[Download] Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang) – Tải về File Docx, PDF

Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang)

Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang)
Nội dung Text: Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang)

Download


Giáo trình Kinh tế vi mô gồm có những nội dung chính sau: Tổng quan về kinh tế học, cung – cầu, lý thuyết lựa chọn của người tiêu dùng, lý thuyết hành vi của doanh nghiệp, cạnh tranh và độc quyền, thị trường yếu tố sản xuất. Mời các bạn cùng tham khảo.

Bạn đang xem: [Download] Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang) – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang) File Docx, PDF về máy

Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang)

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang)

  1. 1

    CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC
    Giới thiệu:
    Mỗi chủ thể kinh tế đều có mục tiêu để hướng tới khi tham gia vào thị trường, đó
    là tối đa hóa lợi ích kinh tế của họ. Mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi
    nhuận, mục tiêu của các hộ tiêu dùng là tối đa hóa mức độ tiêu dùng, mục tiêu của
    người lao động là tối đa hóa tiền công và mục tiêu của chính phủ là tối đa hóa lợi ích xã
    hội. Kinh tế học có nhiệm vụ giúp các chủ thể kinh tế giải quyết bài toán tối đa hóa lợi
    ích kinh tế này. Chương 1 sẽ cung cấp cho người học kiến thức tổng quát nhất về kinh
    tế học.
    Mục tiêu:
    – Xác định những vấn đề cơ bản của mọi tổ chức kinh tế và cách thức giải quyết
    của nền kinh tế;
    – Giải thích được Kinh tế học là gì, phân biệt phạm vi phân tích kinh tế học vĩ mô
    và kinh tế học vi mô;
    – Giải thích được khái niệm doanh nghiệp, phân tích các yếu tố của môi trường
    kinh doanh ảnh hưởng đến doanh nghiệp;
    – Phân tích chi phí cơ hội, vận dụng đường giới hạn năng lực sản xuất, các qui luật
    chi phí cơ hội tăng dần, qui luật lợi suất giảm dần,vấn đề hiệu quả kinh tế đến sự lựa
    chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp;
    – Nghiêm túc khi nghiên cứu.
    Nội dung chính:
    1.Nền kinh tế

    1.1. Các chủ thể của nền kinh tế
    Để hiểu được nền kinh tế vận hành như thế nào, chúng ta hãy xem xét các thành
    phần của nền kinh tế và sự tương tác lẫn nhau giữa các thành phần này. Trong nền kinh
    tế giản đơn, các thành phần của nền kinh tế bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp và
    chính phủ.
    – Hộ gia đình: bao gồm một nhóm người chung sống với nhau như một đơn vị ra
    quyết định. Một hộ gia đình có thể gồm một người, nhiều gia đình, hoặc nhóm người
    không có quan hệ nhưng chung sống với nhau.
    Hộ gia đình là nguồn cung cấp lao động, tài nguyên, vốn và quản lý để nhận các
    khoản thu nhập từ tiền lương, tiền lãi và lợi nhuận. Hộ gia đình cũng đồng thời là người
    tiêu dùng các hàng hóa và dịch vụ.
    – Doanh nghiệp: là tổ chức kinh doanh, sở hữu và điều hành các đơn vị kinh
    doanh của nó. Đơn vị kinh doanh là một cơ sở trực thuộc dưới hình thức nhà máy, nông
    trại, nhà bán buôn, bán lẻ hay nhà kho mà nó thực hiện một hoặc nhiều chức năng trong
    việc sản xuất, phân phối sản phẩm hay dịch vụ.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  2. 2

    Một doanh nghiệp có thể chỉ có một đơn vị kinh doanh, hoặc cũng có thể có nhiều
    đơn vị kinh doanh. Trong khi đó một ngành gồm một nhóm các doanh nghiệp sản xuất
    các sản phẩm giống hoặc tương tự nhau.
    Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực như: nhà
    máy, thiết bị văn phòng, phương tiện vận tải, mặt bằng kinh doanh và các nguồn lực
    khác. Các nhà kinh tế phân chia nguồn lực thành các nhóm:
    + Tài nguyên: là nguồn lực thiên nhiên như: đất trồng trọt, tài nguyên rừng, quặng
    mỏ, nước…
    + Vốn (còn gọi là đầu tư), nhằm hỗ trợ cho quá trình sản xuất và phân phối sản
    phẩm. Bao gồm : công cụ máy móc, thiết bị, phân xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải
    + Lao động: bao gồm năng lực trí tuệ và thể lực tham gia vào quá trình sản xuất
    hàng hóa và dịch vụ.
    + Quản lý: là khả năng điều hành doanh nghiệp.Người quản lý thực hiện các cải
    tiến trong việc kết hợp các nguồn lực tài nguyên, vốn, lao động để tạo ra hàng hóa và
    dịch vụ ; đưa ra các quyết định về chính sách kinh doanh; đổi mới sản phẩm, kỹ thuật;
    cải cách quản lý.
    Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
    định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện
    các hoạt động kinh doanh.
    Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế
    hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận.
    Trên thực tế doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: cửa hàng,
    nhà máy, xí nghiệp, hãng,…
    Theo định nghĩa của luật doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam, doanh nghiệp là
    tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
    doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.
    Cũng theo luật trên, ta có thể phân loại các doanh nghiệp thành:
    • Công ty trách nhiệm hữu hạn: là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty
    (có thể là một tổ chức hay một cá nhân đối với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
    viên) chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm
    vi số vốn điều lệ của công ty.
    • Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành
    nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh
    nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
    khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
    • Công ty hợp danh: là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở
    hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh).
    Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  3. 3

    mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành
    viên góp vốn.
    Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
    nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân
    chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
    – Chính phủ: là một tổ chức gồm nhiều cấp, ban hành các luật, qui định và vận
    hành nền kinh tế theo một cơ chế dựa trên luật. Chính phủ cung cấp các sản phẩm và
    dịch vụ công cộng như: an ninh quốc phòng, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng,
    giao thông, giáo dụ. Bằng cách thay đổi và điều chỉnh luật, qui định, thuế, chính phủ có
    thể tác động đến sự lựa chọn của các hộ gia đình và doanh nghiệp.
    1.2. Các yếu tố sản xuất
    Có ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất là sức lao động, đối tượng lao động và
    tư liệu lao động
    Sức lao động: là tổng hợp thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá
    trình lao động. Sức lao động mới chỉ là khả năng của lao động còn lao động là sự tiêu
    dùng sức lao động trong thực hiện.
    Đối tượng lao động: là bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác
    động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình. Đối tượng lao động có hai loại.
    Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng sản, đất, đá, thủy sản… Các đối
    tượng lao động loại này liên quan đến các ngành công nghiệp khai thác. Loại thứ hai đã
    qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi
    dệt, bông… Loại này là đối tượng lao động của các ngành công nghiệp chế biến.
    Tư liệu lao động: là một vật hay các vật làm nhiệm vụ truyền dẫn sự tác động của
    con người lên đối tượng lao động, nhằm biến đổi đối tượng lao động thành sản phẩm
    đáp ứng nhu cầu của con người. Tư liệu lao động lại gồm bộ phận trực tiếp tác động vào
    đối tượng lao động theo mục đích của con người, tức là công cụ lao động, như các máy
    móc để sản xuất), và bộ phận trực tiếp hay gián tiếp cho quá trình sản xuất như nhà
    xưởng, kho, sân bay, đường xá, phương tiện giao thông. Trong tư liệu lao động, công cụ
    lao động giữ vai trò quyết định đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
    1.3. Ba vấn đề kinh tế cơ bản
    Để hiểu được sự vận hành của nền kinh tế,chúng ta phải nhận thức được những vấn
    đề cơ bản mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải giải quyết. Đó là:
    – Sản xuất cái gì?
    – Sản xuất như thế nào?
    – Sản xuất cho ai?
    Quyết định sản xuất cái gì?
    Bao gồm việc giải quyết một số vấn đề cụ thể như: sản xuất hàng hóa, dịch vụ nào,
    số lượng bao nhiêu và thời gian cụ thể nào.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  4. 4

