Tài LiệuTài Liệu Về Kinh Tế Quản Lý

[Download] Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên) – Tải về File Docx, PDF

Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên)

Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên)
Nội dung Text: Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên)


Giáo trình môn học “Qui hoạch sử dụng đất đai” dùng làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên và học tập cho sinh viên ngành Quản lý đất đai, sách cũng có thể làm tài liệu nghiên cứu tham khảo và phục vụ cho bạn đọc thuộc các ngành khác có quan tâm đến lĩnh vực quản lý đất đai. Toàn bộ giáo trình môn học “Qui hoạch sử dụng đất đai” được chia làm 3 chương như sau: Chương 1 – Cơ sở lý luận – khoa học của quy hoạch sử dụng đất đai; chương 2 – Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, cấp huyện; chương 3 – Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã. Mời tham khảo.

Bạn đang xem: [Download] Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên) – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên) File Docx, PDF về máy

Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên)

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên)

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG
    ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

    TS. LƯƠNG VĂN HINH – TS. NHUYỄN NGỌC NÔNG – ThS. NHUYỄN ĐÌNH THI Chủ biên: TS.
    LƯƠNG VĂN HINH

    Giáo trình QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
    ĐAI
    (Giáo trình dùng cho hệ Đại học)

    NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
    HÀ NỘI – 2003

  2. LỜI NÓI ĐẦU

    Qui hoạch sử dụng đất đai là môn học liên quan đến kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực,
    như: kinh tế, xã hội, nhân văn, địa lý, tự nhiên, kỹ thuật… Cốt lõi của vấn đề quy hoạch sử
    dụng đất đai là “Tổ chức không gian “ của một vùng lãnh thổ, đơn vị hành chính (quốc gia,
    tỉnh, huyện, xã) hợp lý, nhằm phát huy tối đa mọi tiềm năng, nguồn lực để nền kinh tế- xã hội
    phát triển bền vững và đạt hiệu quả cao.
    Giáo trình môn học “Qui hoạch sử dụng đất đai” dùng làm tài liệu giảng dạy cho giáo
    viên và học tập cho sinh viên ngành Quản lý đất đai của trường Đại học Nông lâm, sách cũng
    có thể làm tài liệu nghiên cứu tham khảo và phục vụ cho bạn đọc thuộc các ngành khác có
    quan tâm đến lĩnh vực quản lý đất đai.
    Toàn bộ giáo trình môn học “Qui hoạch sử dụng đất đai “ được chia làm 3 chương.
    Chịu trách nhiệm biên soạn như sau:
    -Chương 1: Cơ sở lý luận – khoa học của quy hoạch sử dụng đất đai do PGS.TS.
    Lương Văn Hinh.
    Chương 2: Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh, cấp huyện – TS. Nguyễn Ngọc Nông.
    Chương 3: Qquy hoạch sử dụng đất đai cấp xã – Thạc sĩ. Nguyễn Đình Thi.

    Trong quá trình biên soạn, mặc dù chúng tôi đã cố gắng, nhưng đây là môn học mà cả
    về lý luận và thực tiễn nên cuốn sách không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
    Chúng tôi rất mong bạn đọc đóng góp ý kiến để giáo trình môn học ngày một hoàn thiện
    hơn.
    Xin chân thành cảm ơn !
    Tập thể tác giả

  3. Chương 1
    CƠ SỞ LÝ LUẬN – KHOA HỌC CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

    1. VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐẤT ĐAI TRONG SẢN XUẤT VẬT CHẤT VÀ
    PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI
    1.1 Tình hình sử dụng đất đai ở nước ta
    Đất đai là tài nguyên quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt và là thành phần quan trọng của
    môi trường sống. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Việt Nam
    có tổng diện tích tự nhiên là 32.924.061 ha và đang được sử dụng

