[Download] Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015 – Tải về File Word, PDF

Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015

Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015
Nội dung Text: Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015

Download


Nghiên cứu này đánh giá tác động của giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam thông qua các biến khác nhau như tổng sản phẩm quốc nội, giá trị nhập khẩu, lãi suất và lạm phát. Nghiên cứu sử dụng phân tích VAR và xem xét phân rã phương sai để xác định các mối quan hệ phụ thuộc tuyến tính giữa các biến. Kiểm tra tính ổn định của cấu trúc cho thấy không có bằng chứng phá vỡ cấu trúc trong mô hình VAR, xác nhận độ tin cậy của các mối quan hệ ước lượng theo mô hình VAR.

Bạn đang xem: [Download] Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015 – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015 File Word, PDF về máy

Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015

  1. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỘNG GIÁ DẦU THÔ QUỐC TẾ ĐẾN NỀN KINH TẾ
    VIỆT NAM TỪ CHUỖI DỮ LIỆU THÁNG TRONG GIAI ĐOẠN 1996 – 2015

    Đặng Văn Thanh

    Tóm tắt
    Nghiên cứu này đánh giá tác động của giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam thông qua các biến
    khác nhau như tổng sản phẩm quốc nội, giá trị nhập khẩu, lãi suất và lạm phát. Nghiên cứu sử dụng phân
    tích VAR và xem xét phân rã phương sai để xác định các mối quan hệ phụ thuộc tuyến tính giữa các biến.
    Kiểm tra tính ổn định của cấu trúc cho thấy không có bằng chứng phá vỡ cấu trúc trong mô hình VAR,
    xác nhận độ tin cậy của các mối quan hệ ước lượng theo mô hình VAR. Kết quả phân tích tương quan có
    tính chu kỳ cho thấy sự biết động của giá dầu thô quốc tế không có tác động đáng kể đến lạm phát của
    nên kinh tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Tuy nhiên, ảnh hưởng này kéo dài sau khi có một cú
    sốc về giá dầu xảy ra. Giá dầu thô quốc tế biến động cũng không gây nên sự biến động lớn về tổng sản
    phẩm quốc nội của nền kinh tế Việt Nam và tác động này giảm dần theo thời gian. Song biến động giá
    dầu thô quốc tế lại ảnh hưởng khá lớn đến hoạt động nhập khẩu của Việt Nam và có tác động khá mạnh
    trong một thời gian dài sau đó. Giá dầu thô quốc tế không có ảnh hưởng đáng kể tức thời đến mặt bằng
    lãi suất của nền kinh tế Việt Nam. Song tác động của nó tăng lên một tháng sau đó khi có một sự biến
    động về giá dầu thô quốc tế xảy ra.
    Từ khóa: Đánh giá tác động, giá dầu thô quốc tế, tổng sản phẩm quốc nội, nhập khẩu, lãi xuất, lạm phát
    ASSESSING THE IMPACTS OF INTERNATIONAL CRUDE OIL PRICE FLUCTUATIONS
    ON VIETNAM’S ECONOMY BASED ON MONTHLY DATA FOR THE PERIOD 1996 – 2015
    Abstract
    This study assesses the impact of international crude oil prices on Vietnam’s economy through various
    variables such as gross domestic product, import value, interest rates and inflation. The study employs
    VAR analysis and examines variance decomposition to capture the linear inter-dependencies among the
    variables. The structural stability tests demonstrate no evidence of structural break in the VAR model,
    confirming the reliability of the relationships estimated by the VAR model. The results of the cyclical
    correlation analysis suggest that the international crude oil price fluctuations have no significant impact
    on the inflation of Vietnam’s economy during the research period. However, this impact lingers after an
    oil price shock occurs. International crude oil price fluctuations do not cause large impacts on the gross
    domestic product of Vietnam’s economy and these impacts decrease over time. However, fluctuations in
    international crude oil prices have quite a large influence on Vietnam’s import activities and for a long
    time afterwards. International crude oil prices do not have an immediate significant impact on the interest
    rate level of Vietnam’s economy, but its impact increases a month later when a fluctuation in international
    crude oil prices occurs.
    Keywords: Impact assessment, international crude oil price, GDP, import, interest rate, inflation.
    JEL classification: M, G, G15
    1. Giới thiệu các phân tích và dự báo kinh tế. Việc đưa ra các
    Dầu thô là một trong những đầu vào quan giải thích hợp lý cho mối quan hệ giữa biến động
    trọng nhất của các hoạt động kinh tế. Một sự biến giá dầu và một số biến số kinh tế vĩ mô đã thu hút
    động của giá dầu có tác động đáng kể tới sự ổn sự chú ý của các nhà kinh tế trong bốn thập kỷ
    định nền kinh tế vĩ mô (Hamilton, 1983). Các cú qua. Xu hướng tăng giá dầu thô trong những năm
    sốc về giá dầu trong lịch sử đã gây ra tình trạng gần đây, đạt mức kỷ lục cao kỷ lục 147 đô la Mỹ
    lạm phát tăng cao và suy thoái kéo dài tại một số vào giữa năm 2008 và giảm mạnh xuống 46 đô la
    quốc gia trên thế giới. Kể từ khi xảy ra cú sốc giá Mỹ một năm sau đó (Büyükşahin, B., & Harris, J,
    dầu lần đầu tiên vào những năm 1970, giá dầu 2011), đã khiến mối quan tâm ngày càng tăng lên
    luôn có những biến động phức tạp từ đó cho đến về những tác động của của giá dầu thô đến nền
    hiện nay, nó đã trở thành mối quan ngại lớn đối kinh tế vĩ mô ở các quốc gia khác trên thế giới và
    với các nhà quản lý nền kinh tế vĩ mô trong việc ở Việt Nam. Bài báo này tóm tắt lại kết quả đề tài
    tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng dầu và đa nghiên cứu “Đánh giá tác động của giá dầu thô
    dạng hóa các nguồn cung cấp dầu mỏ và tìm kiếm trên thị trường quốc tế đến nên kinh tế Việt Nam”
    các nguồn năng lượng có khả năng thay thế. Giá đã được chúng tôi hoàn thành vào năm 2019.
    dầu cũng là một trong những chỉ tiêu chính trong

