VPPA đã công bố  những thông tin rất đáng hoan nghênh về  các công ty nhỏ 
    hơn. Nhà máy bột Phương Nam, một nhà máy mới  ở  Long An, dự  kiến khởi động  
    vào đầu năm nay sau nhiều lần trì hoãn, vẫn trong quá trình thực hiện   đầu tư. Nhà 
    máy bột phi gỗ tẩy trắng này có công suất 100.000 tấn/năm do Andritz cung cấp, sử 
    dụng đay làm nguyên liệu và sản lượng của nhà máy nhằm thay thế  cho bột nhập  
    khẩu mà các nhà sản xuất giấy in/viết trong nước đang sử  dụng, dự  kiến sẽ  khởi  
    động vào năm 2012.
    An Hòa, đang xây dựng một nhà máy mới  ở  tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc Việt  
    Nam, cũng đang triển khai các kế hoạch đưa vào hoạt động một máy xeo giấy tráng 
    phấn chuyên dụng, công suất 130.000 tấn/năm và một dây chuyền bột gỗ  keo tẩy 
    trắng 130.000 tấn/năm. Theo VPPA, dây chuyền bột này sẽ khởi động vào năm nay. 
    Và   các   nhà   cung   cấp   cho   biết   máy   xeo   sẽ   khởi   động   vào   tháng   3/2012.
    VPPA cũng cho hay Công ty Cổ phần Giấy Bãi Bằng  (không phải nhà máy Bãi Bằng 
    của Vinapaco) đang lắp đặt một máy xeo mới  ở  thị  trấn Phong Châu, huyện Phù  
    Ninh, tỉnh Phú Thọ. Máy xeo đa nhiệm đã qua sử  dụng của Nhật công suất 50.000 

