[Download] Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại – Tải về File Docx, PDF

Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại

Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại
Nội dung Text: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại

Download


Trong hoạt động thương mại, doanh nghiệp nào cũng phải sử dụng hợp đồng để mua bán và cung cấp dịch vụ. Thực tế, hàng năm, Công ty cổ phần Pico đã tiến hành ký hàng trăm hợp đồng thương mại với các nhà cung cấp và thực hiện hợp đồng thương mại với hàng triệu khách hàng mua hàng từ hệ thống các siêu thị của Pico. Khi hợp đồng đã được giao kết và hiệu lực pháp luật thì các doanh nghiệp phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng.

Bạn đang xem: [Download] Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại File Docx, PDF về máy

Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại

  1. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    13.
    GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
    ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI
    VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
    VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI
    Ngô Hồng Mai(*)

    Tóm tắt

    Trong hoạt động thương mại, doanh nghiệp nào cũng phải sử dụng hợp đồng
    để mua bán và cung cấp dịch vụ. Thực tế, hàng năm, Công ty cổ phần Pico đã tiến
    hành ký hàng trăm hợp đồng thương mại với các nhà cung cấp và thực hiện hợp đồng
    thương mại với hàng triệu khách hàng mua hàng từ hệ thống các siêu thị của Pico.
    Khi hợp đồng đã được giao kết và hiệu lực pháp luật thì các doanh nghiệp phải có
    nghĩa vụ thực hiện đúng các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. Nếu bên nào không thực
    hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng thì phải chịu trách nhiệm với bên
    đối tác, tức là họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý nhất định như: buộc thực
    hiện đúng hợp đồng, phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại v.v… Do vậy, những quy định
    cụ thể về các chế tài trong Hợp đồng thương mại để áp dụng đối với bên vi phạm hợp
    đồng thương mại là vô cùng quan trọng.

    Tuy nhiên, các quy định về chế tài trong thương mại trong Luật Thương mại còn
    nhiều bất cập, nhiều quy định không rõ ràng, thiếu thực tế. Các quy định không rõ
    ràng đó đã gây khó khăn cho việc giải quyết tranh chấp giữa các bên và chưa đảm

    Công ty Cổ phần Pico
    (*)

    Email: ngohongmai@gmail.com

    167

  2. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    bảo được quyền và lợi ích chính đáng của bên bị vi phạm. Cũng như trong thực tế,
    với số lượng lớn hợp đồng tại Công ty Cổ phần Pico đã ký kết, việc áp dụng chế tài
    thương mại cũng không mang lại hiệu quả. Nhiều chế tài được đưa vào hợp đồng chỉ
    mang tính hình thức và các quy định chế tài trong hợp đồng đó chưa thực sự phát huy
    tác dụng khi giải quyết những vi phạm hợp đồng.

    1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ TÀI THƯƠNG MẠI
    Chế tài hiểu theo nghĩa hẹp là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm
    pháp luật, trong đó chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi
    có hành vi vi phạm với những quy tắc xử sự chung được ghi trong phần quy định và
    giả định của quy phạm pháp luật. Tiếp cận theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả
    pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật. Căn cứ vào tính chất của các nhóm quan
    hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, chế tài được phân chia thành nhiều loại: chế tài
    hình sự, chế tài hành chính, chế tài dân sự,…

    Pháp luật điều tiết các quan hệ xã hội bằng cách đặt ra các quyền và nghĩa vụ cho
    các chủ thể khi tham gia các quan hệ xã hội nhất định. Trong quan hệ mua bán hàng
    hóa, bên bán có nghĩa vụ chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho bên
    mua, nhưng ngược lại, có quyền yêu cầu bên mua trả tiền cho bên bán; còn bên mua
    có quyền yêu cầu bên bán chuyển giao hàng hóa và quyền sở hữu hàng hóa cho mình,
    và ngược lại, có nghĩa vụ nhận hàng hóa và thanh toán tiền mua. Nếu một bên không
    thực hiện nghĩa vụ hay thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nghĩa vụ của mình
    thì mục đích quan hệ của bên kia không đạt được. Điều này sẽ gây thiệt hại cho bên
    bị vi phạm. Vì vậy pháp luật can thiệp mạnh vào các quan hệ xã hội và đảm bảo công
    bằng bằng cách thiết lập phương thức áp đặt hậu quả bất lợi cho người không thực
    hiện nghĩa vụ, và phần nào đó giúp khôi phục lại quan hệ xã hội bị phá vỡ bởi sự vi
    phạm hoặc khôi phục lại tình trạng nhẽ ra phải có của người có quyền yêu cầu.

