[Download] Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 – Tải về File Docx, PDF

Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Nội dung Text: Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Download


Bài viết phân tích những điểm tiến bộ và bất cập của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về bảo đảm quyền con người khi áp dụng biện pháp tạm giam; từ đó có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc trên thực tế áp dụng biện pháp tạm giam hiện nay.

Bạn đang xem: [Download] Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 File Docx, PDF về máy

Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

  1. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM THEO QUY ĐỊNH CỦA
    BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 20151
    Nguyễn Ngọc Kiện*
    Phạm Xuân Minh**
    * TS. Trường Đại học luật, Đại học Huế.
    ** ThS. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước.

    Thông tin bài viết: Tóm tắt:
    Từ khóa: Tạm giam, người bị tạm Bài viết phân tích những điểm tiến bộ và bất cập của Bộ luật Tố tụng
    giam, Bộ luật Tố tụng hình sự năm hình sự năm 2015 về bảo đảm quyền con người khi áp dụng biện pháp
    2015.
    tạm giam; từ đó có những kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình
    sự nhằm giải quyết khó khăn, vướng mắc trên thực tế áp dụng biện
    Lịch sử bài viết:
    pháp tạm giam hiện nay.
    Nhận bài : 15/06/2020
    Biên tập : 25/6/2020
    Duyệt bài : 28/6/2020

    Article Infomation: Abstract:
    Key words: Detention; detainee; This article provides analysis of the advanced provisions of and also
    Criminal Procedure Code of 2015
    inadequacies of the Criminal Procedure Code of 2015 on the human
    rights once detention measures are applied for enforcement. Since
    Article History:
    then, the article are also to provide recommendations to improve the
    Received : 16 Jun 2020
    criminal procedure law in order to solve the shortcomings and
    Edited : 25 Jun 2020 inadequacies in practice of applying the current detention measures.
    Approved : 28 Jun 2020

    1. Thực trạng quy định của Bộ luật Tố cáo bị tạm giam thực hiện quyền được im
    tụng hình sự năm 2015 về bảo đảm quyền lặng. Ngoài ra, quy định về việc ghi âm, ghi
    con người khi áp dụng biện pháp tạm giam hình có âm thanh trong hoạt động lấy lời
    1.1. Trong hoạt động hỏi cung, theo quy khai, hỏi cung và trước khi hỏi cung, cơ
    định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quan điều tra (CQĐT) phải thông báo thời
    (BLTTHS), bị can, bị cáo “không buộc phải gian, địa điểm hỏi cung cho người bào chữa,
    đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc kiểm sát viên (KSV) biết để tham gia (Điều
    buộc phải nhận mình có tội” (Điều 60, Điều 183, BLTTHS), đã bảo đảm sự khách quan,
    61). Quy định này bảo đảm cho bị can, bị công khai trong hoạt động tố tụng. Điều này

    1 Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học và công nghệ cấp Bộ “Bảo đảm quyền con người khi áp dụng biện
    pháp tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015” mã số B2019-DHH-15, (Cơ
    quan chủ trì: Đại học Huế; Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Ngọc Kiện).
    NGHIÊN CỨU
    Số 14 (414) – T7/2020 LẬP PHÁP 43