    84

  2. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu thập từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới và
    Trong nghiên cứu về ảnh hưởng của năng cơ sở dữ liệu cho mô hình POLES (Prospective
    lượng đến sự tăng trưởng kinh tế, (Brown và Outlook on Long-term Energy Systems) của
    Yücel, 2002) kết luận rằng kênh cung cấp tốt nhất nhóm nghiên cứu EDDEN thuộc Trung tâm
    để giải thích mối quan hệ nghịch giữa giá dầu thô Nghiên cứu Ứng dụng Grenoble, Pháp (Grenoble
    và tổng sản phẩm quốc nội là mối quan hệ tích cực Applied Economics Lab) và đã được thương mại
    giữa giá dầu và lạm phát. Nghiên cứu tác động lạm hóa bởi hãng Enerdata của Pháp, một hãng chuyên
    phát của cú sốc giá dầu, (Hooker, 2002) đã đánh cung cấp các số liệu và dịch vụ tư vấn về liên quan
    giá vai trò của những thay đổi giá dầu thô đối với đến kinh tế vĩ mô, năng lượng và biến đổi khí hậu.
    lạm phát của Mỹ. Kết quả nghiên cứu của ông chỉ Số liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là
    ra rằng những thay đổi trong giá dầu có những ảnh chuỗi số liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 1996 đến
    hưởng đáng kể lên lạm phát trước năm 1980 tháng 12 năm 2015. Chuỗi dữ liệu này sẽ được sử
    nhưng suy yếu sau thời kỳ đó. Khi nghiên cứu mối dụng để nghiên cứu tác động của giá dầu thô đến
    quan hệ giữa giá dầu thô quốc tế và các chỉ tiêu các biến nêu trên trong quá khứ từ đó tạo cơ sở
    kinh tế tổng hợp, (Cuñado và Pérez de Gracia, cho những nhận định và dự báo tác động của nó
    2003) đã đưa ra kết quả nghiên cứu trái ngược với đến các biến đó trong tương lai. Sở dĩ chúng tôi
    các nghiên cứu tương tự nêu trên sau khi nghiên chọn thời điểm tháng 1 năm 1996 là bởi không có
    cứu trên 15 nước châu Âu. số liệu về một số chỉ tiêu được lựa chọn trong
    Nghiên cứu của (Blanchard và Gali, 2007) nghiên cứu này trước thời điểm đó.
    cho thấy mối quan hệ giữa tăng giá dầu thô và tổng 3.2. Phương pháp nghiên cứu
    sản phẩm quốc nội của các Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trong nghiên cứu này, do khả năng tiếp cận
    Anh, Pháp và Ý đã thay đổi từ tiêu cực sang tích dữ liệu hạn chế, nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô trong
    cực từ cú sốc năm 2000. (Gounder và Bartleet, quá khứ khó có thể tiếp cận. Vì vậy, sau khi
    2007) đã phát hiện ra mối liên hệ trực tiếp giữa cú nghiên cứu tổng quan tài liệu, chúng tôi lựa chọn
    sốc giá dầu thô và tăng trưởng kinh tế ở New mô hình VAR (Vector Auto-Regression – Tự hồi
    Zealand. Cụ thể là sự tăng giá dầu thô hạn chế tăng quy véc tơ) với các biến tổng sản phẩm quốc nội,
    trưởng tổng sản phẩm quốc nội của New Zealand. nhập khẩu, lạm phát và giá dầu thô quốc tế để
    Họ cũng chỉ ra ảnh hưởng đáng kể đến lạm phát nghiên cứu tác động của sự biến động giá dầu thô
    của sự biến động giá dầu thô. trên thị trường quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam.
    Nghiên cứu của (Cologni và Manera, 2008) Mô hình VAR với bậc (độ trễ) p (Sims, 1980),
    đã đã chỉ ra những cú sốc giá dầu bất ngờ ảnh được ký hiệu là VAR(p) có dạng như sau:
    hưởng đến lạm phát và gây chuyển dịch mức lãi Yt = BXt + A1Yt-1 + … + ApYt-p + ut
    suất sang mức cao hơn. Trong một nghiên cứu về Trong đó:
    tác động của giá dầu đến sự tăng trưởng của các p là độ trễ của Y
    nền kinh tế Nhật và Nga, (Jin, 2008) đã chỉ ra rằng Yt là ma trận cột m chiều, có cùng bậc đồng
    tăng giá dầu thô có ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng tích hợp
    trưởng kinh tế của Nhật Bản. Nhưng nó lại có ảnh Xt là ma trận cột cấp q của biến ngoại sinh
    hưởng tích cực đến nền kinh tế Nga. Trong một Ailà ma trận vuông hệ số được cố định cấp K
    nghiên cứu về ảnh hưởng của giá dầu thô đối với B là ma trận tham số cấp mxq
    tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia phát triển ut là vector nhiễu
    trên thế giới, Nghiên cứu của (Mahboobeh và Để ước lượng và phân tích được các kết quả
    Zahra, 2011) phát hiện ra rằng tất cả các nước đều ước lượng của mô hình VAR chúng tôi cần phải
    bị ảnh hưởng tiêu cực về kinh tế từ những sự biến thu thập dữ liệu và thực hiện các bước ước lượng
    động tăng lên của giá dầu thô quốc tế dù ở các
    và kiểm định sẽ được trình bày ở các phần dưới
    mức độ khác nhau.
    3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu đây. Tiếp theo, phân tích hàm phản ứng đấy
    3.1. Dữ liệu (Impulse response) được thực hiện để đánh giá tác
    Nghiên cứu này đánh giá tác động của sự động của các biến đến các biến khác đưa vào mô
    biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế hình. Cuối cùng, cấu trúc mô hình VAR sẽ được
    thông qua sự tác động của giá dầu thô quốc tế (Oil phân tích thông qua các tiếp cận phân rã phương
    price) đến một số biến của nền kinh tế vĩ mô như: sai (Variance decomposition). Phân rã phương sai
    Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), giá trị nhập khẩu
    chỉ ra sự biến thiên của một biến do tác động bởi
    (Import), lạm phát (Inflation), lãi suất (Interest
    rate). Các chuỗi dữ liệu của các biến này được thu sự biến đổi của chính biến đó và sự biến đổi của
    các biến nội sinh khác trong mô hình. Cách tiếp