    Chế tài thương mại là hậu quả pháp lý bất lợi được áp dụng đối với người có hành
    vi vi phạm pháp Luật Thương mại khi họ không thực hiện hay thực hiện không đúng
    hoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ phát sinh từ các hành vi thương mại.

    Có quan niệm cho rằng chế tài thương mại bao gồm cả các chế tài áp dụng cho
    các hành vi vi phạm chế độ quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thương mại, xâm
    phạm trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước được quy định tại Điều 320
    – Luật Thương mại 2005, bao gồm:

    168

  3. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    – Vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; Giấy phép kinh doanh của thương
    nhân; Thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân
    Việt Nam và của thương nhân nước ngoài;

    – Vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước và hàng hóa,
    dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu;
    quá cảnh;

    – Vi phạm chế độ thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ và báo cáo kế toán;

    – Vi phạm quy định về giá hàng hóa, dịch vụ;

    – Vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất
    khẩu, nhập khẩu;

    – Buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, buôn bán hàng giả hoặc nguyên liệu, vật
    liệu phục vụ cho sản xuất hàng giả, kinh doanh trái phép;

    – Vi phạm các quy định liên quan đến chất lượng hàng hóa, dịch vụ kinh doanh
    trong nước và hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu;

    – Gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

    – Vi phạm các quy định liên quan đến bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;

    – Vi phạm quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, dịch vụ kinh doanh
    trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu;

    – Vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa;

    – Các vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật.

    Theo quan niệm này, chế tài thương mại lại trùm lấn sang cả lĩnh vực hành chính,
    hình sự. Các vi phạm này hầu hết là các vi phạm hành chính hoặc hình sự mà chế tài
    đối với chúng có thể được quy định tại các văn bản pháp luật về hành chính hay hình
    sự, chứ không được quy định tại pháp luật về thương mại hay dân sự. Trong khoa học
    pháp lý, mỗi lĩnh vực pháp luật có những hình thức chế tài riêng của nó, tên của những
    chế tài này được gọi theo lĩnh vực pháp luật mà ngành luật đó điều chỉnh. Một hành
    vi vi phạm pháp luật có thể bị nhiều chế tài khác nhau. Ví dụ, hành vi gian lận, lừa dối
    khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì ngoài việc bị xử phạt hành
    chính thương nhân còn có trách nhiệm hoàn trả lại tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại

    169

  4. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    (nếu có) cho người mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ.

    Do vậy, khi nói tới Luật Thương mại là nói tới một ngành luật điều chỉnh các hành
    vi thương mại với tính cách là các hành vi pháp lý có tính chất thương mại. Chính vì
    thế chế tài thương mại hầu hết là các chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại. Có
    lẽ với tư duy như vậy, nên tại Điều 292 Luật Thương mại 2005 quy định chế tài trong
    thương mại bao gồm:

    1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

    2. Phạt vi phạm.

    3. Buộc bồi thường thiệt hại.

    4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

    5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

    6. Huỷ bỏ hợp đồng.

    7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận.

    Theo quy định này, các loại chế tài trong thương mại kể trên chỉ được áp dụng
    giữa các bên tham gia hợp đồng thương mại khi một bên vi phạm nghĩa vụ phát sinh
    từ hợp đồng. Với nghĩa này, chế tài thương mại là các chế tài phát sinh khi có vi phạm
    nghĩa vụ phát sinh từ hành vi thương mại mà nhà làm luật gọi là “chế tài trong thương
    mại”. Các chế tài này có thể là những chế tài do pháp luật quy định hoặc có thể là chế
    tài do các bên thỏa thuận. Trong phạm vi bài viết này chỉ tập trung nghiên cứu các chế
    tài trong hoạt động thương mại, tức là các chế tài được áp dụng giữa các thương nhân
    với nhau trên cơ sở giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.