    Diện tích tự nhiên nước tta có quy mô trung bình, xếp thứ 59 trong tổng số 200 nước của
    -Đấ nông nghiệp 9.345.346 ha
    thế giới, nhưng với dân sốđĐất lâm nghiệngười – thời điểm l0/10/2002) 11.575.429 thứ 13 trên
    – ông (80 triệu p đứng hàng ha
    thế giới, xếp vào loại “đấ-Đấtậchuyêni dùng Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người rất
    1.532.843 ha
    t ch t ngườ đông”.
    thấp, chỉ bằng 1/7 mức bình quân t ủa thế giới. Theo thống kê, bình quân43ầ1 7 8ười của thế
    -Đấ cở 4 đ. u ng ha
    -Đất chưa sử dụng 10.027.265 ha
    giới là 3,0 ha; Úc là 52,4 ha; Canada là 41,2 ha; Trung Quốc là 0,8 ha và Việt Nam là 0,43
    ha/người.
    Đất đai có những tính chất đặc trưng, là nguồn tài nguyên có giới hạn về số lượng; có vị
    trí cố định trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn của con người; là tư liệu
    sản xuất không gì thay thế được, đặc biệt là ngành nông nghiệp. Đất đai là loại tài nguyên
    không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam. Bình quân đất nông
    2
    nghiệp trên đầu người chỉ có 1074 m , với 80% làm nông nghiệp do đó bình quân đất nông
    2
    nghiệp trên 1 lao động chỉ đạt 2446 m . Thực hiện quy định của Luật đất đai năm (1993,
    1998, 2001) đến nay đã có 54/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên 300 huyện và
    khoảng 5000 xã, phường đã lập quy hoạch sử dụng đất.
    Hiện nay nước ta vẫn đang thuộc nhóm những nước có nền kinh tế kém phát triển, vì
    vậy đặc điểm hạn chế của đất đai càng thể hiện rõ và đòi hỏi việc sử dụng đất đai phải dựa
    trên những cơ sở lý luận khoa học vững chắc. Sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý là
    nhiệm vụ mang tính cấp bách và lâu dài của nước la. Trong thực tế, một thời gian dài việc sử
    dụng đất đai hợp lý chủ yếu hướng vào đất nông nghiệp và từng thời kỳ được thực hiện một
    cách phiến diện. Có thời kỳ chủ yếu hướng vào việc mở rộng đất canh tác, với mục tiêu tự túc
    lương thực theo lãnh thổ hành chính bằng mọi giá, đôi khi trọng tâm lại hướng vào đổi mới cơ
    cấu diện tích gieo trồng với mục tiêu hiệu quả kinh tế… Việc sử dụng đất đai hợp lý là vấn đề
    phức tạp, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yrếu tố quan trọng khác nhau, về thực chất đây là vấn
    đề kinh tế liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ đặt ra là sử dụng tối đa quĩ
    đất quốc gia để phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và xã hội, dựa trên nguyên tắc ưu tiên
    đất đai cho sản xuất nông nghiệp.

  4. 1.2. Đất đai – “Tư liệu sản xuất đặc biệt”
    Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con
    người, đất với lớp phủ thổ nhưỡng và mặt bằng lãnh thổ (bao gồm các tài nguyên trên mặt đất,
    trong lòng đất và mặt nước) là điều kiện đầu tiên.
    Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là
    kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể”.
    Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động không phải là nguồn duy nhất
    sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất
    là mẹ”.
    Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con
    người. Đất được tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên. Cần nhận thấy rằng, đất đai ở hai thể
    khác nhau:
    Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất tồn tại như một vật thể lịch sử tự
    nhiên (trời sinh ra đất) cứ thế tồn tại và biến đổi. Như vậy, đất không phải là tư liệu sản xuất.
    Nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn với con người, gắn với lao động thì đất
    được coi là tư liệu Đất chỉ khi tham gia vào quá trình lao động, khi kết hợp với lao động sống
    và lao động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất.

    Không phụ thuộc vào hình thái kinh tế – xã hội, để thực hiện quá trình lao động, cần phải
    có đủ 3 yếu tố:
    Hoạt động hữu ích: chính là lao động hay con người có khả năng sản xuất, có kỹ năng
    lao động và biết sử dụng công cụ, phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất.
    Đối tượng lao động: là đối tượng để lao động.tác động lên trong quá trình lao động.
    Tư liệu lao động: là công cụ hay phương tiện lao động được lao động sử dụng để tác
    động lên đối tượng lao động.

  5. Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người và
    điều kiện vật chất (bao gồm cả đối tượng lao động và công cụ lao động hay phương tiện lao
    động).
    Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của
    con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động, như: xây dựng nhà xưởng,
    bố trí máy móc, làm đất…) vừa là phương tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng để gieo
    trồng, nuôi gia súc…), vì vậy đất đai là “Tư liệu sản xuất”. Tuy nhiên, cần lưu ý các tính chất
    “đặc biệt” của loại tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản xuất khác như sau:
    1) Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con
    người; là sản phản của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động. Chỉ khi
    tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành
    tư liệu sản xuất.
    2) Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế về số lượng, diện tích đất (số
    lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt địa cầu. Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng
    về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội.
    3) Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh
    dưỡng, các tính chất lý, hoá. Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy
    cách, tiêu chuẩn (mang tính tương đối do quy trình công nghệ quy định).
    4) Tính kgông thay thế. Đất không thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác, những thay
    thế do áp dụng KHCN có tính chất nhân tạo chỉ mang tính tức thời, không ổn định như tính
    vốn có của đất. Các tư liệu sản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản
    xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn.
    5) Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không
    thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác). Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi chỗ,
    mọi nơi, có thể di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác tuỳ theo sự cần thiết.
    6) Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của
    thời gian). Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông – lâm nghiệp, đất sẽ không
    bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng
    đất. Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng (tính chất có
    giá trị đặc biệt), không tư liệu sản xuất nào có được. Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng
    dần, hiệu ích sử dụng giảm và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất.
    Có thể nói rằng: Đất không thể là đối tượng của từng cá thể. Đất mà chúng ta đang sử
    dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta. Đất là điều kiện vật chất cần thiết để
    tồn tại và tái sản xuất cho các thế hệ liếp nhau của loài người. Vì vậy, trong sử dụng cần làm
    cho đất lốt hơn cho các thế hệ sau.
  6. 1.3. Vai trò, ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế – xã hội
    1. 3.1. Khái niệm đất đai
    Đất đai là khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng, gồm: khí hậu của bầu
    khí quyển, lớp phủ thổ nhưỡng, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước
    ngầm và khoáng sản trong lòng đất; theo chiều nằm ngang, trên mặt đất là sự kết hợp giữa thổ
    nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác, nó tác động giữ vai
    trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội
    loài người.
    Các chức năng (công năng) của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội
    loài người được thể hiện qua các mặt sau: sản xuất, môi trường sống, cân bằng sinh thái, tàng
    trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất), không gian sự
    sống, bảo tồn, bảo tàng sự sống, vật mang sự sống, phân dị lãnh thổ.
    Luật đất đai năm 1993 cũng đã khẳng định đất đai:
    Là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá.
    Là tư liệu sản xuất đặc biệt.
    Là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.