  2. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    giúp người bị tạm giam tự tin hơn trong việc 1.4. Các hoạt động đối chất, nhận dạng,
    cung cấp thông tin và đề xuất các biện pháp nhận biết giọng nói quy định tại các Điều
    để bảo vệ mình. 189, 190, 191 của BLTTHS năm 2015 bắt
    1.2. Trong hoạt động giám định, định giá buộc KSV phải tham gia giám sát để đảm
    tài sản, BLTTHS năm 2015 quy định đương bảo điều tra viên thực hiện đúng thủ tục,
    sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề trình tự tố tụng.
    nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố 1.5. Biện pháp điều tra đặc biệt được
    tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên thiết lập mới tại Chương 16 BLTTHS. Theo
    quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ; đó, các điều kiện để được áp dụng các thủ
    được xem kết quả, được bảo đảm thời hạn tục đặc biệt như: ghi âm, ghi hình bí mật,
    (các Điều 207 đến Điều 222). Quy định này nghe điện thoại bí mật, thu thập bí mật dữ
    bảo đảm cho người bị tạm giam quyền yêu liệu điện tử, chỉ được áp dụng đối với những
    cầu trưng cầu giám định, định giá lại để loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội
    không bị thiệt hại, vì điều này liên quan đến phạm xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm
    hậu quả của tội phạm và trách nhiệm hình về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội
    sự, trách nhiệm bồi thường dân sự mà người khủng bố, tội rửa tiền và việc áp dụng phải
    bị tạm giam phải gánh chịu. Thực tế thường do cơ quan cấp tỉnh áp dụng, có sự phê
    thấy, người bị tạm giam thực hiện quyền yêu
    chuẩn của Viện trưởng VKS cấp tỉnh… đã
    cầu giám định lại, định giá lại tài sản ở giai
    tránh được tình trạng lạm dụng, vi phạm các
    đoạn xét xử khi có hướng dẫn, tư vấn của
    quyền được bảo mật về thư tín, điện tín, bí
    người bào chữa là luật sư. Bị can, bị cáo
    mật đời tư của con người.
    thường không thực hiện quyền yêu cầu giám
    1.6. Các hoạt động điều tra khác như:
    định lại, định giá lại vì họ không biết mình
    tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, bắt
    có quyền đó và cũng không có điều kiện để
    thực hiện các quyền này2. buộc chữa bệnh, kết thúc điều tra được quy
    định cụ thể, rõ ràng, đã khắc phục tình trạng
    1.3. Theo quy định từ Điều 201 đến
    lạm dụng kéo dài thời hạn giải quyết, gây bất
    Điều 204 BLTTHS năm 2015, hoạt động
    khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều lợi, thiệt hại cho người bị tạm giam.
    tra phải có sự tham gia của KSV; CQĐT Bên cạnh đó, các quy định về bảo đảm
    phải lập biên bản, chụp bản ảnh, lập biên bản quyền của người đang bị tạm giam trong
    lưu giữ đầy đủ dấu vết, mô tả dấu vết, để bảo BLTTHS năm 2015 còn một số bất cập sau
    đảm quyền cho người bị tạm giam khi xem đây:
    xét lại các tình tiết mình bị buộc tội. Trong – Chế định biện pháp cưỡng chế nói
    một số trường hợp, người bị tạm giam có thể chung, biện pháp tạm giam trong TTHS Việt
    được chứng kiến cuộc khám nghiệm hiện Nam nói riêng còn thiếu đồng bộ, chưa thể
    trường và đóng vai trong hoạt động thực hiện chủ trương giảm tỷ lệ tạm giam trước
    nghiệm điều tra, nhằm kiểm tra, đối chiếu khi xét xử. Trong nhiều năm, quy định của
    tính xác thực của tình tiết vụ án. pháp luật TTHS nước ta về căn cứ, điều kiện

    2 Đối với vụ án không có luật sư tham gia thì người bị tạm giam thường gặp khó khăn trong việc thực hiện
    quyền yêu cầu giám định lại, định giá lại do thiếu hiểu biết pháp luật.