    2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ TÀI THƯƠNG
    MẠI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI
    THƯƠNG MẠI
    2.1 Nâng cao chất lượng nhân sự

    Những nhân viên, chuyên viên và quản lý là một trong những nhân tố quyết định
    hiệu quả kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty. Kết quả này phụ
    thuộc lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tính năng động, sáng tạo, đạo đức nghề
    nghiệp, thái độ phục vụ khách hàng,… Ví dụ, một nhân viên bán hàng khi nói quá lên

    170

  5. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    về chính sách bảo hành hoặc chính sách khuyến mại đối với hàng hóa đó làm khách
    hàng hiểu không đúng về sản phẩm khi mua hàng thì cũng có thể là nguyên nhân gây
    ra xung đột tranh chấp khách hàng với Công ty.

    Do vậy, để nâng cao chất lượng nhân sự là một giải pháp quan trọng và có giá trị
    trong giai đoạn phát triển công ty hiện nay. Thực hiện giải pháp này, công ty nên tập
    trung vào những phương diện sau:

    – Công ty nên xây dựng một quy trình tuyển dụng nhân viên khoa học, chính xác
    và hợp lý nhằm tuyển dụng cho mình những nhân viên có trình độ và phù hợp với yêu
    cầu công việc.

    – Định kỳ tổ chức các khóa đào tạo về đàm phán, ký kết hợp đồng cho nhân viên
    kinh doanh. Hình thức đào tạo nội bộ thông qua dạy về quy trình và tuân thủ hoặc có
    thể thuê các chuyên gia có kinh nghiệm về giảng dạy. Mỗi nhân viên kinh doanh đều
    cần hiểu các yếu tố cơ bản của hợp đồng, cách đánh giá năng lực nhà cung cấp và
    những rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng.

    – Tổ chức các cuộc thi kiểm tra về nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng theo định kỳ.
    Qua cuộc kiểm tra có thể biết được năng lực của nhân viên, có thể một mặt khích lệ để
    khen thưởng, mặt khác có thể rút ra những khuyết điểm còn tồn tại để có biện pháp cải
    thiện kịp thời. Ngoài ra, thông qua cuộc kiểm tra theo định kỳ sẽ xây dựng được tinh
    thần thi đua, cố gắng học hỏi lẫn nhau của các nhân viên. Từ đó, năng lực của nhân
    viên được nâng cao và chất lượng phục vụ khách hàng cũng từ đó mà được cải thiện.

    – Sử dụng chính sách đãi ngộ cũng là một cách để nâng cao tinh thần thi đua của
    các nhân viên. Trong chính sách đãi ngộ cần chú trọng đến trình độ, năng lực của nhân
    viên và có chính sách thỏa đáng đối với những nhân viên có trình độ chuyên môn cao,
    làm việc hiệu quả cao và có nhiều đóng góp cho sự phát triển của công ty. Cơ chế
    khuyến khích vật chất đối với nhân viên như: cần thiết có chế độ lương, thưởng khác
    nhau đối với các nhiệm vụ quan trọng khác nhau để khuyến khích sự làm việc của
    nhân viên đối với công ty.

    – Xây dựng môi trường làm việc, thi đua lành mạnh. Nâng cao tính kỷ luật, tinh
    thần trách nhiệm đối với công việc và sự phát triển của công ty.

    – Tổ chức các đợt kiểm soát nội bộ về hợp đồng để kiểm tra đánh giá tính tuân thủ
    của nhân viên, quản lý trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng.