    85

  3. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    cận này cung cấp cho chúng ta thông tin về mức biến vĩ mô khác như: tổng sản phẩm quốc nội, giá
    độ quan trọng của các sai số ngẫu nhiên đến các trị nhập khẩu, lạm phát, lãi suất.
    biến trong mô hình thực nghiệm. Từ đó, chúng ta 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
    sẽ thấy được xu hướng tác động lẫn nhau giữa các 4.1. Thống kê mô tả các biến
    biến nội sinh trong mô hình VAR. Trong nghiên Sau khi tính toán các chỉ tiêu thống kê mô tả
    cứu này, cách tiếp cận phân rã phương sai như một của các biến của mô hình thực nghiệm được trình
    cách tiếp cận nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng bày ở Bảng 1.
    của sự biến động của giá dầu thô quốc tế đến các
    Bảng 1: Thống kê mô tả các biến
    GDP Import Inflation Interest rate Oil price
    (Tỷ USD) (Tỷ USD) (%) (%) (USD/Thùng)
    Trung bình (Mean) 10.19730 5.611219 6,741959 3,072141 54.78229
    Trung vị (Median) 9.918471 5.124375 6,249040 2,810536 49.06000
    Tối đa (Maximum) 16.94092 14.84038 23,11632 10,49086 133.8800
    Tối thiểu (Minimum) 5.162963 1.197498 -1,710337 -5,616335 11.35000
    Độ lệch chuẩn (Std. Dev.) 3.617126 3.634281 5,006869 3,218489 31.18967
    Hệ số bất đối xứng
    0.310544 0.576479 0,929183 -0,223656 0.397440
    (Skewness)
    Hệ số nhọn (Kurtosis) 1.825329 2.390169 3,858963 2,727225 1.894522
    Thống kê Jarque-Bera 17.65602 17.01205 41,91343 2,744940 18.53917
    Mức xác suất (Probability) 0.000147 0.000202 0,000000 0,253480 0.000094
    Tổng (Sum) 2447.353 1346.692 1618,070 737,3139 13147.75
    Tổng bình phương độ lệch
    3126.980 3156.712 5991,428 2475,723 232498.1
    (Sum Sq. Dev.)
    Số quan sát (Observations) 240 240 240 240 240