    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 9

  10. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    tấn/ năm, có thể sản xuất nhiều loại giấy đồ  họa, dự  kiến sẽ khởi động trong năm  
    nay. Hiện tại, nhà máy chỉ sản xuất một lượng nhỏ bột gỗ tẩy trắng.
    Bộ Công Thương cho biết, để khắc phục sự mất cân đối nhu cầu giữa sản xuất 
    bột giấy và chế biến giấy; đồng thời tăng cường năng lực sản xuất, ngành giấy đang 
    khẩn trương triển  khai xây dựng  để  sớm đưa  vào hoạt  động nhà máy bột giấy  
    Phương Nam, nhà máy bột và giấy An Hoà, nhà máy giấy Kontum, nhà máy giấy Tân  
    Mai – miền Đông của Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai, nhà máy giấy và bột giấy  
    Thanh Hoá, mở rộng nhà máy giấy Bãi Bằng giai đoạn 2…
    Từ  đầu năm đến nay, gần như  giá nguyên liệu giấy được điều chỉnh tăng theo 
    chu kỳ 15 ngày hoặc 1 tháng/lần và đẩy giá bột nguyên liệu giấy ở mức cao kỷ lục.  
    So với cuối năm 2009, giá bột giấy cao cấp đã tăng khoảng 30% và hiện ở mức 900­
    950 USD/tấn; giá giấy OCC (giấy loại­ giấy nguyên liệu làm bao bì) là 350 USD/tấn.  
    Nếu như thời điểm cuối năm 2009, giá các loại giấy vụn thu mua vào khoảng 800 ­  
    1.000 đồng/kg thì đến thời điểm này tăng lên 3.500 ­ 3.700 đồng/kg; giá nhập khẩu  
    giấy cùng loại này khoảng 5.000 đồng/kg. 
    Các doanh nghiệp sản xuất giấy công nghiệp hiện đang lâm vào hoàn cảnh khó 
    khăn trước tốc độ tăng của giá nguyên liệu giấy. 
    Theo Hiệp hội Giấy Việt Nam, sự  biến động mạnh giữa tỷ  giá USD và VND  
    trong thời gian qua là nguyên nhân chính làm tăng giá nguyên liệu giấy nhập khẩu.  
    Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sử  dụng nguồn nguyên liệu giấy còn phải đối mặt  
    với việc tăng lương nhân công, tăng giá các nguyên liệu phụ  phẩm, than, dầu, đặc 
    biệt là điện, nước. Cũng theo Hiệp hội giấy, hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất  
    giấy trong nước còn bị áp lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư tại 
    Việt Nam (chiếm khoảng 30% thị  phần) về   đầu ra sản phẩm và của  việc mua  
    nguyên liệu đầu vào. 
    Mặt khác, hiện nay khoảng 72% nguyên liệu sản xuất giấy là sản phẩm giấy 
    loại. Trên thực tế, lượng giấy loại thu gom để  tái sản xuất giấy trong nước chỉ 
    chiếm 32%, số  còn lại phải nhập khẩu. Những nghịch lý trong chính sách thuế  áp  
    dụng cho mặt hàng giấy loại được xem là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng  
    lượng hàng nhập siêu lớn. Bởi theo qui định, giá nhập khẩu giấy loại được áp dụng 
    mức thuế  là 0%, như  vậy khi mua nguồn nguyên liệu này để  sản xuất các doanh  
    nghiệp chỉ  phải đóng thuế  giá trị  gia tăng (VAT). Còn với nguồn hàng trong nước,  
    nếu người bán không có hóa đơn (mà nguồn hàng này hiện chiếm tỷ trọng khá lớn)  
    thì doanh nghiệp sản xuất phải đóng 3% (thuế  thu nhập cho người bán lẻ) và cộng 
    thêm phần thuế VAT theo qui định.
    Trước tình cảnh tăng giá liên tục của nguồn nguyên liệu, các doanh nghiệp ngành 
    giấy phải điều chỉnh tăng giá sản phẩm với các loại giấy in, giấy viết, giấy in báo  
    từ  5­20%, tùy theo loại và thương hiệu. Theo mức giá bán lẻ  tại các nhà sách, cửa  
    hàng kinh doanh văn phòng phẩm trên thị trường, giá tập viết các loại tăng từ 5­15%;  
    các loại sổ  tay tăng từ  10­20%, vào khoảng 300­2.000 đồng/cuốn; các loại giấy in 
    (loại   giấy   A4)   tăng   15­20%   đồng/gram,   hiện   có   giá   bán   70.000   –   trên   80.000  
    đồng/gram, tùy theo loại. Tuy nhiên, nếu tính ra giá thành thì mỗi sản phẩm tăng 
    không quá lớn, khoảng vài trăm đến vài đồng/sản phẩm nên thực tế  không  ảnh 
    hưởng đến sức tiêu thụ. Thị  trường sách và văn phòng phẩm bắt đầu vào mùa cao  
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 10

  11. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    điểm, theo thông tin từ phía các nhà cung cấp, thời gian tới giá các sản phẩm này sẽ 
    tiếp tục điều chỉnh tăng. 
    Giới sản xuất giấy công nghiệp cũng đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn trước tốc  
    độ  tăng của giá nguyên liệu giấy. Giá nguyên liệu tăng, giá thành sản phẩm cũng 
    được điều chỉnh tăng theo nhưng vẫn không thể bù lỗ. Sự khan hiếm và tăng giá của 
    nguồn nguyên liệu giấy đầu khiến công suất của nhà máy hiện chỉ đạt khoảng 50% 
    so với trước đây. Việc hoạt động không  ổn định này công ty phải chịu tăng thêm 
    nhiều khoản phí, đưa giá thành sản xuất tăng như  không chạy hết công suất lò hơi 
    và nhiều nhân công lao động đã nghỉ  việc. Đây là mối lo ngại lớn nhất bởi khi vào 
    mùa sản xuất cao điểm hoặc thị trường nguyên liệu ổn định việc tìm kiếm người lao 
    động khá khó khăn. So với cuối năm ngoái, sản phẩm giấy xeo đã được điều chỉnh 
    tăng 70­80%, với mức tăng này có thể bù đắp được chi phí đầu vào. Riêng sản phẩm  
    bao bì hiện doanh nghiệp đang gặp lỗ do chỉ tăng được 10­20%, với số tăng này chưa  
    bằng một nửa so với mức tăng của nguồn nguyên liệu đầu vào. 