    171

  6. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    Đặc biệt, với nhân viên kinh doanh và quản lý các ngành hàng là người trực tiếp
    đàm phán với nhà cung cấp cần những khóa đào tạo ngắn hạn về pháp luật hợp đồng
    để đảm bảo giảm thiểu những bất lợi và rủi ro về hợp đồng. Ban Trợ lý là nơi rà soát
    hợp đồng và hồ sơ đi kèm trước khi trình Ban Tổng Giám đốc ký hợp đồng cũng cần
    tuyển dụng cán bộ am hiểu về pháp luật và đào tạo cho phù hợp với yêu cầu công việc.
    2.2. Xây dựng khung chính sách, quy chế chặt chẽ và phù hợp với các hoạt
    động để đưa các quy định pháp luật vào thực tế
    Thông thường trong quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng sẽ xuất hiện sự
    xung đột giữa nhân viên kinh doanh và người phụ trách tuân thủ. Bản thân nhân viên
    kinh doanh chỉ quan tâm đến doanh số và hiệu quả, không lường hết được rủi ro từ
    hợp đồng. Bộ phận Kiểm soát tuân thủ thì quá chú trọng đến quy trình, điều khoản
    hợp đồng. Để tạo ra sự kết nối hài hòa thì cần phải nâng cao ý thức tuân thủ của nhân
    viên kinh doanh những người trực tiếp giao dịch với đối tác hoặc khách hàng. Xây
    dựng quy trình có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận sẽ làm tránh những xung
    đột nêu trên.

    3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI
    THƯƠNG MẠI
    3.1. Khái niệm vi phạm hợp đồng và vi phạm cơ bản hợp đồng
    Như đã phân tích, hành vi vi phạm hợp đồng bao gồm “không thực hiện, thực
    hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Tuy nhiên, việc xác định vi
    phạm hợp đồng bao gồm cả hành vi “không thực hiện” và “thực hiện không đầy đủ”
    là không cần thiết bởi vì hành vi “thực hiện không đúng” đã bao gồm cả không thực
    hiện và thực hiện không đầy đủ. Do đó, chi cần quy định vi phạm hợp đồng là hành vi
    thực hiện không đúng nghĩa vụ là đủ. Do đó, để thống nhất với Bộ Luật dân sự 2015,
    Luật Thương mại có thể điều chỉnh theo hướng quy định khái niệm vi phạm nghĩa vụ
    trong khoản 1, Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015: “vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa
    vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ và hoặc
    thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.
    Theo Luật Thương mại, vi phạm cơ bản hợp đồng là một trong các căn cứ quan
    trọng để áp dụng chế tài: tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ hợp đồng và hủy bỏ
    hợp đồng, trong đó hủy bỏ hợp đồng là chế tài có hậu quả pháp lý rất nặng nề. Công
    ước Viên không có quy định về vi phạm hợp đồng nhưng khái niệm vi phạm cơ bản

    172

  7. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    hợp đồng được quy định cụ thể tại Điều 25 Công ước Viên, theo đó “một sự vi phạm
    hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia
    bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có
    quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu qủa
    đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào
    hoàn cảnh tương tự”.
    Từ quy định trên, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng được
    xác định dựa trên các yếu tố: (1) Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng; (2) Sự vi
    phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là một bên mất đi điều mà họ chờ
    đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng; (3) Bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn
    thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó.
    So sánh với Công ước Viên 1980 thì quy định tại Luật Thương mại: “vi phạm cơ
    bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho
    bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” đang bị thiếu hụt yếu
    tố thứ (3), bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước hậu quả của sự vi phạm.
    Còn trong Bộ luật Dân sự 2015, thuật ngữ được dùng nhiều là “vi phạm nghiêm
    trọng”, theo quy định tại khoản 2, Điều 423 Bộ luật Dân sự 2015: “Vi phạm nghiêm
    trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia
    không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”.Chúng ta có thể thấy về mặt
    bản chất hai thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng hay vi phạm cơ bản có tương đồng nhau,
    tuy nhiên sự tồn tại song song hai thuật ngữ có cùng bản chất trong pháp luật về hợp
    đồng là điều bất cập cần được gỡ bỏ bởi nó không chỉ dễ gây nhầm lẫn mà còn không
    đảm bảo sự tương thích với pháp luật quốc tế như Công ước Viên 1980.
    3.2. Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại
    Theo quy định tại Điều 418 – Bộ luật Dân sự (2015) về Thỏa thuận phạt vi phạm:
    “1. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy
    định khác.
    2. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi
    phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải
    bồi thường thiệt hại.
    3. Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về