    Chúng ta thấy rằng các biến tổng sản phẩm Dickey-Fuller (ADF). Kết quả kiểm định tính
    quốc nội (GDP), giá trị nhập khẩu (Import), lạm dừng cho thấy trong các biến được đưa vào mô
    phát (Inflation), lãi suất (Interest rate) và giá dầu hình, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chuỗi dữ
    thô quốc tế (Oil price) có giá trị trung bình, trung liệu của hai biến tổng sản phẩm quốc nội và nhập
    vị và độ lệch chuẩn mang giá trị dương. Các biến khẩu là hai chuỗi dữ liệu dừng ở mức ý nghĩa 1%.
    tổng sản phẩm quốc nội, giá trị nhập khẩu, lạm Trong khi đó, chuỗi dữ liệu của các biến giá dầu
    phát và giá dầu thô quốc tế là các biến có phân quốc tế, lạm phát và lãi suất là những chuỗi không
    phối lệch phải. Biến lãi suất là biến có phân phối dừng. Tuy nhiên, các sai phân bậc nhất của các
    lệch trái. Từ bảng 1 chúng ta cũng có thể nhận chuỗi dữ liệu này có tính dừng ở mức ý nghĩa 1%.
    thấy biến lạm phát tuân theo phân phối chuẩn, còn 4.3. Xác định độ trễ, kiểm định mối quan hệ
    các biến tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, lạm phát nhân quả
    và giá dầu thô quốc tế là các biến không tuân theo Trước khi chúng tôi tiến hành ước lượng mô
    phân phối chuẩn. hình VAR một cách chính thức. Chúng tôi cần xác
    4.2. Kiểm nghiệm đơn vị các biến đưa vào mô định được độ trễ được lựa chọn để ước lượng mô
    hình nghiên cứu hình VAR. Kết quả kiểm định độ trễ cho thấy mô
    Trước khi ước lượng mô hình VAR trong hình VAR sẽ được ước lượng với độ trễ là 3. Sau khi
    đánh giá tác động của sự biến động giá dầu thô xác định được độ trễ là 3, chúng tôi tiến hành kiểm
    quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam, chúng ta cần định nhân quả Granger để có những nhận định ban
    kiểm tra tính dừng của các chuỗi dữ liệu của các đầu về mặt thống kê mối quan hệ nhân quả giữa
    biến đưa vào mô hình. Trong nghiên cứu này, các biến được đưa vào mô hình thực nghiệm.
    chúng tôi sử dụng kiểm định đơn vị Augmented

    86

  4. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    Bảng 2: Kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger
    Giả thiết phủ định Obs F-Statistic Prob.
    IMPORT does not Granger Cause GDP 236 0.28983 0.8327
    GDP does not Granger Cause IMPORT 3.09072 0.0279
    D(INFLATION) does not Granger Cause GDP 236 0.20698 0.8915
    GDP does not Granger Cause D(INFLATION) 1.37588 0.2509
    D(INTEREST_RATE) does not Granger Cause GDP 236 0.15049 0.9293
    GDP does not Granger Cause D(INTEREST_RATE) 2.09993 0.1010
    D(OIL_PRICE) does not Granger Cause GDP 236 2.08756 0.1026
    GDP does not Granger Cause D(OIL_PRICE) 0.75570 0.5201
    D(INFLATION) does not Granger Cause IMPORT 236 0.20113 0.8955
    IMPORT does not Granger Cause D(INFLATION) 36.1870 4.E-19
    D(INTEREST_RATE) does not Granger Cause IMPORT 236 0.06985 0.9760
    IMPORT does not Granger Cause D(INTEREST_RATE) 7.44716 9.E-05
    D(OIL_PRICE) does not Granger Cause IMPORT 236 0.18760 0.9048
    IMPORT does not Granger Cause D(OIL_PRICE) 0.83329 0.4768
    D(INTEREST_RATE) does not Granger Cause D(INFLATION) 236 0.04533 0.9872
    D(INFLATION) does not Granger Cause D(INTEREST_RATE) 0.16225 0.9217
    D(OIL_PRICE) does not Granger Cause D(INFLATION) 236 1.42426 0.2364
    D(INFLATION) does not Granger Cause D(OIL_PRICE) 3.99399 0.0085
    D(OIL_PRICE) does not Granger Cause D(INTEREST_RATE) 236 1.72977 0.1617
    D(INTEREST_RATE) does not Granger Cause D(OIL_PRICE) 3.09890 0.0276