    Để giải quyết tốt vấn đề này, các doanh nghiệp phải làm tốt công tác điều tra nhu
    cầu của thị trường. Từ nhu cầu vô cùng phong phú và đa dạng, các doanh nghiệp phải
    xác định được các nhu cầu có khả năng thanh toán để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
    doanh. Sự tương tác của cung và cầu, cạnh tranh trên thị trường sẽ hình thành nên giá
    của hàng hóa và dịch vụ, là tín hiệu tốt cho việc phân bố các nguồn lực xã hội.
    Quyết định sản xuất như thế nào?
    Bao gồm các vấn đề:
    – Lựa chọn công nghệ sản xuất nào.
    – Lựa chọn các yếu tố đầu vào nào.
    – Lựa chọn phương pháp sản xuất nào.
    Các doanh nghiệp phải luôn quan tâm để sản xuất ra hàng hóa nhanh, có chi phí
    thấp để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường. Các biện pháp cơ bản các doanh nghiệp áp
    dụng là thường xuyên đổi mới kỹ thuật và công nghệ, nâng cao trình độ công nhân và
    lao động quản lý nhằm tăng hàm lượng chất xám trong hàng hóa và dịch vụ.
    Quyết định sản xuất cho ai?
    Bao gồm việc xác định rõ ai sẽ được hưởng và được lợi từ những hàng hóa và dịch
    vụ được sản xuất ra. Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập và giá cả xác định ai sẽ nhận
    hàng hóa và dịch vụ cung cấp. Điều này được xác định thông qua tương tác giữa người
    mua và bán trên thị trường sản phẩm và thị trường nguồn lực.
    Thu nhập chính là nguồn tạo ra năng lực mua bán của các cá nhân và phân phối thu
    nhập được xác định thông qua tiền lương,tiền lãi, tiền cho thuế và lợi nhuận trên thị
    trường nguồn lực sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, những ai có nguồn tài nguyên,
    lao động, vốn và kỹ năng quản lý cao hơn sẽ nhận thu nhập cao hơn. Với thu nhập này,
    các cá nhân đưa ra quyết định loại và số lượng sản phẩm sẽ mua trên thị trường sản
    phẩm và giá cả định hướng cách thức phân bổ nguồn lực cho những ai mong muốn trả
    với mức giá thị trường.
    1.4. Các mô hình kinh tế
    Xã hội có thể vận dụng nhiều cách thức và cơ chế phối hợp để giải quyết các vấn
    đề kinh tế. Các mô hình của nền kinh tế phân loại dựa trên hai tiêu thức sau:
    – Quan hệ sở hữu về nguồn lực sản xuất
    – Cơ chế phối hợp và định hướng các hoạt động của nền kinh tế.
    Nền kinh tế thị trường
    – Quan hệ sở hữu tư nhân về nguồn lực sản xuất.
    – Sử dụng hệ thống thị trường và giá cả để phối hợp và định hướng các hoạt động
    kinh tế.
    Trong nền kinh tế thị trường, các thành phần của nền kinh tế vì lợi ích cá nhân sẽ
    ra các quyết định nhằm tối đa thu nhập. Thị trường là một cơ chế mà ở đó các quyết
    định và sở thích cá nhân được truyền thông và phối hợp với nhau. Thực tế, các sản

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  5. 5

    phẩm và dịch vụ được tạo ra và các nguồn lực được cung cấp dưới điều kiện cạnh tranh
    thị trường thông qua hành động độc lập của người mua và người bán trên thị trường.
    Nền kinh tế thị trường thúc đẩy sử dụng nguồn lực hiệu quả, gia tăng sản lượng, ổn
    định việc làm và tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, vai trò của chính phủ là rất hạn chế, chủ
    yếu là nhằm:
    – Bảo về quyền sở hữu tư nhân về nguồn lực sản xuất.
    – Thiết lập hành lang pháp lý phù hợp với kinh tế thị trường.
    Nền kinh tế kế hoạch
    – Quyền sở hữu công cộng đối với mọi nguồn lực
    – Quyền đưa ra các quyết định kinh tế bởi chính phủ thông qua cơ chế kế hoạch
    hóa tập trung. Chính phủ quyết định cơ cấu các ngành, đơn vị sản xuất và phân bổ sản
    lượng và các nguồn lực sử dụng để tổ chức quá trình sản xuất.
    Các doanh nghiệp sở hữu bởi chính phủ và sản xuất theo định hướng của Chính
    phủ giao kế hoạch sản xuất và định mức chi tiêu cho các doanh nghiệp và hoạch định
    phân bổ nguồn lực cụ thể cho các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu sản xuất.
    Nền kinh tế hỗn hợp: nằm giữa hai thái cực của hai mô hình trên. Hầu hết các
    quốc gia hiện nay đều vận dụng mô hình kinh tế hỗn hợp. Nền kinh tế hỗn hợp phát huy
    ưu điểm của nền kinh tế thị trường, đồng thời tăng cường vai trò của chính phủ trong
    việc điều chỉnh các khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường.
    Vai trò của chính phủ đối với nền kinh tế:
    – Cung cấp một nền tảng pháp lý.
    – Duy trì năng lực cạnh tranh.
    – Phân phối thu nhập.
    – Điều chỉnh phân bổ các nguồn lực xã hội.
    – Ổn định nền kinh tế
    1.5. Sơ đồ hoạt động của nền kinh tế
    Sơ đồ chu chuyển kinh tế thể hiện các giao dịch của nền kinh tế. Trong
    sơ đồ này nền kinh tế được chia thành 2 khu vực: hộ gia đình và doanh
    nghiệp chịu sự tác động qua lại lẫn nhau trong nền kinh tế.
    THỊ TRƯỜNG
    Chi tiêu
    HÀNG HÓA & D.VỤ
    Bán hàng hóa Mua hàng hóa và
    và dịch vụ dịch vụ

    DOANH NGHIỆP HỘ GIA ĐÌNH

    Lao động, vốn,
    Yếu tố sản xuất đất đai

    THỊ TRƯỜNG CÁC
    Lương,
    tiền lãi, Thu nhập
    YẾU TỐ SẢN XUẤT
    tiền thuê,
    lợi nhuận