    -Là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh
    và quốc phòng.
    Thực vậy, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt
    quan trọng. Đất đai là điều kiện đầu tiên, là cơ sở cần thiết của mọi quá trình sản xuất; là nơi
    tìm ra công cụ lao động, nguyên liệu lao động và là nơi sinh tồn của xã hội loài người.
    1.3.2. Vai trò và ý nghĩa
    Đất đai là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết (điều kiện chung) đối với mọi quá trình
    sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nếu hoạt động được.
    Nói khác đi – không có đất sẽ không có sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của chính con
    người.
    Vai trò của đất đai với từng ngành rất khác nhau:
    a) Trong các ngành phi nông nghiệp
    Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện
    quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các khoáng sản). Quá trình sản xuất và
    sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm
    thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất.

  7. b) Trong các ngành nông lâm nghiệp
    Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, đồng thời là đối
    tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất, như: cày, bừa, xới xáo) và công
    cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi…). Quá trình sản xuất
    nông – lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sim học tự nhiên của
    đất.
    Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển
    của mọi nền văn minh vật chất, văn minh tinh thần, các thành tựu khoa học công nghệ đều
    được xây dựng trên nền tảng cơ bản – sử dụng đất.
    Phương thức và mục tiêu sử dụng đất rất đa dạng, có thể chia theo 3 nhóm mục đích sau
    đây:
    -Lấy tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt từ đất đai để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và phát
    triển.
    -Dùng đất đai để làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động.
    -Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh thần.
    Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế – xã hội, khi mức sống của con người còn thấp,
    công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông
    nghiệp. Thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, công năng của đất đai từng bước được
    mở rộng, sử dụng đất đai cũng phức tạp hơn, nó vừa là căn cứ của khu vực 1 , vừa là không
    gian và địa bàn của khu vực 2. Điều đó có nghĩa, đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật
    chất để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đáp ứng
    nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại Mục đích sử dụng đất nêu trên được biểu lộ càng rõ nét
    trong các khu vực kinh tế phát triển.
    Kinh tế – xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân sốđã làm cho mối quan hệ
    giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình
    sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường đất, một số công năng
    nào đó của đất đai bị yếu đi, vấn đề sử dụng đất đai càng trở nên quan trọng và mang tính toàn
    cầu. Với sự phát triển không ngừng của sức sản xuất, công năng của đất đai cần được nâng
    cao theo hướng đa dạng, nhiều mức độ, để truyền lại lâu dài cho các thế hệ sau.
    1.4. Những yếu tốảnh hưởng tới việc sử dụng đất và xu thế phát triển
    Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ người -đất trong
    tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào quy luật phát
    triển của kinh tế xã hội với yêu cầu không ngừng ổn định và bền vững điều kiện môi trường
    sinh thái đã đề xuất, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý nhất tài
    nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai nhằm đạt tới hiệu ích sinh thái, kinh tế
    và xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại. Trong
    mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời
  8. sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Với vai trò là nhân tố của sức sản xuất,
    các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện như sau:
    -Sử dụng đất đai hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng
    đất.
    -Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất đai được sử dụng, hình thành cơ cấu
    kinh tế sử dụng đất.
    -Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng
    đất.
    -Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập
    trung thâm canh.
    1. 4.1. Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
    Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất… một mặt bị chi phối bởi các
    điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh
    tế – xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy, khái quát những điều kiện và nhân tốảnh hưởng đến
    việc sử dụng đất theo 3 nội dung sau:
    1.4.1. Yếu tốđiều kiện tự nhiên
    Điều kiện tự nhiên có nhiều yếu tố, như: nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí,
    khoáng sản dưới lòng đất… Trong các yếu tốđó điều kiện khí hậu là yếu tố hạn chế hàng đầu
    của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là địa hình và thổ nhưỡng) và
    các nhân tố khác.
    Điều kiện khí hậu: Những yếu tố khí hậu ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất
    nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn nhiều ít, nhiệt độ cao thấp, sự
    sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, biên độ tối cao và tối thấp giữa ngày và đêm,…
    trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bổ, sinh trưởng, phát dục và tác dụng quang hợp của cây
    trồng. Chế độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển dinh dưỡng, vừa là
    vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển. Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh
    hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và ẩm độ của đất, cũng như khả năng
    đảm bảo cung cấp nước cho các cây, con sinh trưởng, phát triển.
    Điều kiện đất đai: Sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt biển, độ dốc
    và hướng dốc, mức độ xói mòn… thường dẫn đến đất đai và khí hậu khác nhau,
  9. từđó ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông, lâm nghiệp, hình thành sự phân dị
    theo chiều thẳng đứng đối với nông nghiệp. Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức
    sử dụng đất nông nghiệp, là căn cứ cho việc chọn cơ cấu cây trồng, xây dựng đồng ruộng,
    thuỷ lợi và canh tác, cũng như việc cơ giới hoá.
    Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽảnh hưởng tới việc thi công và chất