         

    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 11

  12. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    CHƯƠNG III: SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 
    CÔNG TRÌNH

    III.1. Mục tiêu nhiệm vụ đầu tư.
    Quảng Nam là tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển,  do địa bàn nằm cạnh Tp. Đà 
    Nẵng một trong những trung tâm kinh tế lớn của nước ta  . Dựa trên các cơ sở phân 
    tích về  điều kiện kinh tế, xã hội, điều kiện tự  nhiên chung của khu vực cũng như 
    trên cơ sở các văn bản pháp lý có liên quan. Việc đầu tư dự án  xây dựng nhà máy sản 
    xuất bột giấy có tính khả thi cao bởi các yếu tố sau:
    Thực hiện chiến lược phát triển đô thị, tạo ra mô hình cụ thể phù hợp với quy hoạch 
    và chủ  trương chính sách chung, góp phần vào việc phát triển kinh tế  của khu vực, 
    của tỉnh nhà đặc biệt là ngành công nghiệp giấy
      Thống nhất quản lý về quy hoạch và xậy dựng, phát triển nền kinh tế đồng bộ 
    với tiến trình phát triển tổng thể  của tỉnh Quảng Nam. Đồng thời dự  án còn đóng 
    góp cho xã hội, cho nền kinh tế tỉnh nhà một nền công nghiệp tiêu thụ không những  
    một lượng lớn cây lá tràm cho các   huyện lân cận nhà máy của tỉnh   mà còn giúp  
    người nông dân không còn lo lắng về đầu ra cho việc trồng cây lá tràm. 
       Theo khảo sát trong những năn gần đây thời tiết khắc nghiệt, nền nông lâm  
    nghiệp của nước ta gặp nhiều khó khăn. Nhiều người nông dân đã khai phá rừng để 
    trồng cây lá tràm theo khuyến khích, chủ  trương của tỉnh. Tuy nhiên thời gian gần 
    đây cây lá tràm lại mất giá khiến nhiều người nông dân lao đao, kèm theo đó là bão  
    liên miên khiến họ  lo lắng vì sợ  cây sẽ  bị  ngã…Do đó việc xây dựng nhà máy đối 
    với chủ đầu tư đây là một nhiệm vụ cấp thiết và cần phải thực hiện ngay không chỉ 
    là quyền lợi của chủ  đầu tư  trong việc khai thác dự  án mà còn giúp những người  
    nông dân cải thiện đời sống, từng bước thoát nghèo.
    Xét thấy tại khu vực Quảng Nam tuy đã có một số nhà máy sản xuất bột giấy và  
    giấy nhưng những lo lắng, trăn trở  lo âu về  đầu ra cho sản phẩm cây Keo và cây 
    Bạch đàn chưa được giải quyết thỏa đáng vì giá cả  của sản phẩm đầu ra còn quá  
    thấp khiến người nông dân chán nản, nhiều hộ  gia đình đã phá bỏ  nhiều hecta Keo  
    và Bạch Đàn để  trồng sắn. Tuy nhiên thị  trường giấy và bột giấy trong những năm 
    gần đây có nhiều chuyển biến tích cực.  Nước ta đang trong quá trình nâng cao công 
    suất sản xuất bột giấy để  dần loại bỏ  hàng nhập khẩu và bắt đầu xuất khẩu vào  
    năm 2015. Hiện nay, Việt Nam vẫn đang cố gắng để đáp ứng nhu cầu trong nước và  
    do đó vẫn còn nhiều cơ  hội đang mở  ra trước mắt cho các nhà sản xuất cũng như 
    kinh doanh trong thời gian tới. Những điều kiện thuận lợi để  đầu tư  tại Việt Nam  
    bao gồm lợi thế  về  địa lý, hệ  thống chính trị  và xã hội  ổn định, tài nguyên rừng, 
    nước và lao động dồi dào. Tuy nhiên rủi ro và thách thức cũng tồn tại song song như 
    cải cách hành chính chậm, nạn tham nhũng tồn tại, cơ sở hạ tầng yếu kém và nhiều  
    quy định khắt khe về môi trường là những rào cản cho những doanh nghiệp  ở Việt  
    Nam. Bên cạnh đó các công ty giấy và bột giấy Việt Nam đang trong giai đoạn tái 
    cấu trúc nhằm tới sự phát triển bền vững. 
    Vài năm qua, nhiều dự  án đã được hoàn thành và sắp tới nhiều dự  án được đưa 
    vào hoạt động. Quy mô của các dự  án đầu tư  ngày càng lớn, thường từ  50.000  
    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 12