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  6. 6

    2. Kinh tế học
    2.1. Khái niệm

    Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu cách chọn lựa của nền kinh tế
    trong việc sử dụng nguồn tài nguyên có giới hạn để sản xuất các loại sản phẩm nhằm
    thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người.
    2.2. Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
    Kinh tế học vi mô nghiên cứu sự hoạt động của nền kinh tế bằng cách tách biệt
    từng bộ phận của nền kinh tế: nghiên cứu hành vi ứng xử của các cá nhân về các hàng
    hóa cụ thể trên từng loại thị trường trong mối quan hệ với các tác nhân gây ra bởi hoàn
    cảnh chung.
    Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu sự hoạt động của toàn bộ nền kinh tế như một thể
    thống nhất. Nghiên cứu sự tương tác giữa các cấu khối chung trong nền kinh tế có thể
    điều khiển được.
    Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế ở những góc độ
    khác nhau, tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ không thể tách rời. Kinh tế vi mô
    nghiên cứu những tế bào, những bộ phận, còn kinh tế vĩ mô nghiên cứu tổng thể nền
    kinh tế, được cấu thành từ những tế bào, những bộ phận ấy.
    Trong thực tiễn kết quả kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào các hành vi của kinh tế vi mô,
    kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp, của các tế bào kinh
    tế. Kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo điều kiện cho kinh tế vi mô phát
    triển.
    Phân biệt kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô:
    Kinh tế học vĩ mô : Nghiên cứu toàn bộ nền kinh tế: sản lượng, tăng trưởng, lạm
    phát, thất nghiệp v.v.
    Kinh tế học vi mô : – Lấy cá nhân (người tiêu dùng, người lao động, nhà đầu tư
    v.v.), các đơn vị SX – KD, nhà nước (trung ương và địa phương) làm đơn vị phân tích
    – Nghiên cứu cách thức các đơn vị kinh tế tương tác với
    nhau để hình thành các thực thể kinh tế lớn hơn (thị trường, ngành công nghiệp v.v.)..
    Mối quan hệ giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô chúng có mối quan hệ tác động
    qua lại, phụ thuộc, bổ sung lẫn nhau.
    3. Lựa chọn kinh tế tối ưu
    3.1. Lý thuyết lựa chọn
    Lựa chọn kinh tế tối ưu là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt của Kinh tế học vi mô. Lý do
    giải thích tại sao các chủ thể kinh tế luôn phải đối mặt với những sự lựa chọn. Tại sao

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  7. 7

    phải nghiên cứu lý thuyết lựa chọn? Tại sao người tiêu dùng lại chọn hàng hóa này mà
    không chọn hàng hóa khác? Tại sao doanh nghiệp này lại sản xuất mặt hàng này mà
    không sản xuất mặt hàng khác? Đó là do sự tồn tại của quy luật khan hiếm tài nguyên.
    Tài nguyên khan hiếm buộc các doanh nghiệp, các hộ gia đình và chính phủ phải lựa
    chọn một phương án tốt nhất nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên khan hiếm.
    Người sản xuất phải lựa chọn các kết hợp đầu vào và đầu ra khác nhau. Người tiêu dùng
    phải lựa chọn giữa các tập hợp hàng hóa khác nhau. Tuy nhiên khi tiến hành lựa chọn
    phải căn cứ vào các nguồn lực giới hạn khả năng lựa chọn.

    3.2. Đường giới hạn khả năng sản xuất
    3.2.1. Sự khan hiếm

    Sự khan hiếm tồn tại bất cứ khi nào nhu cầu của một cá nhân hoặc một chủ thể
    kinh tế lớn hơn khả năng sẵn có về tài nguyên để thỏa mãn nhu cầu đó. Ví dụ, một em
    bé mong muốn có một lon coca giá 6 ngàn đồng và một phong kẹo cao su 2 ngàn đồng,
    trong khi đó nó chỉ có trong tay 7 ngàn đồng, em bé đó gặp phải sự khan hiếm. Vấn đề
    quan trọng hơn là sự khan hiếm luôn tồn tại vì mẫu thuẫn vốn có giữa nhu cầu về hàng
    hóa, dịch vụ và khả năng thỏa mãn nhu cầu. Mẫu thuẫn này được thể hiện ở chỗ nhu cầu
    của con người tăng lên không ngừng trong khi khả năng sản xuất của xã hội để thỏa
    mãn nhu cầu lại có giới hạn do sự hạn chế về tài nguyên.

    Tài nguyên được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm mọi nguồn lực để sản xuất ra các
    hàng hóa, dịch vụ bao gồm tiền vốn, đất đai, máy móc thiết bị, công nghệ, quản lý, thời
    gian. Đối với các doanh nghiệp sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ, nguồn lực khan hiếm
    chính là các yếu tố sản xuất khan hiếm. Đối với người tiêu dùng, nguồn lực khan hiếm
    chính là lượng thu nhập nhất định mà anh ta kiếm được dùng để mua sắm các hàng hóa,
    dịch vụ cho tiêu dùng.

    3.2.2. Chi phí cơ hội

    Chi phí cơ hội là một khái niệm hữu ích được sử dụng trong lý thuyết lựa chọn. Nó
    được vận dụng rất thường xuyên và rộng rãi trong đời sống kinh tế. Chi phí cơ hội dựa
    trên cơ sở là nguồn lực khan hiếm nên buộc chúng ta phải thực hiện sự lựa chọn. Lựa
    chọn tức là thực hiện sự đánh đổi, tức là để nhận được một lợi ích nào đó buộc chúng ta
    phải đánh đổi hoặc bỏ qua một chi phí nhất định cho nó. Như vậy, chi phí cơ hội của
    một phương án được lựa chọn là giá trị của phương án tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện
    sự lựa chọn đó (và là những lợi ích mất đi khi chọn phương án này mà không chọn
    phương án khác; Phương án được chọn khác có thể tốt hơn phương án đã chọn). Do quy
    luật về sự khan hiếm nên luôn tồn tại những sự đánh đổi khi thực hiện các sự lựa chọn.
    Hay nói cách khác, chi phí cơ hội luôn tồn tại.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  8. 8

    Một ví dụ đơn giản của chi phí cơ hội là khi lựa chọn việc đến lớp nghe giáo sư
    giảng bài, một học viên sẽ mất cơ hội gặp gỡ ký kết hợp đồng với một đối tác làm ăn,
    hoặc mất cơ hội tham dự một hội thảo khác cũng đang được tổ chức trong thời gian đó.
    Thời gian là nguồn lực khan hiếm nên không thể cùng một lúc thực hiện được cả ba
    phương án. Nếu lựa chọn đến lớp nghe giáo sư giảng bài, thì phương án tốt nhất bị bỏ
    qua đối với người học viên là gặp mặt đối tác để ký kết hợp đồng. Cụ thể hơn, nếu hợp
    đồng đó mang lại cho anh ta 10 triệu đồng, thì có thể nói là chi phí cơ hội của việc đến
    lớp nghe giáo sư giảng bài là giá trị của phương án tốt nhất đã bị bỏ qua đó, tức là 10
    triệu đồng.

    Trong sản xuất, đó là số lượng các hàng hóa khác cần phải hy sinh để có thêm một
    đơn vị hàng hóa nào đó. Mỗi một hoạt động đều có một chi phí cơ hội. Ví dụ, khi một
    người nào đó đầu tư 10.000 USD vào chứng khoán thì chính người đó đã bỏ lỡ cơ hội
    được hưởng lãi nếu gửi 10.000 USD vào ngân hàng như một khoàn tiền tiết kiệm. Chi
    phí cơ hội của dự án đầu tư 10.000 USD vào chứng khoán bằng khoản lãi tiết kiệm đáng
    ra có thể có được. Chi phí cơ hội không chỉ là việc mất tiền bạc hay chi phí về tài chính,
    nó còn bao gồm cả những thứ khác như: thời gian, ý thích, hoặc những lợi nhuận khác.