    lượng công trình cũng như ích lợi về kinh tế – xã hội mà khu đất đó mang lại. Điều kiện thổ
    nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Độ phì của đất là tiêu chí quan
    trọng quyết định sản lượng cao hay thấp. Độ dầy tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng lớn
    đối với sinh trưởng của cây trồng.
    Mỗi vùng địa lý khác nhau có sự khác biệt vềđiều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước
    và các điều kiện tự nhiên khác. Những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng, công
    dụng và hiệu quả sử dụng đất đai. Điều kiện khí hậu kết hợp với điều kiện thổ nhưỡng là yếu
    tố tự nhiên trội đối với sản xuất, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp, nó tác động mạnh
    mẽ đến quá trình sản xuất và ảnh hưởng đến hiệu quả lao động cao hay thấp. Vì vậy, trong
    thực tiễn sử dụng đất đai cần tuân theo quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thếđó nhằm đạt hiệu
    ích cao nhất về xã hội, môi trường và kinh tế. Tình trạng phổ biến hiện nay là việc sử dụng đất
    đai ở nhiều địa phương chưa hợp lý, đặc biệt trong công cuộc đổi mới, một số địa phương đã
    sử dụng đất nông nghiệp để phát triển, mở rộng các khu công nghiệp, khu kinh tế, xây dựng
    và phát triển đô thị một cách tràn lan, thiếu tính toán, nhiều nơi quy hoạch rồi để đấy không
    sử dụng, gây lãng phí đất canh tác, phá hoại môi trường…
    1.4.1.2. Yếu tố kinh tế xã hội
    Yếu tố kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố, như: chế độ xã hội, dân số và lao động, thông
    tin và quản lý, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân
    bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải,
    sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều
    kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa KHKT vào sản
    xuất…
    Yếu tố kinh tế – xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất
    đai.
    Phương thức sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế
    trong từng thời kỳ nhất định. Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích
    ứng về phương thức sử dụng đất. Việc sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năng
    động của con người và các điều kiện kinh tế xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp
    lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng…, quyết định bởi nhu cầu thị
    trường.
    Trong một vùng hoặc trên phạm vi cả nước, điều kiện vật chất tự nhiên của đất đai
    thường có sự khác biệt không quá lớn, về cơ bản là giống nhau. Nhưng với điều kiện kinh tế –
    xã hội khác nhau dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời
  10. và đem lại những hiệu quả kinh tế – xã hội rất cao; có nơi bỏ hoang hoá hoặc khai thác với
    hiệu quả rất thấp… Có thể nhận thấy, điều kiện tự nhiên của đất đai chỉ là tồn tại khách quan,
    việc khai thác và sử dụng đất đai được quyết định do yếu tố con người.
    Cho dù điều kiện thiên nhiên có lợi thế, nhưng các điều kiện kinh tế – xã hội, kỹ thuật
    không tương ứng thì tiềm năng tài nguyên khó có thể trở thành sức sản xuất thực, cũng như
    chuyển hóa thành ưu thế kinh tế. Ngược lại, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật được ứng dụng vào
    khai thác và sử dụng đất sẽ phát huy tiềm lực sản xuất của đất mạnh mẽ, đồng thời góp phần
    cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên từ bất lợi thành điều kiện có lợi
    cho phát triển kinh tế – xã hội.
    Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế – xã hội khác nhau đã tác động đến việc
    quản lý của xã hội về sử dụng đất đai, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất. Trình
    độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau. Nền kinh tế
    và các ngành càng phát triển, yêu cầu về đất oai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc
    sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ nâng cao.
    Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử
    dụng đất. Thực trạng sử dụng đất liên quan tới lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và
    kinh doanh đất đai. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
    đất được dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, thông
    qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất. Tuy nhiên, nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo
    điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng theo kiểu bóc lột đất đai. Mặt khác, sự quan tâm
    quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, thậm
    chí huỷ hoại đất đai.
    Thí dụ: Việc gia tăng đô thị hoá và phát triển các khu công nghiệp là một trong những
    chỉ tiêu đánh giá sự tiến bộ, phồn thịnh của xã hội, có thểđem lại lợi ích rất lớn cho những
    người kinh doanh bất động sản, chủ đất, các nhà công nghiệp, chủ doanh nghiệp… Nhưng sự
    phân bố sử dụng đất đai không hợp lý, thiếu lý trí, không chú ý đến việc xử lý nước thải, khí
    thải và chất thải đô thị, công nghiệp sẽ làm mất đi vĩnh viễn diện tích lớn đất canh tác, cùng
    với việc gây ô nhiễm môi trường đất đai, nguồn nước, bầu khí quyển, huỷ hoại chất lượng môi
    trường cũng như những hậu quả khôn lường khác.
    Qua những vấn đề nêu trên cho thấy, các nhân tốđiều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế –
    xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai. Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị
    trí và có tác động khác nhau. Trong đó, điều kiện tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công
    dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông
    nghiệp. Điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất; điều
    kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới
    việc sử dụng đất. Vì vậy, cần phải đưa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế – xã hội để
    nghiên cứu, xử lý mối quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế – xã hội trong lĩnh vực sử
    dụng đất đai. Căn cứ vào yêu cầu của thị trường và của xã hội, xác định mục đích sử dụng đất,
    kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu tổng thể
  11. hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày
    càng cao và sử dụng đất đai được bền vững.
    1.4.1.3. Yếu tố không gian
    Không gian trong lĩnh vực tổ chức và quy hoạch không gian là không gian sinh sống, là
    thành phần của bề mặt quả đất, có 3 chiều và được con người sử dụng hoặc có thể sử dụng.
    Không gian sinh sống có thể phân biệt qua 3 bình diện:
    -Không gian tự nhiên, là nền tảng chung của mọi bình diện, của chu trình trao đổi vật
    chất tự nhiên, của các mối quan hệ và tác động tương hỗ giữa đất, nước, khí hậu, động thực
    vật và loài người.
    – Không gian nhân văn, không gian chịu ảnh hưởng của con người, nó được xây dựng
    trên không gian tự nhiên, được biểu hiện qua mối quan hệ và cấu trúc của các vùng dân cư,
    kinh tế, công nghiệp, hệ thống giao thông… Không gian nhân văn cũng có các mối quan hệ và
    tác động tương hỗ phức tạp và được quyết định bởi mật độ dân số, tôn giáo, tập quán, trình độ
    kinh doanh, trình độ phát triển về KHKT… Do đó nó mang tính chất kinh tế, chính trị, xã hội,
    kỹ thuật.
    -Mối quan hệđan xen, không gian như một hệ thống tổ chức và hoàn cảnh hữu hiệu trên
    cơ sở các mối quan hệ chồng chéo của hoạt động xã hội và kinh tế. Chúng tạo thành một
    mạng lưới với nhiều điểm nút bao trùm khắp lãnh thổ, một gò điểm nút trở thành địa “điểm
    trung tâm” qua quá trình phát triển và chức năng điều tiết sự phân bố của không gian. Những
    điểm trung tâm quan trọng là những đô thị lớn hoặc những trung tâm chính trị, văn hoá, kinh
    tế, giao thông lớn hoặc nhỏ, là công trình tạo dựng của con người, mang dấu ấn của con người
    và những thành tựu của đời sống chính trị, văn hoá và kinh tế.
    Không gian, bao gồm cả vị trí và mặt bằng. Đặc tính cung cấp không gian của đất đai là
    yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên. Vì vậy, không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế
    cơ bản nhất của việc sử dụng đất.
    Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian
    sử dụng đất mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai. Điều này quyết định việc
    điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng được sử dụng căn cứ vào sức sản xuất của đất và
    yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất đai.
  12. Khả năng không chuyển dịch của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất
    lượng đất đai mang tính khu vực rất chặt chẽ.
    1. 4.2. Xu thế phát triển của việc sử dụng đất
    1.4.2.1 . Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
    Cùng với sự phát triển của xã hội, yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân
    ngày càng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm
    vi sử dụng đất càng mở rộng.
    Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn
    nhiều. Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo
    hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng
    Thời kỳ quá độ chuyển từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong
    sử dụng đất là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài. Để nâng cao sức sản xuất và sức tải của một
    đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải
    tiến kỹ thuật và công tác quản lý.
    1.4.2.2. Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá
    Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất đai lừ hình thức quảng
    canh chuyển sang thâm canh đã kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá
    cơ cấu sử dụng đất.
    Tiến bộ KHKT đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp
    dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các nhu
    cầu của xã hội. Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế, chủ yếu sử dụng bề.mặt của đất đai,
    nông nghiệp thì độc canh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt nước ít được khai thác, khai thác
    khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu là chọn mặt bằng. Khi khoa học công nghệ được
    khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, ruộng nước phát triển… đã làm cho nội dung sử
    dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng,
    sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ con người.
    Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có sự
    phân công và chuyên môn hoá theo khu vực. Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các
    công nghệ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ yêu cầu nẩy sinh phát triển các vùng sản xuất
    nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn
    hoá sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô.
    1.4.2.3. Sử dụng đất đai phát triển theo xu hướng xã hội hoá và công hữu hoá
    Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống. Việc chuyên môn hoá theo
    yêu cầu xã hội hoá sản xuất phải đáp ứng yêu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và
    tiến bộ xã hội.
  13. Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển
    xã hội hoá sản xuất. Vì vậy, xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn
    kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hoá sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hoá và
    công hữu hoá sử dụng đất.
    2. QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI -CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ NHÀ NƯỚC THỐNG
    NHẤT QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
    2.1. Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
    2.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai
    Để hiểu khái niệm quy hoạch sử dụng đất đai, cần tìm hiểu khái niệm về quy hoạch và
    đất đai dưới góc độ quản lý đất đai. Về thuật ngữ có thể hiểu quy hoạch sử dụng đất đai như
    sau: quy hoạch là việc xác định một trật tự nhất định, bằng những hoạt động như: phân bố, bố
    trí, sắp xếp, tổ chức…
    Hiện nay, ở Việt Nam chưa có định nghĩa chuẩn về đất đai. Theo cách hiểu thông
    thường, đất đai là phần nổi của mặt địa cầu mà trên đó con người và vạn vật đi lại, sinh sống…
    Tuy nhiên, dựa theo các quy định của pháp luật hiện hành, ta có thể hiểu thuật ngữ “đất đai”
    như sau:
    Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
    quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
    cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng.
    Đất đai là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền
    quốc gia (không thể có quốc gia mà không có đất đai).
    Đất đai là loại tài sản đặc biệt – bất động sản – tức là loại lài sản không thể di rời được
    (điều 181 – Bộ luật dân sự).
    Đất đai là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoảnh đất, vạc đất, mảnh đất miếng
    đất…) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính
    thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước,. nhiệt độ ánh sáng, thảm thực
    vật, các tính chất lý hoá tính…) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các
    mcụđích khác nhau