    Từ bảng 2, chúng ta có thể thấy nhập khẩu – Hàm số ước lượng biến tổng sản phẩm quốc nội:
    không có tác động đến tổng sản phẩm quốc nội về GDP = C(1)xGDP(-1) + C(2)xGDP(-2) +
    mặt thống kê. Tuy nhiên, quan hệ ngược lại được C(3)xGDP(-3) + C(4)xIMPORT(-1) +
    xác định là có ý nghĩa thống kê ở mức 5%. Lạm C(5)xIMPORT(-2) + C(6)xIMPORT(-3) +
    phát và tăng trưởng kinh tế cũng không có mối C(7)xD(INFLATION(-1)) +
    quan hệ nhân quả có ý nghĩa thống kê khi chúng C(8)xD(INFLATION(-2)) +
    ta xem xét sự tác động của lạm phát đến tăng C(9)xD(INFLATION(-3)) +
    trưởng kinh tế và ngược lại. Một kết quả tương tự C(10)xD(INTEREST_RATE(-1)) +
    cũng được ghi nhận trong mối quan hệ nhân quả C(11)xD(INTEREST_RATE(-2)) +
    giữa lãi suất và tổng sản phẩm quốc nội của nền C(12)xD(INTEREST_RATE(-3)) +
    kinh tế. Hai biến này không có mối quan hệ tác C(13)xD(OIL_PRICE(-1)) +
    động lẫn nhau ở cả hai chiều về mặt thống kê. Giá C(14)xD(OIL_PRICE(-2)) +
    dầu và sự tăng trưởng kinh tế về mặt thống kê C(15)xD(OIL_PRICE(-3)) + C(16)
    cũng không có mối quan hệ có ý nghĩa ở cả hai – Hàm số ước lượng biến nhập khẩu:
    chiều. Lạm phát không ảnh hưởng đến nhập khẩu IMPORT = C(17)xGDP(-1) + C(18)xGDP(-2) +
    trong khi nhập khẩu có tác động đến lạm phát về C(19)xGDP(-3) + C(20)xIMPORT(-1) +
    mặt thống kê. Tương tự về mặt thống kê, lãi suất C(21)xIMPORT(-2) + C(22)xIMPORT(-3) +
    không ảnh hưởng đến nhập khẩu nhưng nhập khẩu C(23)xD(INFLATION(-1)) +
    có ảnh hưởng đến lãi suất. Mối quan hệ giữa giá C(24)xD(INFLATION(-2)) +
    dầu và nhập khẩu không có tác động qua lại về C(25)xD(INFLATION(-3)) +
    mặt thống kê. Tỷ lệ lãi suất và lạm phát được xác C(26)xD(INTEREST_RATE(-1)) +
    định không có mối tác động qua lại có ý nghĩa C(27)xD(INTEREST_RATE(-2)) +
    thống kê. Giá dầu thô quốc tế được xác định là C(28)xD(INTEREST_RATE(-3)) +
    không có tác động đến lạm phát của Việt Nam về C(29)xD(OIL_PRICE(-1)) +
    mặt thống kê. Giá dầu thô quốc tế cũng không gây C(30)xD(OIL_PRICE(-2)) +
    biến động lãi suất ở Việt Nam về mặt thống kê. C(31)xD(OIL_PRICE(-3)) + C(32)
    Các mối quan hệ này sẽ được chúng ta định lượng – Hàm số ước lượng biến lạm phát:
    một cách cụ thể từ các phân tích tiếp theo từ kết D(INFLATION) = C(33)xGDP(-1) +
    quả ước lượng của mô hình thực nghiệm. C(34)xGDP(-2) + C(35)xGDP(-3) +
    4.4. Kết quả ước lượng mô hình C(36)xIMPORT(-1) + C(37)xIMPORT(-2) +
    Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày các C(38)xIMPORT(-3) + C(39)xD(INFLATION(-
    hàm số trong đó các biến được đưa vào mô hình 1)) + C(40)xD(INFLATION(-2)) +
    lần lượt là các biến phụ thuộc. C(41)xD(INFLATION(-3)) +