    Chi phí cơ hội được sử dụng như là căn cứ để so sánh với lợi ích thu được khi thực
    hiện các sự lựa chọn, và đó là chi phí kinh tế. Các nhà kinh doanh và người tiêu dùng
    thực hiện lựa chọn trên cơ sở so sánh lợi ích thu được và chi phí bỏ ra tại mỗi điểm biên
    (tức là tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hoặc tiêu dùng thêm). Ví dụ
    trong việc lựa chọn lượng hàng hóa tiêu dùng tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng
    hóa được tiêu dùng thêm là giá cả một đơn vị sản phẩm, và nó được so sánh với lợi ích
    cận biên thu được khi tiêu dùng thêm đơn vị sản phẩm đó. Trong việc lựa chọn lượng
    hàng hóa sản xuất tối ưu, chi phí cơ hội của mỗi đơn vị hàng hóa sản xuất thêm là chi
    phí cận biên của mỗi đơn vị sản phẩm sản xuất thêm, và được so sánh với doanh thu cận
    biên của đơn vị sản phẩm tăng thêm đó. Việc phân tích, so sánh lợi ích – chi phí tại điểm
    biên chính là nội dung của phương pháp phân tích cận biên đã đề cập trên đây.

    3.2.3. Đường giới hạn khả năng sản xuất

    Sự khan hiếm tài nguyên làm cho việc sản xuất bị hạn chế về mặt sản lượng.
    Đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết các kết hợp khác nhau của hai (hay nhiều
    loại hàng hóa) có thể được sản xuất từ một số lượng nhất định của nguồn tài nguyên
    (khan hiếm). Đường giới hạn khả năng sản xuất minh họa cho sự khan hiếm của nguồn
    tài nguyên. Thí dụ, giả sử một nền kinh tế có bốn đơn vị lao động tham gia vào sản xuất
    thực phẩm và vải. Số liệu về khả năng sản xuất của nền kinh tế này được trình bày trong
    bảng 1.1 dưới đây:

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  9. 9

    Bảng 1.1: Số liệu về khả năng sản xuất
    Phương Thực phẩm Vải
    án Số đơn vị Số đơn vị
    sản xuất Sản lượng Sản lượng
    lao động lao động
    A 4 25 0 0
    B 3 22 1 9
    C 2 17 2 17
    D 1 10 3 24
    E 0 0 4 30
    Dựa vào số liệu trong bảng 1.1, ta có thể vẽ nên một đường cong được gọi là
    đường giới hạn khả năng sản xuất như trong hình 1.2 dưới đây.

    Thực phẩm

    (số lượng) Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF)
    A
    25
    B

    22
    C
    17
    D
    10
    E

    9 17 24 30 Vải (số lượng)

    Hình 1.2. Đường giới hạn khả năng sản xuất
    Tổng quát, đường giới hạn khả năng sản xuất cho biết sản lượng tối đa của hai (hay
    nhiều) sản phẩm có thể sản xuất được với một số lượng tài nguyên nhất định.
    Nếu số công nhân phân định cho mỗi ngành càng nhiều thì sẽ càng tạo ra nhiều sản
    phẩm, nhưng năng suất của mỗi công nhân về sau càng giảm. Hiện tượng này được mô
    tả bởi quy luật kết quả biên giảm dần. Quy luật kết quả biên giảm dần cho biết là sẽ trở
    nên khó hơn khi thực hiện một hoạt động nào đó ở mức độ cao hơn. Thí dụ, khi ta lái xe
    thật chậm, ta có thể dễ dàng tăng tốc độ lên, chẳng hạn, 10 km/giờ, nhưng khi ta đã lái
    xe thật nhanh thì việc tăng tốc độ lên thêm 10km/giờ sẽ rất khó đạt được. Quy luật này
    có thể được quan sát thấy ở rất nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực kinh tế, ta có thể cụ thể

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  10. 10

    hóa nó như sau: việc mở rộng sản xuất bất kỳ một hàng hóa nào đó thì sẽ càng lúc càng
    khó hơn và ta phải sử dung nguồn tài nguyên càng lúc càng nhiều để tạo ra thêm một
    sản phẩm. Việc tăng mức độ thỏa mãn của ta đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ càng
    lúc càng khó khăn hơn khi chúng ta tiêu dùng nó càng nhiều.
    Nếu ta di chuyển dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất, chẳng hạn từ điểm A
    đến điểm B của hình 1.2, ta sẽ thấy việc sản xuất thêm vải sẽ làm cho số lương thực
    giảm đi. Từ nhận xét này, các nhà kinh tế giới thiệu khái niệm chi phí cơ hội của việc
    sản xuất thêm một loại hàng hóa nào đó.
    Chi phí cơ hội (để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm X) là số đơn vị sản phẩm
    Y phải sản xuất bớt đi để sản xuất ra thêm một đơn vị sản phẩm X. Như vậy, nghịch dấu
    với độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất tại một điểm chính là chi phí cơ hội tại
    điểm đó. Do đó, trên sơ đồ trên ta có thể thấy chi phí cơ hội khác nhau giữa hai điểm A
    và B của đường giới hạn khả năng sản xuất.
    Công thức tính chi phí cơ hội như sau:
    dY
    Chi phí cơ hội = – = – Độ dốc của đường giới hạn khả năng sản xuất
    dX
    Đường giới hạn khả năng sản xuất cho chúng ta thấy 3 vấn đề lớn như sau :
    – Sự khan hiếm: được biểu thị bằng sự tồn tại của các kết hợp không thể đạt được.
    – Sự lựa chọn: được biểu thị bằng sự cần thiết phải lựa chọn giữa các kết hợp có
    thể đạt được (nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất).
    – Chi phí cơ hội: được biểu thị qua dạng nghịch biến của đường giới hạn khả năng
    sản xuất. Nó cho thấy để có thêm được một sản phẩm này thì ta phải từ bỏ một hay
    nhiều sản phẩm khác.
    Sự lựa chọn kinh tế tối ưu trước hết phải nằm trên đường giới hạn năng lựcsản xuất
    hiện có, nhưng trên đường năng lực cho phép đó, chúng ta sẽ chọn tại điểm nào thì tối
    ưu nhất cho mong muốn của chúng ta. Điểm có hiệu quả nhất trước hết là điểm nằm
    trên đường giới hạn khả năng sản xuất và điểm đó thỏa mãn tối đa các nhu cầu của xã
    hội và con người mong muốn.
    3.3. Ảnh hưởng của các quy luật kinh tế đối với sự lựa chọn tối ưu.
    3.3.1. Tác dụng của quy luật khan hiếm
    Nhu cầu của con người không ngừng tăng lên và ngày càng đa dạng, phong phú,
    đòi hỏi hàng hóa và chất lượng dịch vụ ngày càng cao, tiện ích mang lại ngày càng
    nhiều. Tuy nhiên tài nguyên để thỏa mãn những nhu cầu trên ngày càng khan kiếm và
    cạn kiệt (đất đai, khoáng sản, lâm sản, hải sản…).
    Quy luật khan hiếm tài nguyên so với nhu cầu của con người ảnh hưởng gây gắt
    đến sự lựa chọn kinh tế tối ưu trong hoạt động kinh tế vi mô. Đối với vấn đề lựa chọn
    kinh tế tối ưu đặt ra ngày càng thực hiện rất khó khăn. Đòi hỏi doanh nghiệp phải lựa
    chọn những vấn đề kinh tế cơ bản của mình trong giới hạn cho phép của khả năng sản
    xuất và sức cạnh tranh ngày càng gia tăng.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  11. 11