    Qui hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế – xã hội thể hiện đồng thời 3 tính
    chất:
    -Kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất).
    -Kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ,
    khoanh định, xử lý số liệu…).
    – Pháp chế: (xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử
    dụng và quản lý đất đai theo pháp luật).

  14. Như vậy, có thể định nghĩa: quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của
    Nhà nước (thể hiện đồng thời 3 tính chất, kinh tế, kỹ thuật và pháp chê) về tổ chức sử dụng và
    quản lý đất đai đầy đủ (mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định),
    hợp lý (đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử
    dụng), khoa học (áp dụng thành tựu khoa học – kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến) và có hiệu
    quả nhất (đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế – xã hội -môi trường), thông qua việc phân bố
    quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu
    sản xuất.
    Thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo
    điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững phát huy lợi thế của thổ nhưỡng và lãnh thổ để
    mang lại lợi ích cao, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và
    tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của
    xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương
    hướng nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử
    dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy
    hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; xác lập sựổn định về mặt pháp lý cho
    công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao cấp đất và đầu tư để phát
    triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hoá – xã hội
    với hiệu quả cao.
    Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ
    chức lại việc sử dụng đất đai phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ, hạn chế sự chồng chéo gây
    lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm nghiêm trọng quĩ đất
    nông, lâm nghiệp (đặc biệt là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); ngăn chặn các hiện
    tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm
    môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các
    hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng của từng địa
    phương, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường.
    2.1.2. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
    Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai được thể hiện cụ thể như sau:
    a) Tính lịch sử -xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử của quy hoạch sử
    dụng đất đai. Mỗi hình thái kinh tế – xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể
    hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong
    quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản
    xuất). Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai – là sức
    tự nhiên (nhưđiều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế…), cũng như quan hệ giữa người với
    người (xác nhận bâng văn bản về sở hữu và quyền sử dụng đất giữa những người chủ đất –
    giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
  15. Qui hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản
    xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của
    phương thức sản xuất của xã hội.
    Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự
    phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng,
    củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu
    tô…).
    Ở nước ta hiện nay, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất
    và quyền lợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm
    sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị
    trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích
    kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa
    các lợi ích trên với nhau:
    b)Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện ở hai mặt:
    -Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ… toàn bộ
    tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
    -Quy hoạch sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội,
    như: Khoa học tự nhiên, KH – XH, dân số và đất đai, sản xuất nông công nghiệp, môi trường
    sinh thái…
    Với đặc điểm này, quy hoạch có tính chất tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều
    hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng,
    phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế – xã hội bảo đảm cho nền kinh
    tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định.
    c)Tính dài hạn: quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để phát triển lâu dài kinh
    tế – xã hội. Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài
    cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến. Thời hạn (phương hướng, chính sách và biện pháp sử
    đụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất đai từ trên 10
    năm đến 20 năm hoặc lâu hơn.
    Căn cứ vào các dự báo cụ thể biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế – xã hội quan
    trọng (như thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
    nông nghiệp…) từđó xác định quy hoạch ngắn và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương
    hướng chính sách và biện pháp có tính chiến lược, là căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế
    hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn.
  16. d) Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính
    chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái
    lược về sử dụng đất các ngành, như:
    -Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng.
    -Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành.
    -Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng.
    -Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử
    dụng đất.
    Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế xã hội,
    nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định.
    e) Tính chính sách: quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất rõ đặc tính chính trị và chính
    sách xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan
    đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai với mục
    tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế – xã hội; tuân thủ các
    quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái.
    h)Tính khả biên: Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách
    và tình hình kinh tế – xã hội thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn
    phù hợp. Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là
    cần thiết.
    Điều đó thể hiện tính khả biến của quy hoạch – quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy
    hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “Qui hoạch – thực hiện – quy hoạch lại
    hoặc chỉnh lý – tiếp tục thực hiện…” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày
    càng cao.
    2.2. Những căn cứ pháp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
    Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
    từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp đã và đang
    gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai (bình quân mỗi năm phải chuyển khoảng 30.000 ha
    đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng sang mục đích khác). Việc sử dụng đất đai hợp lý liên
    quan chặt chẽ tới mọi hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến hiệu quả sản
    xuất và sự sống còn của từng người dân cũng như vận mệnh của cả quốc gia. Đảng và Nhà
    nước ta luôn coi trọng công tác quản lý và sử dụng đất đai là vấn đề bức xúc và cần được
    quan tâm hàng đầu.
    Ý chí của toàn Đảng, toàn dân quan tâm đến vấn đề đất đai được thể hiện trong hệ thống
    các văn bản pháp luật, như: Hiến pháp, luật và các văn bản dưới luật. Những văn bản này tạo
    cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, giúp giải đáp.
    về mặt nguyên tắc cho những vấn đề cần đặt ra là:
  17. -Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất đai.
    -Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất đai.
    -Nội dung lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
    -Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
    2.2.1 . Sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch sử dụng đất đai
    Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một hoạt động chiến lược quan trọng luôn
    được Đảng và Nhà nước Việt Nam nêu rõ trong các văn kiện Đảng, trong Hiến pháp và các
    luật.
    -Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã khẳng định “Đất
    đai thuộc sở hữu toàn dân”; “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp
    luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (chương II, điều 18).
    Điều 1 Luật đất đai năm 1993 cũng nêu rõ “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
    thống nhất quản lý”.
    Điều 13 Luật đất đai xác định một trong những nội dung quản lý Nhà ước về đất đai là
    “Qui hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai”.
    Điều 19 Luật đất đai khẳng định “Căn cứ để quyết định giao đất là quy hoạch, kế
    hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”.