    87

  5. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    C(42)xD(INTEREST_RATE(-1)) + 4.5. Kiểm định các hệ số của mô hình
    C(43)xD(INTEREST_RATE(-2)) + Để kiểm định ý nghĩa thống kê của các hệ số
    C(44)xD(INTEREST_RATE(-3)) + trong nghiên cứu này chúng ta sử dụng kiểm định
    C(45)xD(OIL_PRICE(-1)) + Wald. Kết quả kiểm định Wald cho thấy các hệ số
    C(46)xD(OIL_PRICE(-2)) + sau không có ý nghĩa thông kê C(4), C(5), C(6),
    C(47)xD(OIL_PRICE(-3)) + C(48) C(7), C(8), C(9), C(10), C(11), C(12), C(13),
    – Hàm số ước lượng biến lãi suất: C(4), C(4), C(4), C(4), C(4), C(4), C(4), C(4),
    D(INTEREST_RATE) = C(49)xGDP(-1) + C(4), C(4), C(4), C(4), C(4), C(4), C(4), C(14),
    C(50)xGDP(-2) + C(51)xGDP(-3) + C(15), C(16), C(17), C(18), C(19), C(22), C(23),
    C(52)xIMPORT(-1) + C(53)xIMPORT(-2) + C(24), C(25), C(26), C(27), C(28), C(29), C(30),
    C(54)xIMPORT(-3) + C(55)xD(INFLATION(- C(31), C(33), C(35), C(40), C(41), C(42), C(43),
    1)) + C(56)xD(INFLATION(-2)) + C(44), C(45), C(46), C(48), C(49), C(50), C(51),
    C(57)xD(INFLATION(-3)) + C(55), C(56), C(57), C(59), C(50), C(51), C(55),
    C(58)xD(INTEREST_RATE(-1)) + C(56), C(57), C(59), C(60), C(61), C(62), C(63),
    C(59)xD(INTEREST_RATE(-2)) + C(64), C(65), C(66), C(67), C(68), C(69), C(70),
    C(60)xD(INTEREST_RATE(-3)) + C(71), C(72), C(72), C(74), C(75), C(76), C(78),
    C(61)xD(OIL_PRICE(-1)) + C(80). Các hệ số này sẽ bị loại khỏi mô hình.
    C(62)xD(OIL_PRICE(-2)) + Một mô hình kiểm nghiệm phù hợp thì các
    C(63)xD(OIL_PRICE(-3)) + C(64) phần dư (residual) của nó có tình dừng.Trong
    Kết quả ước lượng mô hình VAR rất dài và phần này, chúng tôi sử dụng kiểm định đơn vị
    đã được trình bày chi tiết trong nghiên cứu “Đánh Augmented Dickey-Fuller (ADF). Kết quả kiểm
    giá tác động của giá dầu thô trên thị trường quốc định tính dừng khẳng định tất cả phần dư của các
    tế đến nên kinh tế Việt Nam” đã được tác giả bài hàm ước lượng các biến được đưa vào mô hình
    báo này hoàn thành vào năm 2019. Kết quả hàm thực nghiệm đều có tình dừng với mức mức ý
    số ước lượng biến giá dầu thô quốc tế có ý nghĩa nghĩa 1%.
    tham khảo về thực nghiệm thống kê. Kết quả kiểm 4.6. Phân tích tác động từ hàm phản ứng đẩy
    định khẳng định mô hình thực nghiệm đảm bảo Trong nghiên cứu này chúng ta nghiên cứu
    tính ổn định. Kết quả kiểm định tự tương quan chủ yếu tác động của sự biến động giá dầu thô
    cho thấy các phần dư của các phương trình có quốc tế đến một số biến kinh tế vĩ mô của Việt
    tương quan với nhau. Điều này cho chúng ta thấy Nam. Nên trong phần này chúng tôi sẽ đi vào phân
    sự biến động của một biến nào đó trong mô hình tích sâu hơn sự tác động của biến dầu thô đối với
    có thể tác động đến các biến khác. các biến kinh tế vĩ mô đã được lựa chọn.

    Bảng 3: Tác động của sự biến động giá dầu thô quốc tế
    Period GDP Import D(Inflation) D(Interest rate) D(Oil price)
    1 -0,119922 -0,432060 -0,070872 0,092624 4,613927
    2 0,333266 0,098464 -0,221840 -0,008669 1,458625
    3 0,201120 -0,506798 0,082799 -0,358001 0,747251
    4 0,196601 -0,478375 0,572560 -0,247944 -0,287062
    5 0,201805 -0,228829 0,717847 -0,218572 -0,175445
    6 0,195516 -0,035010 0,712686 -0,120602 -0,156804
    7 0,195730 0,025483 0,607793 -0,089386 -0,086598
    8 0,173848 -0,005445 0,512597 -0,061924 -0,107294
    9 0,147492 -0,054651 0,429532 -0,048159 -0,117847
    10 0,120626 -0,095921 0,360013 -0,033501 -0,118525

    Kết quả ước lượng cho thấy, khi giá dầu thô nước ngoài theo hướng tăng lên. Chính vì vậy, khi
    quốc tế tăng lên sẽ ngay lập tức tác động tiêu cực giá dầu quốc tế tăng lên sẽ khiến nhu cầu nhập
    đến GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, sự biến động khẩu của Việt Nam giảm cả trong ngắn hạn và dài
    của giá dầu thô quốc tế không có tác động đáng kể hạn. Sự tác động của sự tăng giá dầu thô quốc tế
    đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong dài cũng sẽ tác động đến lạm phát của Việt Nam trong
    hạn. Khi giá dầu thô quốc tế dường như cũng có một thời gian dài. Tuy nhiên, sự tác động của giá
    tác động tức thì đến giá các hàng hóa sản xuất ở dầu thô quốc tế đến lạm phát đến chậm hơn đến