    3.3.2. Tác dụng của quy luật lợi suất giảm dần
    Quy luật lợi suất giảm dần cho biết khối lượng đầu ra có thêm ngày càng giảm khi
    ta liên tiếp bỏ thêm những đơn vị bằng nhau của một đầu vào biến đổi (đầu vào khác
    giữ nguyên).
    Quy luật lợi suất giảm dần đòi hỏi trong lựa chọn tối ưu doanh nghiệp phải phối
    hợp đầu vào sản xuất với một tỷ lệ tối ưu
    3.3.3. Tác động của quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng
    Chi phí cơ hội: là chi phí để sản xuất ra một mặt hàng được tính bằng số lượng mặt
    hàng khác bị bỏ đi để sản xuất thêm một đơn vị mặt hàng đó.
    Quy luật chi phí cơ hội ngày càng tăng cho biết: khi muốn tăng dần từng đơn vị
    mặt hàng này, xã hội phải bỏ đi ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác: quy luật đòi
    hỏi sử dụng tài nguyên vào sản xuất các mặt hàng khác nhau một cách hiệu quả .
    3.3.4. Hiệu quả kinh tế
    Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung, kinh tế vi
    mô nói riêng. Hiệu quả, nói khái quát nghĩa là không lãng phí, nhưng nó quan hệ chặt
    chẽ với việc sử dụng năng lực sản xuất hiện có. Một doanh nghiệp hoạt động có hiệu
    quả khi nó không thể sản xuất một mặt hàng với số lượng nhiều hơn, mà không sản xuất
    một mặt hàng khác với số lượng ít hơn, khi nó nằm trên đường giới hạn khả năng sản
    xuất. Mức sản xuất có hiệu quả nằm trên đường năng lực sản xuất, nhưng điểm có hiệu
    nhất là điểm cho phép vừa sản xuất tối đa các loại hàng hóa theo nhu cầu thị trường và
    sử dụng đầy đủ năng lực sản xuất. Dưới đường năng lực sản xuất là không có hiệu quả
    vì sử dụng không đầy đủ năng lực sản xuất. Ngoài đường năng lực sản xuất là không
    khả thi.
    Như vậy, ta có thể nhấn mạnh mấy vấn đề cơ bản về hiệu quả kinh tế theo quan
    điểm kinh tế học vi mô:
    – Tất cả những quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn năng lực sản xuất là
    có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực.
    – Số lượng hàng háo đạt trên đường giới hạn của năng lực sản xuất càng lớn càng
    có hiệu quả cao.
    – Sự thỏa mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hóa theo nhu cầu thị
    trường trong giới hạn cảu đường năng lực sản xuất cho ta đạt được hiệu quả kinh tế cao
    nhất.
    – Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vị kết quả
    càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao.
    Sự đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất cho ta khả
    năng tăng trưởng kinh tế nhanh và tích lũy lớn. Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất
    của mọi sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
    3.3.5. Ảnh hưởng của mô hình kinh tế
    Mô hình kinh tế chỉ huy

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  12. 12

    Doanh nghiệp hoạt động theo những kế hoạch kinh tế của chính phủ , dựa trên
    quan hệ cấp phát, giao nộp sản phẩm hầu như doanh nghiệp không có cơ hội lựa chọn ,
    những vấn đề kinh tế cơ bản đều được giải quyết từ kế hoạch hóa tập trung của chính
    phủ . Doanh nghiệp chỉ là người thực hiện , chỉ lựa chọn những phương hướng , những
    giải pháp để thực hiện tốt nhất kế hoạch chính phủ trên cơ sở những quy định của chính
    phủ.
    Mô hình kinh tế thị trường
    Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập tự chủ kinh doanh , phải lựa chọn , xác
    định tối ưu những vấn đề kinh tế cơ bản. Nó không gặp phải những sức ép hay sự hỗ trợ
    nào đó từ chính phủ , tuy nhiên cạnh tranh gay gắt , biến động khó lường. Doanh nghiệp
    phải năng động nhạy bén tìm mọi biện pháp để phân phối sử dụng nguồn lực có hiệu
    quả nhất. Có thể nói ở đây sự lựa chọn kinh tế tối ưu của doanh nghiệp đã đạt đến đỉnh
    cao của tự do lựa chọn .
    Mô hình kinh tế hỗn hợp
    Mô hình kinh tế này phát huy được tính năng động , tích cực của doanh nghiệp
    trong tự chủ kinh doanh tạo ra động lực phát triển khoa học , kỹ thuật và kinh tế . Đồng
    thời phát huy được vai trò quản lý điều tiết kinh tế vĩ mô của chính phủ là điều kiện cần
    thiết để doanh nghiệp lựa chọn kinh tế tối ưu một cách có hiệu quả.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  13. 13

    CÂU HỎI
    1. Những nhận định nào dưới đây thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vi mô và
    những nhận định nào thuộc phạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô?
    a. Đánh thuế cao vào mặt hàng rượu bia sẽ hạn chế số lượng bia được sản xuất.
    b. Thất nghiệp trong lực lượng lao động đã tăng nhanh vào thập niên 2000.
    c. Thu nhập của người tiêu dùng tăng sẽ làm cho người tiêu dùng chi tiêu nhiều
    hơn.
    d. Người công nhân nhận được lương cao hơn sẽ mua nhiều hàng xa xỉ hơn.
    e. Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế năm nay cao hơn năm qua.
    f. Các doanh nghiệp sẽ đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.
    2. Bạn có giải quyết ba vấn đề cơ bản của kinh tế trong cuộc sống hàng ngày không?
    Cho ví dụ minh họa.
    3. Những nhận định nào dưới đây không đúng đối với nền kinh tế kế hoạch tập trung?
    a. Các doanh nghiệp tự do lựa chọn thuê mướn nhân công.
    b. Chính phủ kiểm soát phân phối thu nhập.
    c. Chính phủ quyết định cái gì nên sản xuất.
    d. Giá cả hàng hoá do cung – cầu trên thị trường quyết định.
    4. Tại sao đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) có thể minh họa cho sự khan hiếm
    tài nguyên?
    5. Kinh tế học đề cập đến ba vấn đề cơ bản của xã hội: sản xuất ra cái gì, như thế nào và
    cho ai. Những sự kiện sau đây liên quan đến vấn đề nào trong ba vấn đề trên?
    a. Các nhà khai khoáng mới phát hiện ra mỏ dầu có trữ lượng lớn.
    b. Chính phủ điều chỉnh thuế thu nhập sao cho người nghèo được phân phối nhiều
    hơn từ người giàu.
    c. Chính phủ cho phép tư nhân hóa một số ngành chủ yếu.
    d. Phát minh ra máy vi tính.
    6. Một bộ lạc sống trên một hòn đảo nhiệt đới gồm có 5 người. Thời gian của họ dành
    để thu hoạch dừa và nhặt trứng rùa. Một người có thể thu được 20 quả dừa hay là 10
    quả trứng một ngày.
    a. Hãy vẽ đường giới hạn khả năng sản xuất đối với dừa và trứng.
    b. Giả sử có một sáng chế ra một kỹ thuật trèo cây mới giúp công việc hái dừa dễ
    dàng hơn nên mỗi người có thể hái được 28 quả một ngày. Hãy vẽ đường giới hạn khả
    năng sản xuất mới.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  14. 14