    173

  8. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa
    vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
    Theo quy định tại Điều 307 Luật Thương mại, nếu không đưa điều khoản về bồi
    thường thiệt hại vào hợp đồng thì vẫn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nghĩa
    là việc bồi thường thiệt hại là điều đương nhiên không cần các bên phải thỏa thuận…
    Tuy nhiên, khoản 3, Điều 418, Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp các bên có thỏa
    thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và
    vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
    Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự nếu có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng
    không có thỏa thuận về bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm không có nghĩa vụ bồi
    thường thiệt hại.
    Thỏa thuận phạt vi phạm trong lĩnh vực dân sự không có giới hạn về mức phạt,
    trong Luật Thương mại quy định mức phạt tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm.
    Quy định này trong Luật Thương mại là khá cứng nhắc và gặp nhiều khó khăn khi áp
    dụng thể hiện ở điểm sau:
    + Thứ nhất, rất khó xác định “giá trị phần nghĩa vụ vi phạm” đặc biệt là đối với
    hợp đồng dịch vụ. Đối với một số nghĩa vụ gần như không thể xác định được “giá
    trị”. Ví dụ, A bán cho B một cái máy, cam kết giao máy trong vòng 30 ngày, nhưng A
    không giao toàn bộ máy mà thiếu một số chi tiết như đã hứa thì trong trường hợp này
    giá trị phần nghĩa vụ là giá trị toàn bộ máy hay là giá trị một số chi tiết chưa bàn giao.
    + Thứ hai, trong trường hợp hai bên có thỏa thuận về phạt lãi chậm thanh toán
    theo quy định tại Điều 306, vậy thỏa thuận trên có mâu thuẫn với quy định về mức
    phạt tối đa 8% hay không? Cần được quy định cụ thể hơn để tạo điều kiện cho doanh
    nghiệp áp dụng.
    + Mức phạt vi phạm có được khấu trừ vào khoản bồi thường thiệt hại không, vì
    sau khi áp dụng biện pháp phạt, thiệt hại thực tế của bên bị vi phạm đã giảm.
    3.3. Hoàn thiện chế định về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại
    Bồi thường thiệt hại là một chế tài thường xuyên được áp dụng khi giải quyết vi
    phạm hợp đồng thương mại. Do vậy, Luật Thương mại cần quy định cụ thể hơn về
    những thiệt hại nào phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cách thức xác định thiệt
    hại, tạo điều kiện cho bên bị vi phạm chứng minh thiệt hại, chứng minh các biện pháp

    174

  9. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    hạn chế thiệt hại đã được áp dụng một cách dễ dàng và nhanh chóng hơn.
    Khi xác định thiệt hại cần phải chú ý đến thời điểm xác định thiệt hại bởi là cùng
    một thiệt hại nhưng thời điểm khác nhau thì tổn thất sẽ khác nhau, do chênh lệch về
    giá cả, biến động tỷ giá,… Theo quy định hiện hành chưa quy định cụ thể thời điểm
    gây ra thiệt hại là thời điểm xảy ra thiệt hại hay thời điểm đưa vụ án ra xét xử.
    Cùng với đó, trên thực tế việc đòi bồi thường các chi phí cơ hội do mất thị trường,
    khách hàng,… rất khó xác định. Việc tính toán thiệt hại chỉ xem xét đến thiệt hại thực
    tế, không xem xét đến thiệt hại vô hình như: khoản thu nhập bị mất, thiệt hại về danh
    dự, uy tín,… do vi phạm hợp đồng gây ra. Vì vậy, pháp luật cần thừa nhận thiệt hại do
    mất cơ hội làm ăn, uy tín bị giảm sút cũng là một thiệt hại cần được bồi thường
    Tại Điều 303 Luật Thương mại quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
    thường thiệt hại nhưng lại không đề cập đến yếu tố lỗi của bên vi phạm phải chịu trách
    nhiệm. Về nguyên tắc một người chỉ phải chịu trách nhiệm khi có hành vi vi phạm
    pháp luật và có lỗi khi vi phạm. Điều 303 Luật Thương mại đã gây ra sự hiểu lầm rằng
    cứ có thiệt hại bên vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường, bên vi phạm phải bồi
    thường thiệt hại ngay cả khi không có lỗi. Điều 294 Luật thương mại, cũng chỉ quy
    định trường hợp miễn trách nhiệm khi “hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi
    của bên kia”. Do đó, để bảo vệ quyền lợi bên vi phạm, pháp luật cần quy định phân
    biệt hệ quả pháp lý do lỗi cố ý và lỗi vô ý để làm căn cứ xem xét việc giảm hoặc miễn
    trách nhiệm pháp lý trong trường hợp bên vi phạm có lỗi vô ý.
    3.4. Hoàn thiện các trường hợp miễn trách
    Như đã phân tích mục 3.7.3, tại Điều 294 Luật Thương mại chỉ đưa ra 4 trường
    hợp miễn trách nhiệm dẫn đến nguy cơ phát sinh trách nhiệm bồi thường rất cao với
    bên vi phạm. Việc quy định bổ sung các trường hợp giảm hoặc miễn trừ trách nhiệm
    là rất cần thiết.
    Thứ nhất, quy định bổ sung về trường hợp giảm hoặc miễn trừ trách nhiệm do
    một hoặc các bên trong hợp đồng gặp phải những điều kiện, hoàn cảnh khách quan
    dẫn đến khó khăn khi thực hiện hợp đồng và trường hợp cả hai bên chủ thể hợp đồng
    đều có lỗi, bên vi phạm nghĩa vụ không có lỗi cố ý hoặc hành vi vi phạm là do lỗi của
    bên thứ ba.
    Thứ hai, cần quy định thêm về thỏa thuận giữa các bên chủ thể về miễn và giảm
    trách nhiệm dân sự chỉ có hiệu lực khi bên vi phạm không phải là do lỗi cố ý hoặc là