    88

  6. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    GDP của Việt Nam. Tác động của sự biến động điều tiết giá cả của nền kinh tế. Vì tác động kéo
    giá dầu thô quốc tế cũng ngay lập tức ảnh hưởng dài của các cú sốc giá dầu thô quốc tế sẽ không
    đến lãi suất ở Việt Nam. Tuy nhiên tác động này được xem xét bởi tâm lý chủ quan vì tác động nhẹ
    dường như không kéo dài trong dài hạn. của nó trong ngắn hạn. Không chỉ có tác động lâu
    4.7. Phân rã phương sai và phân tích nguồn biến dài mà sự tác động này được ghi nhận là ngày càng
    động tăng lên theo các chu kỳ được lựa chọn trong
    Từ bảng kết quả phân rã phương sai, chúng nghiên cứu này. Đây là điều đáng lưu ý đối với
    tôi có thể đưa ra một số nhận xét như sau. Sự biến nhà hoạt định chính sách kinh tế vĩ mô của Việt
    động giá dầu thô quốc tế không có sự tác động nhỏ Nam đặc biệt là các nhà điều tiết giá cả khi có một
    đến sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Với cú sốc giá dầu vào thời điểm nền kinh tế có mức
    những sự biến động nhỏ của giá dầu thô quốc tế lạm phát tăng cao kéo dài.
    gần như không tác động đến tăng trưởng kinh tế ở Sự biến động của giá dầu thô quốc tế chỉ ảnh
    Việt Nam. Sự tăng trưởng GDP của Việt Nam chủ hướng tối đa đến 1% tổng sản phẩm quốc nội của
    yếu đến từ những biến động nội sinh từ chính nền Việt Nam, cũng không có sự tác động đáng kể đến
    kinh tế của Việt Nam. Sự biến động nội sinh của tổng sản phẩm quốc nội trong cùng một kỳ nghiên
    chính biến này giải thích hơn 99% sự tăng trưởng cứu. Hơn nữa các nhà hoạch định chính sách có
    kinh tế của Việt Nam. Tác động lớn nhất của GDP thể không phải tìm nhiều các biện pháp kích thích
    ở Việt Nam từ giá dầu thô quốc tế biến đổi là tăng trưởng kinh tế khi có sự thay đổi lớn về giá
    khoảng 1%. Giá dầu quốc tế biến động cũng dầu thô quốc tế theo hướng tích cực. Bởi sự tác
    không có tác động đáng kế đến nhu cầu nhập khẩu động của các cú sốc giá dầu được ghi nhận là có
    của Việt Nam. Bản thân các biến động nội sinh tác động giảm dần đối với tăng trưởng kinh tế của
    của biến nhập khẩu tác động khoảng từ 95% đến Việt Nam.
    99% nhu cầu nhập khẩu của nền kinh tế Việt Nam. Trong khi mối quan tâm về sự ổn định kinh
    Sự thay đổi giá dầu thô thế giới cũng chỉ có tác tế vĩ mô chỉ có thể được bắt nguồn từ sự biến động
    động nhẹ đến lạm phát của Việt Nam. Với những về nhập khẩu khi mà sự biến động này vẫn có thể
    sự thay đổi trong biên độ nhỏ giá dầu thô quốc tế lên đến 5%. Điều đó có nghĩa biến động giá dầu
    thì hầu như không tác động đến lạm phát của Việt thô thế giới có thể tác động cao nhất đến 5% giá
    Nam. Lạm phát chịu tác động lớn nhất của giá dầu trị nhập khẩu của Việt Nam. Điều đáng lưu tâm ở
    thô quốc tế thay đổi cũng chỉ ở mức 2%. Giá dầu đây là các cú sốc giá dầu không ảnh hưởng ngay
    hầu như không ảnh hưởng đến mức lãi suất ở Việt đến giá trị nhập khẩu ở trong cùng một kỳ. Tuy
    Nam. Một sự thay đổi lớn nhất của giá dầu được nhiên nó có tác dụng lâu dài và có xu hướng tác
    ghi nhận một sự tác động khoảng 0,06% sự thay động mạnh hơn theo thời gian. Đây là đặc điểm
    đổi của lãi suất tại Việt Nam. mà các nhà điều hành kinh tế vĩ mô ít quan tâm và
    5. Kết luận có thể tác động tiêu cực đến cán cân xuất nhập
    Với nguồn số liệu hạn chế mô hình thực khẩu của Việt Nam trong dài hạn. Vì vậy, các
    nghiệm sử dụng mô hình VAR để đánh giá sự tác hàng rào phi thuế quan cần được chú ý tính toán
    động của giá dầu thô quốc tế đến các biến tổng sản để hạn chế nhập khẩu khi có một cú sốc tích cực
    phẩm quốc nội, giá trị nhập khẩu, lạm phát và lãi của giá dầu thô quốc tế.
    suất của nền kinh tế Việt Nam khó có thể có được Giá dầu cũng được xác nhận hầu như không
    những kết quả như mong đợi. Các phân tích chỉ có có sự tác động đến lãi suất khi có một cú sốc giá
    tính chất thực nghiệm trên bộ số liệu gồm ít các dầu thô quốc tế trong cùng thời kỳ. Tuy nhiên, tác
    biến được đưa vào mô hình. Tuy nhiên, từ việc động của nó tăng dần đối với lãi suất từ một kỳ
    phân tích các kết quả thực nghiệm, chúng tôi có sau đó trở đi. Mức độ tác động của giá dầu thô
    thể kết luận rằng các cú sốc giá dầu thô quốc tế quốc tế đến lạm phát được ghi nhận có thể lên đến
    không gây ra mối đe dọa lạm phát đáng kể đối với 2%. Điều này cũng gợi ý cho các nhà điều hành
    nền kinh tế Việt Nam trong ngắn hạn. Tuy nhiên lãi suất của Việt Nam cần chú ý đến tác động
    khi có một cú sốc biến động mạnh giá dầu thô thế khuếch đại lên lạm phát do sự tác động nội sinh
    giới, nó vẫn có thể ảnh hưởng đến khoảng 2% lạm của lạm phát và sự tăng lãi suất như một đầu vào
    phát của Việt Nam. Sự ảnh hưởng của sự biến của hoạt động sản xuất kinh doanh. Giảm nhẹ lãi
    động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam suất theo thời gian khi có một cú sốc tăng giá dầu
    có tác dụng kéo dài nhiều tháng sau khi cú sốc giá thô quốc tế có thể giúp cho nền kinh tế Việt Nam
    dầu xảy ra. Điều này cần được các nhà hoạch định bình ổn hơn.
    chính sách kinh tế vĩ mô chú ý, đặc biệt trong việc