    CHƯƠNG 2: CUNG – CẦU
    Giới thiệu:
    Chương 2 “Cung – cầu” nhằm giới thiệu cho sinh viên khái niệm cung, cầu; phân
    biệt được sự khác nhau giữa thay đổi lượng cầu, lượng cung và thay đổi cầu, thay đổi
    cung. Thông qua mô hình cung cầu lý giải sự hình thành và vận động của giá cả trong
    cơ chế thị trường tự do cạnh tranh. Ngoài ra độ co giãn của cầu, độ co giãn của cung –
    những chỉ tiêu đo lường mức độ phản ứng của người tiêu dùng và của nhà sản xuất
    trước sự thay đổi của các biến số kinh tế – cũng được giải thích cùng với sự vận dụng.
    Khái niệm thặng dư của người tiêu dùng và thặng dư của nhà sản xuất là một nội dung
    quan trọng của chương này sẽ được giải thích. Đây là công cụ căn bản quan trọng để
    phân tích những tác động đến phúc lợi của các thành phần liên quan cũng như toàn xã
    hội trước những chính sách can thiệp của chính phủ vào thị trường. Đồng thời chúng là
    cơ sở để đánh giá tính hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực xã hội của các ngành.
    Mục tiêu:
    – Hiểu được khái niệm cầu, lượng cầu, cầu cá nhân, cầu thị trường, luật cầu, cung,
    lượng cung, cung cá nhân, cung thị trường;
    – Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu, cung hàng hóa trên thị trường;
    – Giải thích trạng thái cần bằng thị trường, cơ chế hình thành giá cả của hàng hóa
    trên thị trường; sự thay đổi của cung cầu ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng;
    – Tính độ co giãn của cung, cầu;
    – Giải thích được sự can thiệp của Chính phủ đến giá cả của hàng hóa trên thị
    trường, qua đó ảnh hưởng đến lợi ích của người sản xuất, người tiêu dung khi mua bán
    hàng hóa, dịch vụ trên thị trường;
    – Nghiêm túc khi nghiên cứu.
    Nội dung chính:
    1. Cầu
    1.1. Khái niệm
    Cầu (của người mua) đối với một loại hàng hóa nào đó là số lượng của loại hàng
    hóa đó mà người mua muốn mua tại mỗi mức giá chấp nhận được trong một thời gian
    nhất định nào đó tại một địa điểm nhất định.
    Khái niệm nêu trên cho thấy cầu không phải là một số lượng cụ thể mà là một sự
    mô tả toàn diện về số lượng hàng hóa mà người mua muốn mua ở mỗi mức giá cụ thể.
    Số lượng của một loại hàng hóa nào đó mà người mua muốn mua ứng với một mức
    giá nhất định được gọi là lượng cầu của hàng hóa đó tại mức giá đó. Như thế, lượng cầu
    chỉ có ý nghĩa khi gắn với một mức giá cụ thể.
    Cầu của cá nhân:Là lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người ấy mua ở các mức giá
    khác nhau.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  15. 15

    Cầu của thị trường:Là tổng mức cầu của các cá nhân ở các mức giá.
    1.2. Luật cầu
    Thí dụ: Cầu đối với áo quần được trình bày trong bảng 2.1. Chúng ta nhận thấy
    một đặc điểm của hành vi của người tiêu dùng là: khi giá càng cao, lượng cầu của
    người tiêu dùng giảm đi. Chẳng hạn, ở mức giá là không, người mua được cho không áo
    quần. Vì thế, lượng cầu ở mức giá này sẽ rất cao và có thể không thống kê được. Khi giá
    tăng lên 40.000 đồng/bộ, một số người tiêu dùng không còn khả năng thanh toán hay
    người tiêu dùng mua ít đi do cảm thấy giá đắt hơn nên từ bỏ ý định mua. Do vậy, lượng
    cầu lúc này giảm xuống còn 160.000 bộ/tuần. Tương tự, khi giá càng cao, số lượng
    hàng hóa mà người mua muốn mua tiếp tục giảm. Nếu giá là 200.000 đồng/bộ, người
    mua có lẽ không chấp nhận mức giá này nên không mua một hàng hóa nào hay lượng
    cầu lúc này bằng không.
    Bảng 2.1. Cầu và cung đối với áo quần
    Giá (1.000 đồng/ bộ) Cầu (1.000 bộ/ tuần) Cung (1.000 bộ/ tuần)
    0 – 0
    40 160 0
    80 120 40
    120 80 80
    160 40 120
    200 0 160

    Hàm cầu và đường cầu
    Từ thí dụ trên ta thấy rằng cầu của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa nào
    đó phụ thuộc vào giá của mặt hàng đó, nếu như các yếu tố khác là không đổi. Khi giá
    tăng thì lượng cầu giảm đi và ngược lại. Vì vậy, với giả định là các yếu tố khác là không
    đổi, ta có thể biểu diễn lượng cầu đối với một hàng hóa nào đó như là một hàm số của
    giá của chính hàng hóa đó như sau:
    QD = f(P) (2.1)
    Hàm số biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu của một mặt hàng và giá của nó,
    như hàm số (2.1), được gọi là hàm cầu. Để tiện lợi cho việc lý giải các vấn đề cơ bản
    của kinh tế học vi mô, người ta thường dùng hàm số bậc nhất (hay còn gọi là hàm số
    tuyến tính) để biểu diễn hàm cầu. Vì vậy, hàm cầu thường có dạng:
    QD = a + bP hay P = α + β QD (2.2)
    Trong đó: QD là số lượng cầu (hay còn gọi là số cầu); P là giá cả và a, b, α và β là
    các hằng số.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  16. 16

    Vì lượng cầu và giá có mối quan hệ nghịch biến với nhau nên hệ số b có giá trị
    không dương (b < 0); tương tự, β ≤ 0. Với dạng hàm số như (2.2), đồ thị của hàm cầu
    (hay còn gọi là đường cầu) có thể được vẽ như một đường thẳng (Hình 2.1).
    Các điểm nằm trên đường cầu sẽ cho biết lượng cầu của người mua ở các mức giá
    nhất định. Thí dụ, điểm A nằm trên đường cầu D trong hình 2.1 cho biết lượng cầu ở
    mức giá 120.000 đồng/bộ là 80.000 bộ. Khi giá tăng từ 120.000 đồng/bộ đến 160.000
    đồng/bộ, lượng cầu giảm xuống còn 40.000 bộ (điểm B)

    P

    (1000đ/ bộ)
    B
    160

    A
    120

    Đường cầu (D)

    40 80 QD (1000bộ/ tuần)