    175

  10. KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    PHÁP LUẬT KINH DOANH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP

    vi phạm cơ bản dẫn đến mục đích của hợp đồng không thể đạt được. Vì khi giao kết
    hợp đồng mỗi bên đều có mục đích nhất định nếu là vi phạm cơ bản sẽ làm cho bên bị
    vi phạm không đạt được múc đích.
    Thứ ba, cùng với chủ trương xây dựng án lệ tại Việt Nam,việc thừa nhận những án
    lệ để tạo dựng một bộ quy tắc để kiểm tra tính hợp lý của các thỏa thuận miễn trừ trách
    nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng là cần thiết. Trước hết, cần quy định trong pháp
    luật nguyên tắc chung để thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm có hiệu lực trên nguyên tắc,
    trung thực thiện chí. Trên cơ sở đó, cần phát huy vai trò của Tòa án các cấp trong việc
    xử lý tình huống cụ thể kết hợp với hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất của Tòa
    án nhân tối cao để hướng dẫn hình thành một bộ quy tắc thống nhất cho việc xem xét
    hiệu lực pháp lý của các thỏa thuận miễn trừ. Bởi vì, việc quy định một quy tắc chung
    cho tất cả những tình huống đa dạng trong kinh doanh thương mại là không thể.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Nxb
    Chính trị quốc gia, Hà Nội
    2. Đỗ Văn Đại (2010), Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp
    luật Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    3. Đỗ Văn Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận, Tập 1 và 2, Nhà xuất bản
    Hồng Đức -Hội Luật gia Việt Nam
    a. http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1884
    b. http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=2061
    4. Lê Văn Sua (2005), Một số quy định về chế tài của Luật Thương mại năm 2005 cần được
    hoàn thiện.
    5. Lê Văn Sua  (2005), Quy định về chế tài trong Luật Thương mại 2005 – một số vướng mắc
    và kiến nghị – (Tòa án quân sự khu vực 1 – QK 9)
    6. Nguyễn Đăng Duy (2014), Chế tài thương mại trong Luật Thương mại Việt Nam 2005,
    Luận văn thạc sỹ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia.
    7. Phan Thùy Linh, Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại dưới góc độ so sánh pháp luật
    Việt Nam và Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, Luận văn thạc
    sĩ, Đại học Luật Hà Nội.
    8. Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật thực định Việt Nam, (Đề tài khoa
    học và công nghệ cấp bộ – Mã số: b2008-10-11).

    176

Download tài liệu Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế tài thương mại và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài thương mại File Docx, PDF về máy