  13. DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ MÁY SẢN XUẤT GIẤY VÀ BỘT GIẤY

    tấn/năm tới trên 300.000 tấn/năm. Các dự án đầu tư ở Việt Nam đã và đang sử dụng 
    các thiết bị tiên tiến của các công ty hàng đầu thế giới trong sản xuất cũng như trong  
    xử lý chất thải. Vật tư, hóa chất của các công ty hàng đầu thế giới cũng đang được  
    sử dụng ở Việt Nam. 
    Công ty TNHH Dương Chấn cũng không ngoại lệ, là công ty hoạt động trong  
    ngành sản xuất bột giấy chúng tôi nhận thấy nhu cầu của thị  trường ngày càng  
    nhiều mà sản phẩm đầu ra còn nhiều hạn chế  do việc thiếu hụt trong thị  trường 
    nguyên liệu đầu vào. Mà cây Keo, cây lá tràm còn chưa được khai thác đúng mức ở 
    người nông dân, các vùng miền núi.  Chính vì lẽ  trên, công ty TNHH Dương Chấn  
    nhận thấy cần xây dựng một nhà máy sản xuất bột giấy tại miền trung là cần thiết.
    Do đó, để xúc tiến việc thành lập và đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy. 
    Công ty TNHH Dương Chấn đã hoàn thiện báo cáo đầu tư dự án. Dự kiến sơ bộ về 
    phương án kinh doanh cũng như  kế hoạch hoàn vốn và trả  lãi ngân hàng, trình lãnh 
    đạo tỉnh Quảng Nam cùng các sở, ban ngành để  nhất trí chủ  trương. Đầu tư  xây  
    dựng dự  án sẽ  đóng góp một phần nhỏ  phúc lợi an sinh cho xã hội nói chung, cho  
    tỉnh Quảng Nam nói riêng.

    III.2. Sự cần thiết phải  đầu tư:

    Bên cạnh các nguồn nhiên liệu như than, điện, nước, hóa chất, xăng dầu, chi phí 
    vận chuyển… lần lượt được điều chỉnh tăng cao, hiện nay, các doanh nghiệp trong  
    ngành giấy cũng đang phải đối mặt với giá nguyên liệu giấy tăng mạnh. Để đối phó 
    với thực trạng này, các ngành sản xuất sử  dụng nguồn nguyên liệu giấy buộc phải  
    tăng giá sản phẩm..và tìm mọi cách để duy trì sản lượng đầu ra và bình ổn giá.
    Hiện nay, nguồn nguyên liệu giấy sản xuất trong nước phụ thuộc lớn vào nguồn  
    nhập khẩu, chiếm gần 2/3. Số còn lại, các doanh nghiệp tự sản xuất. Tuy nhiên, do 
    nhập khẩu khoảng 50% nguyên liệu cho việc tự  sản xuất này nên sản xuất giấy 
    trong nước ngày càng khó khăn. Theo dự  đoán của các ngành hữu quan, đây là một  
    trong những nguyên nhân góp phần tiếp tục đẩy giá giấy tăng cao trong thời gian tới. 
    Hiện đang bước vào mùa kinh doanh cao điểm nên các doanh nghiệp ngành giấy  
    không thể giảm năng suất sản xuất. Hầu hết các doanh nghiệp đều khẳng định, nếu 
    giá nguyên liệu giấy vẫn tiếp tục căng thẳng thì việc tiếp tục điều chỉnh giá sản 
    phẩm từ giấy tăng trong thời gian tới là khó thể tránh khỏi dù doanh nghiệp luôn nêu  
    cao tinh thần tiết kiệm chi phí sản xuất, chấp nhận giảm lợi nhuận.
    Đứng trước tình hình căng thẳng của thị trường giấy và bột giấy như hiện nay thì 
    việc xây dựng nhà máy là cần thiết.

    CHỦ ĐẦU TƯ:  CÔNG TY TNHH DƯƠNG CHẤN                                     Trang 13

Download tài liệu Lập dự án Free Nhà máy sản xuất giấy và bột giấy File Docx, PDF về máy