    -Nghị định số 01/1997/QH-9, Quốc hội khóa 9, kỳ họp thứ 11 (tháng 4/1997) về kế
    hoạch sử dụng đất cả nước năm 2000 và đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất các cấp
    trong cả nước…
    – Ngày 1/10/2001 Chính phủđã ban hành Nghị định 68/2002/NĐ-CP về quy hoạch kế
    hoạch sử dụng đất. Nghị định này quy định cụ thể việc lập, xét duyệt và quản lý quy hoạch, kế
    hoạch sử dụng đất, đánh dấu một bước phát triển trong việc thực hiện quản lý Nhà nước về
    đất đai nói chung và lĩnh vực quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng.
    Do vậy, để quản lý và sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả nhất cần thiết phải tiến hành
    quy hoạch đất đai.
    2.2.2. Trách nhiệm lập quy hoạch sử dụng đất đai
    Điều 16 Luật đất đai quy định:
    -Chính phủ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai trong cả nước.

  18. -Uỷ ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã) lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
    trong địa phương mình (qui hoạch theo lãnh thổ hành chính) trình Hội đồng nhân dân thông
    qua trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
    -Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn
    của mình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai do ngành, lĩnh vực mình phụ trách để trình
    Chính phủ xét duyệt (qui hoạch ngành).
    -Cơ quan quản lý đất đai ở Trung ương và địa phương phối hợp với cơ quan hữu quan
    giúp Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai.
    Nghị định 68/2001/NĐ-CP, Chính phủ quy định: Tổng cục Địa chính chủ trì phối hợp
    với các Bộ, Ngành có liên quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước. Uỷ ban
    nhân dân các cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình. Bộ quốc phòng,
    Bộ công an lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai cho mục đích quốc phòng, an ninh.
    Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai 5 năm và kế hoạch điều chỉnh bổ
    sung hàng năm của UBND cấp tỉnh; UBND cấp trên xét duyệt quy hoạch sử dụng đất và kế
    hoạch sử đụng đất hàng năm của cấp dưới. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt quy
    hoạch, kế hoạch sử dụng đất có quyền quyết định, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đất đai
    thuộc thẩm quyền của mình.
    Qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết
    định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử
    dụng đất, như: chuyển đất nông nghiệp trồng lúa nước sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc trồng
    cây lâu năm, chuyển đất trồng cây lâu năm sang trồng cây hàng năm, chuyển đất chưa sử
    dụng sang trồng rừng.
    2.2.3. Nội dung lập quy hoạch, kê hoạch sử dụng đất đai
    Luật đất đai (điều 17, năm 1993) quy định nội dung tổng quát của quy hoạch sử dụng đất
    đai như sau:
    – Khoanh định các loại đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư nông thôn, đất
    đô thị, đất chuyên dùng đất chưa sử dụng của từng địa phương và cả nước.
    -Điều chỉnh việc khoanh định các loại đất nói trên cho phù hợp với từng giai đoạn phát
    triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước.
    Nội dung kế hoạch sử dụng đất đai được điều 17, Luật đất đai 1993 quy định:
    -Khoanh định việc sử dụng từng loại đất trong từng thời kỳ kế hoạch (từ tổng thể đến cụ
    thể, quy hoạch trước, kế hoạch sau).
    -Điều chỉnh kế hoạch sử dụng đất đai cho phù hợp với quy hoạch (chỉnh lý từ dưới lên).
  19. 2.2.4. Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
    Qui định thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử đụng đất đai trong phạm vi cả
    nước như sau:
    -Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của các Bộ, cơ quan ngang
    Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
    -UBND cấp trên xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của UBND cấp dưới
    trực tiếp.
    Điều 23 của Luật đất đai năm 1993 quy định thẩm quyền giao đất để sử dụng vào mục
    đích không phải là sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như sau:
    -Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua kế hoạch hàng năm của Chính phủ về việc giao
    đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác.
    -Chính phủ xét duyệt kế hoạch hàng năm của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc
    Trung ương về việc giao đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích
    khác.
    Ngoài các văn bản có tính pháp lý ở mức độ cao (Hiến pháp và Luật đất đai), còn có các
    văn bản dưới luật cũng như các văn bản của các ngành trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vai
    trò, ý nghĩa, căn cứ, nội dung và hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
    đai, như: Nghị định 404/CP, ngày 7/11/1990 ; Nghị định 34/CP, ngày 23/4/1994; Chỉ thị
    247/TTg, ngày 28/4/1995; Chỉ thị 245/TTg, ngày 2/4/1996; Thông tư 106/QHKH-RD, ngày
    15/4/1991; Công văn 03/CV-ĐC, ngày 29/4/1995; Công văn 862/CV-ĐC, ngày 16/7/1996;
    Công văn 518/CV-ĐC, ngày l0/9/1997; Quyết định 657/QĐ-ĐC, ngày 28/1/1995, Nghị định
    68/2001/NĐ-CP.
    2.3. Các loại hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai
    Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất đai.
    Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như sau:
    -Nhiệm vụđặt ra đối với quy hoạch.
    -Số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch.
    -Phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính) cũng như nội dung và phương
    pháp quy hoạch.
    Thông thường hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai được phân loại theo nhiều cấp vị
    khác nhau (như: loại hình, dạng, hình thức quy hoạch…) nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
    về sử dụng đất đai (điều chỉnh quan hệ sử dụng đất như: tư liệu sản xuất) từ tổng thểđến thiết
    kế chi tiết.
  20. Đối với nước ta, Luật đất đai năm 1993 (điều 16, 17, 18) quy định: quy hoạch sử dụng
    đất đai được tiến hành theo lãnh thổ và theo ngành.
    Qui hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ có các dạng sau:
    Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai cả nước.
    Quy hoạch sử dụng đất đai các vùng.
    Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh.
    Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện.
    Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã.

    Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai cấp theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên
    của lãnh thổ. Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh
    thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: Từ trên
    xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và
    bước sau chỉnh lý bước trước.
    Qui hoạch sử dụng đất đai cho các vùng chuyên môn hoá – sản xuất hàng hoá có thể nằm
    gọn trong cấp vị lãnh thổ hoặc không trọn vẹn ở một đơn vị hành chính. Do tính chất đặc thù
    của sản xuất nông nghiệp, ngoài sản phẩm chuyên môn hoá phải kết hợp phát triển tổng hợp
    để xây dựng đầy đủ và hợp lý đất đai.
    Qui hoạch sử dụng đất của xí nghiệp là hệ thống biện pháp về tổ chức kinh tế và kỹ thuật
    nhằm bố trí, sắp xếp, sử dụng các loại đất, như tư liệu sản xuất một cách hợp lý để tạo ra
    nhiều nông sản hàng hoá, đem lại nguồn thu nhập lớn. Nội dung quy hoạch đất đai xí nghiệp
    rất đa dạng và phong phú, bao gồm: quy hoạch đất trồng trọt, quy hoạch thuỷ lợi, quy hoạch
    giao thông, quy hoạch rừng phòng hộ… quy hoạch sử dụng đất đai của xí nghiệp có thể .tiến
    hành trong các vùng sản xuất chuyên môn hoá hoặc có thể độc lập ở ngoài vùng.
    Qui hoạch theo ngành: Dựa trên cơ sởđiều tra đánh giá khả năng thích nghi của đất mà
    phân cho các ngành sử dụng và định hướng cho người sử dụng đất phù hợp với đặc điểm từng
    ngành để có hiệu quả kinh tế cao.
    Hiện nay, một số ngành đã triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đai của ngành mình,
    như: ngành nông nghiệp, giao thông, thuỷ lợi…, nhưng tiến hành còn rất chậm. Hai loại quy
    hoạch này liên quan chặt chẽ với nhau. Các ngành tuy có khác nhau về mục đích sử dụng đất,
    nhưng đều được phân bố trên cùng một lãnh thổ cụ thể nào đó (tức là trên một lãnh thổ tồn tại
    một lúc nhiều ngành). Do đó, tuỳ thuộc vào đặc điểm phân bố lực lượng sản xuất và sự phát
    triển các ngành mà mỗi dạng quy hoạch theo lãnh thổ hành chính có thể bao hàm toàn bộ hoặc
    một số dạng quy hoạch theo ngành.

Download tài liệu Giáo trình Quy hoạch sử dụng đất đai – TS. Lương Văn Hinh (Chủ biên) File Docx, PDF về máy

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button