    Hình 2.1. Đường cầu
    Do giá tăng từ 120.000 đồng/bộ đến 160.000 đồng/bộ, điểm A di chuyển đến điểm
    B trên đường cầu D. Sự di chuyển này gọi là sự di chuyển dọc theo đường cầu. Sự di
    chuyển này bắt nguồn từ sự thay đổi của giá của chính hàng hóa đó.
    Khi xem xét hình dạng của đường cầu, ta cần lưu ý các điểm sau:
    Đường cầu thường có hướng dốc xuống từ trái sang phải vì khi giá cả tăng lên
    lượng cầu giảm đi.
    Đường cầu không nhất thiết là một đường thẳng. Trong hình 2.1, ta vẽ đường cầu
    có dạng đường thẳng, điều này chỉ nhằm làm đơn giản hóa việc khảo sát của chúng ta về
    cầu. Trong nhiều trường hợp, đường cầu có thể có dạng đường cong.
    1.3. Các yếu tố tác động đến cầu
    Trong các phần trước, khi nghiên cứu đường cầu của một loại hàng hóa chúng ta
    giả định là các yếu tố khác với giá của hàng hóa đó là không đổi. Bây giờ, chúng ta sẽ
    lần lượt xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố khác với giá đến lượng cầu đối với hàng
    hóa. Nhận xét tổng quát là: các yếu tố khác với giá thay đổi có thể làm dịch chuyển
    đường cầu. Cũng cần lưu ý rằng chúng ta chỉ có thể nghiên cứu ảnh hưởng của từng yếu
    tố một đến cầu, mà không xem xét ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố như một tổng thể.
    Điều này có nghĩa là khi nghiên cứu ảnh hưởng của một yếu tố này thì ta giả định các
    yếu tố khác không đổi. Có như thế ta mới nhận thấy rõ tác động của yếu tố mà ta cần
    xem xét. Phương pháp nghiên cứu như vậy gọi là phương pháp phân tích so sánh tĩnh.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  17. 17

    Sự ảnh hưởng của các yếu tố khác với giá đến cầu đối với hàng hóa được mô tả như
    dưới đây.
    1.3.1. Thu nhập của người tiêu dùng
    Khi thu nhập tăng, cầu đối với hầu hết các hàng hóa đều gia tăng vì với thu nhập
    cao hơn người tiêu dùng thường có xu hướng mua hàng hóa nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng
    có những ngoại lệ, tùy thuộc vào tính chất của hàng hóa, như được trình bày dưới đây.
    Cầu đối với loại hàng hóa thông thường sẽ tăng khi thu nhập của người tiêu dùng
    tăng. Thí dụ, người tiêu dùng sẽ mua quần áo, sẽ mua ti-vi màu, sử dụng các dịch vụ
    giải trí, v.v. nhiều hơn khi thu nhập của họ tăng lên. Những hàng hóa này là những hàng
    hóa thông thường. Ngược lại, cầu đối với hàng hóa thứ cấp (hay còn gọi là cấp thấp) sẽ
    giảm khi thu nhập của người tiêu dùng tăng. Hàng cấp thấp thường là những mặt hàng
    rẻ tiền, chất lượng kém như ti-vi trắng đen, xe đạp, v.v. mà mọi người sẽ không thích
    mua khi thu nhập của họ cao hơn.
    Nói chung, khi thu nhập thay đổi, người tiêu dùng sẽ thay đổi nhu cầu đối với các
    loại hàng hóa. Điều này sẽ tạo nên sự dịch chuyển của đường cầu. Hình 2.2 trình bày sự
    dịch chuyển của đường cầu do ảnh hưởng của thu nhập có tính đến tính chất của hàng
    hóa. Đường cầu đối với hàng hóa thông thường sẽ dịch chuyển về phía phải khi thu
    nhập của người tiêu dùng tăng lên; ngược lại, đường cầu đối với hàng hóa cấp thấp sẽ
    dịch chuyển về phía trái khi khi thu nhập của người tiêu dùng tang lên.
    Một loại hàng hóa có thể vừa là hàng hóa thông thường và vừa là hàng hóa cấp
    thấp. Chẳng hạn, người tiêu dùng sẽ mua quần áo nhiều hơn ứng với một mức giá nhất
    định khi thu nhập tăng. Người tiêu dùng có lẽ sẽ chi tiền nhiều hơn cho các loại quần áo
    thời trang, cao cấp, đẹp nhưng sẽ chi ít hơn cho các loại quần áo rẻ tiền, kém chất
    lượng. Như vậy, quần áo có thể vừa là hàng hoá bình thường và vừa là hàng hoá cấp
    thấp.
    Cùng với sự gia tăng của thu nhập của người tiêu dùng theo thời gian, một hàng
    hóa, dịch vụ là hàng bình thường hôm nay có thể trở thành một hàng thứ cấp trong
    tương lai. Thí dụ, ở Việt Nam, xe đạp là hàng hóa bình thường vào đầu những năm
    1990 nhưng lại là hàng thứ cấp vào cuối những năm 1990 do thu nhập của người tiêu
    dùng vào cuối những năm 1990 cao hơn thu nhập vào đầu những năm 1990.
    Khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, nếu quần áo là hàng hóa thông thường,
    (a) tại mức giá 120, lượng cầu tăng từ 80 lên 100, làm cho đường cầu dịch chuyển sang
    phải từ D1 đến D2. Nếu quần áo là hàng hóa thứ cấp, người tiêu dùng giảm lượng mua
    xuống còn 60, đường cầu dịch chuyển sang trái (b)

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  18. 18

    P P

    A1 A2 A2 A1
    120 120

    (D2) (D1)
    (D1) (D2)

    80 100 QD 60 80 QD
    a) Sự thay đổi cầu của b) Sự thay đổi cầu của
    hàng hóa thông thường hàng hóa thứ cấp

    Hình 2.2. Ảnh hưởng của sự gia tăng thu nhập đến cầu của
    hàng hóa thông thường và thứ cấp

    Bảng 2.2. Khối lượng tiêu dùng một số hàng lương thực thực phẩm
    phân theo nhóm chi tiêu
    Nhóm chi tiêu
    1 2 3 4 5
    Thu nhập (1000 đồng) 1239 1904 2450 3440 8646
    Hàng hóa
    Gạo các loại (kg) 11,48 13,37 13,62 13,22 10,94
    Muối (kg) 0,32 0,33 0,31 0,31 0,25
    Thịt các loại (kg) 0,49 0,81 1,03 1,44 2,06
    Trứng (quả) 0,73 1,52 1,95 2,94 4,60
    Thủy hải sản (kg) 0,66 0,96 1,22 1,41 1,43
    Sữa, sản phẩm sữa (kg) 0,00 0,01 0,05 0,03 0,17
    Nước giải khát (lít) 0,01 0,04 0,05 0,12 0,28
    Bia, rượu (lít) 0,32 0,37 0,40 0,51 0,66
    Bảng 2.2 cho thấy mối liên hệ giữa thu nhập và số lượng tiêu thụ của một số loại
    hàng tiêu dùng tính bình quân trên một hộ gia đình của nước ta trong giai đoạn 2007-
    2008. Trong các mặt hàng lương thực – thực phẩm, gạo và muối có thể được xem như là
    hàng cấp thấp vì các hộ gia đình có thu nhập càng cao có xu hướng tiêu dùng gạo và
    muối càng ít đi. Đó là do khi thu nhập tăng lên, tâm lý tiêu dùng của người dân có thể
    thay đổi. Khi thu nhập tăng lên, người tiêu dùng nghĩ đến việc thưởng thức bữa ăn ngon