    89

  7. Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng – TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 17 (2021)

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1]. Blanchard, O. J., & Gali, J. (2007). The Macroeconomic Effects of Oil Shocks: Why are the 2000s So
    Different from the 1970s? (No. 13368). https://doi.org/10.3386/w13368
    [2]. Brown, S. P. A., & Yücel, M. K. (2002). Energy prices and aggregate economic activity: an
    interpretative survey. The Quarterly Review of Economics and Finance, 42(2), 193–208.
    https://doi.org/10.1016/S1062-9769(02)00138-2
    [3]. Büyükşahin, B., & Harris, J. (2011). Do Speculators Drive Crude Oil Futures Prices? The Energy
    Journal, 32(2), 167-202. Retrieved June 28, 2021, from http://www.jstor.org/stable/41323326
    [4]. Cologni, A., & Manera, M. (2008). Oil prices, inflation and interest rates in a structural cointegrated
    VAR model for the G-7 countries. Energy Economics, 30(3), 856–888.
    [5]. Cuñado, J., & Pérez de Gracia, F. (2003). Do oil price shocks matter? Evidence for some European
    countries. Energy Economics, 25(2), 137–154. https://doi.org/10.1016/S0140-9883(02)00099-3
    [6]. Hamilton, J. (1983). Oil and the Macroeconomy since World War II. Journal of Political
    Economy, 91(2), 228-248. Retrieved June 28, 2021, from http://www.jstor.org/stable/1832055
    [7]. Hooker, M. A. (2002). Are Oil Shocks Inflationary?: Asymmetric and Nonlinear Specifications versus
    Changes in Regime. Journal of Money, Credit, and Banking, 34(2), 540–561.
    https://doi.org/10.1353/mcb.2002.0041
    [6]. Mahboobeh, J., & Zahra (mila), E. (2011). Oil price shocks and economic growth evidence from, 1(2),
    11–40.
    [8]. Sims, C. A. (1980). Macroeconomics and Reality. Econometrica, 48(1), 1–48.
    https://doi.org/10.2307/1912017
    [9]. Jin G. (2008): The Impact of Oil Price Shock and Exchange Rate Volatility on Economic Growth: A
    comparative analysis for Russia, Japan, and China, Research Journal of International Studies, Issue 8,
    pp98-111: www.eurojournals.com/rjis_8_09.pdf

    Thông tin tác giả:
    1. Đặng Văn Thanh Ngày nhận bài: 20/04/2021
    – – Đơn vị công tác: Trường Đại học Hùng Vương Ngày nhận bản sửa: 28/5/2021
    – – Địa chỉ email: dangthanh@hvu.edu.vn Ngày duyệt đăng: 30/6/2021

    90

Download tài liệu Đánh giá tác động của biến động giá dầu thô quốc tế đến nền kinh tế Việt Nam từ chuỗi dữ liệu tháng trong giai đoạn 1996-2015 File Word, PDF về máy