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  19. 19

    hơn là ăn cho no. Khác với gạo và muối, các loại thực phẩm như thịt, trứng, sữa, thủy
    hải sản, rượu và bia đều được tiêu dùng nhiều hơn khi thu nhập của người tiêu dùng
    tăng lên. Các loại hàng hóa này có thể được xem là hàng hóa bình thường. Đặc biệt, số
    lượng tiêu dùng của các mặt hàng trứng, sữa và nước giải khát tăng rất cao ở nhóm chi
    tiêu 5 so với nhóm 4.
    Bây giờ, chúng ta hãy xem xét sự thay đổi của cơ cấu tiêu dùng đối với các mặt
    hàng lương thực – thực phẩm khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên theo các nhóm
    chi tiêu để nghiên cứu sự thay đổi của cầu trong tương lai.
    Bảng 2.3. Cơ cấu chi tiêu một số mặt hàng phân theo nhóm chi tiêu
    Nhóm chi tiêu
    Loại hàng hóa
    1 2 3 4 5
    Lương thực, thực phẩm 61,65 55,81 51,07 43,98 28,75
    Ăn uống ngoài gia đình 0,70 1,86 2,74 4,48 7,63
    May mặc 5,79 5,71 5,38 4,76 3,34
    Ở 4,00 4,62 5,29 6,44 9,81
    Y tế 4,64 5,21 5,45 5,71 5,01
    Giao thông, bưu điện 0,48 0,65 0,77 0,94 1,80
    Giáo dục 3,22 3,95 4,52 5,53 8,28
    Văn hóa thể thao và giải trí 0,08 0,10 0,17 0,37 1,12
    Từ bảng 2.3, ta có thể thấy rằng các mặt hàng lương thực – thực phẩm và may
    mặc là những mặt hàng cấp thấp vì tỷ trọng chi tiêu cho chúng giảm dần khi mức sống
    của người dân tăng lên. Dịch vụ y tế đối với những người có mức chi tiêu thấp có thể là
    loại hàng bình thường vì khi thu nhập tăng lên thì chi tiêu cho dịch vụ y tế có xu hướng
    tăng lên; khi nhóm chi tiêu tăng đần tứ 1 đến 4, tỷ trọng chi tiêu cho hàng hóa này tăng
    dần. Tuy nhiên, đối với nhóm người thứ 5, những người có mức chi tiêu cao nhất, tỷ
    trọng chi tiêu cho hàng hóa này lại giảm đi. Dịch vụ y tế có thể lại trở thành hàng thứ
    cấp. Giao thông, bưu điện, giáo dục và giải trí là những hàng hóa bình thường và có
    phần xa xỉ. Những người thuộc các nhóm có thu nhập thấp chi rất ít cho những hàng hóa
    này. Mức chi tiêu cho chúng sẽ gia tăng khi thu nhập tăng. Những người thuộc nhóm
    thứ 5 có mức chi tiêu cho hoạt giải trí rất cao so với nhóm 4. Điều này chứng tỏ người
    dân sẽ chú trọng nhiều hơn đến vui chơi giả trí khi mức sống được nâng cao.
    Việc nghiên cứu sự thay đổi của nhu cầu khi thu nhập của người tiêu dùng thay đổi
    có ý nghĩa trong việc hoạch định kế hoạch sản xuất và phân bổ tài nguyên của một nền
    kinh tế. Tập quán tiêu dùng sẽ thay đổi khi thu nhập thay đổi. Do vậy, cơ cấu hàng hóa
    sản xuất ra cũng phải thay đổi theo để phù hợp với nhu cầu mới. Có như vậy, sự phân
    bổ tài nguyên trong xã hội mới có hiệu quả và tránh được lãng phí.

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

  20. 20

    1.3.2. Giá cả của hàng hóa có liên quan
    Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng giá xe gắn máy hay giá xăng tăng lên có thể làm
    tăng nhu cầu sử dụng xe buýt tại mỗi mức giá nhất định, nếu giá vé xe buýt không đổi.
    Các nhà kinh tế cho rằng xe gắn máy là những phương tiện thay thế cho xe buýt. Nói
    chung, nhu cầu đối với một loại hàng hóa nào đó chịu ảnh hưởng bởi giá cả của hàng
    hóa có liên quan. Có hai loại hàng hóa có liên quan mà các nhà kinh tế thường đề cập
    đến là: hàng hóa thay thế và hàng hóa bổ sung.
    Hàng hóa thay thế. Hàng hóa thay thế là những loại hàng hóa cùng thỏa mãn một
    nhu cầu (nhưng có thể mức độ thỏa mãn là khác nhau). Thông thường, hàng hóa thay
    thế là những loại hàng hóa cùng công dụng và cùng chức năng nên người tiêu dùng có
    thể chuyển từ mặt hàng này sang mặt hàng khác khi giá của các mặt hàng này thay đổi.
    Thí dụ, người tiêu dùng có thể thay thế thịt bằng cá khi giá thịt tăng lên và giá cá không
    đổi; khách du lịch có thể lựa chọn giữa Vũng Tàu, Đà Lạt hay Nha Trang. Quan sát trên
    cho phép ta đưa ra nhận xét quan trọng sau: cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ
    giảm (tăng) đi khi giá của (các) mặt hàng hóa thay thế của nó giảm (tăng), nếu các yếu
    tố khác là không đổi.
    Hàng hóa bổ sung. Hàng hóa bổ sung là những hàng hóa được sử dụng song hành
    với nhau để bổ sung cho nhau nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định nào đó. Trong
    thực tế có rất nhiều hàng hóa bổ sung. Thí dụ, xăng là hàng hóa bổ sung cho xe gắn máy
    vì chúng ta không thể sử dụng xe gắn máy mà không có xăng. Giá xăng tăng có thể dẫn
    đến lượng cầu đối với xe gắn máy giảm xuống. Gas và bếp gas, máy hát CD và đĩa CD
    là những hàng hóa bổ sung cho nhau. Từ những thí dụ trên, ta cũng có thể dưa ra một
    nhận xét quan trọng sau: cầu đối với một loại hàng hóa nào đó sẽ giảm (tăng) khi giá
    của (các) hàng hóa bổ sung của nó tăng (giảm), nếu các yếu tố khác không đổi.
    1.3.3. Giá cả của chính loại hàng hóa đó trong tương lai
    Cầu đối với một hàng hóa, dịch vụ còn có thể phụ thuộc vào sự dự đoán của người
    tiêu dùng về giá của hàng hóa, dịch vụ đó trong tương lai. Việc người dân đổ xô mua
    đất đai trong thời gian gần đây là do họ dự đoán giá đất đai sẽ gia tăng trong thời gian
    tới khi nhu cầu về đất để sinh sống và đô thị hóa gia tăng. Thông thường, người tiêu
    dùng sẽ mua nhiều hàng hóa, dịch vụ hơn khi họ dự đoán giá trong tương lai của hàng
    hóa, dịch vụ đó tăng và ngược lại.
    1.3.4. Thị hiếu của người tiêu dùng
    Trong các phần trước, có một một yếu tố nữa được giữ cố định khi phân tích
    đường cầu. Đó là thị hiếu hay sở thích của người tiêu dùng. Sở thích của người tiêu
    dùng có thể chịu ảnh hưởng của phong tục, tập quán, môi trường văn hóa – xã hội, thói
    quen tiêu dùng, v.v. của người tiêu dùng. Khi những yếu tố này thay đổi, nhu cầu đối
    với một số loại hàng hóa cũng đổi theo. Thí dụ, khi phim Hàn Quốc được trình chiếu
    phổ biến ở nước ta, thị hiếu về nhuộm tóc và quần áo thời trang Hàn Quốc trong thanh
    niên gia tăng. Điều này dẫn đến nhu cầu đối với thời trang Hàn Quốc cũng gia tăng.
    1.3.5. Quy mô thị trường

    Giáo trình Kinh tế Vi mô

Download tài liệu Giáo trình Kinh tế vi mô (126 trang) File Docx, PDF về máy