    44 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 14 (414) – T7/2020

  3. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    áp dụng biện pháp tạm giam còn thiếu cụ làm cho thực tế người bị tạm giam được huỷ
    thể. Trong đó, quy định về trách nhiệm của bỏ, thay thế bằng biện pháp khác chiếm tỷ lệ
    các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thay rất thấp.
    thế, hủy bỏ biện pháp tạm giam chưa chặt Điều 241 BLTTHS quy định: “Sau khi
    chẽ, như được áp dụng, thay thế, hủy bỏ “khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra,
    cần thiết”, hoặc là “có thể” tạm giam. Điều VKS có quyền quyết định áp dụng, thay đổi,
    này tạo điều kiện cho việc lạm quyền trong hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
    tạm giam kéo dài, ảnh hưởng đến quyền con cưỡng chế theo quy định của BLTTHS”.
    người của người bị tạm giam. Quy định này không xác định rõ căn cứ để
    – Khoản 1 Điều 119 BLTTHS năm 2015 áp dụng, thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn
    quy định: “Tạm giam có thể áp dụng đối với chặn. Vì vậy, trên thực tế, khi vụ án được
    bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, chuyển đến VKS để truy tố, cán bộ, KSV
    tội rất nghiêm trọng”. Quy định thiếu cụ thể thường tiếp tục đề xuất ra lệnh tạm giam mà
    này đã gây trở ngại về mặt tâm lý cho người không đề xuất thay đổi biện phạm tạm giam
    có thẩm quyền, vì nếu như không áp dụng sang biện pháp khác3 (cấm đi khỏi nơi cứ trú,
    biện pháp tạm giam đối với người phạm tội
    bảo lãnh, đặt tiền cho bị can). Việc thay thế
    rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, có
    biện pháp tạm giam sang biện pháp khác
    thể để xảy ra bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện
    trong giai đoạn truy tố làm cho cán bộ, KSV
    tội phạm hoặc bỏ trốn thì người có thẩm
    dễ bị nghi ngờ có tiêu cực vì không có căn
    quyền tiến hành tố tụng lại có nguy cơ bị xử
    cứ pháp lý rõ ràng.
    lý về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả
    nghiêm trọng” (Điều 360 BLHS). Vì vậy, Điều 278 BLTTHS quy định: “Sau khi
    thông thường cứ phạm tội rất nghiêm trọng, thụ lý vụ án,… việc áp dụng, thay đổi, hủy
    đặc biệt nghiêm trọng sẽ bị áp dụng biện bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó
    pháp tạm giam. Chánh án Tòa án quyết định; đối với bị cáo
    – Quy định của khoản 2 Điều 125 và đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa
    khoản 7 Điều 173 BLTTHS về trách nhiệm thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần
    của CQĐT, VKS, Tòa án trong việc hủy bỏ, tiếp tục tạm giam… thì Hội đồng xét xử ra
    thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên
    ngăn chặn khác còn mang tính thụ động, như tòa”. Quy định này không xác định rõ căn cứ
    căn cứ để hủy bỏ “khi thấy không còn cần tạm giam trong giai đoạn xét xử, nhưng lại
    thiết”, “hoặc có thể thay thế bằng biện pháp cho phép Chánh án, Phó Chánh án Tòa án và
    ngăn chặn khác”. Trường hợp nào là cần Hội đồng xét xử quyết định một cách dễ
    thiết và không cần thiết phải tạm giam chưa dàng “nếu thấy cần tiếp tục tạm giam” là
    được điều luật giải thích, phụ thuộc vào ý chưa bảo đảm quyền lợi của bị tạm giam,
    thức chủ quan của CQĐT, VKS và Tòa án, của bị cáo.

    3 VKS thường đề xuất cần tiếp tục tạm giam bị can “để đảm bảo việc truy tố”, mặc dù nhiều trường hợp
    không tạm giam bị can thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc truy tố như các trường hợp phạm tội quả tang,
    căn cứ đã rõ, bị can thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đã bồi thường khắc phục hậu quả, bị can tỏ ra
    ăn năn hối cải.
    NGHIÊN CỨU
    Số 14 (414) – T7/2020 LẬP PHÁP 45

  4. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    Theo quy định của Điều 119 và Điều BLTTHS, theo hướng bị can, bị cáo phạm
    278 của BLTTHS, Tòa án được áp dụng biện tội đặc biệt nghiêm trọng phải bị tạm giam,
    pháp tạm giam trong giai đoạn xét xử dựa còn các trường hợp khác chỉ bị tạm giam khi
    trên các lý do: bảo đảm việc bị cáo không bỏ xác định người đó phạm tội mà Bộ luật Hình
    trốn, cản trở hoạt động xét xử, có hành vi sự quy định hình phạt tù trên 02 năm và
    mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác thuộc một trong các trường hợp: a) Đã bị áp
    khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi
    thật, tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ phạm; b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc
    vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến không xác định được lý lịch của bị can; c)
    vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã
    chứng, bị hại. Tuy nhiên, căn cứ để hủy bỏ, hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; d) Tiếp tục phạm
    thay thế biện pháp tạm giam bằng biện khác tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; đ) Có
    lại tạo ra sự tùy nghi cho Tòa án. Đó là Tòa hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục
    án có quyền thay thế, hủy bỏ biện pháp ngăn người khác khai báo gian dối, cung cấp tài
    chặn khi cần thiết nhằm bảo đảm cho việc liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ,
    xét xử, dẫn đến bị can, bị cáo bị tạm giam tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên
    một cách không cần thiết, làm cho họ khó quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù
    tiếp cận các quyền như quyền tự bào chữa, người làm chứng, bị hại, người tố giác tội
    quyền được nghiên cứu tài liệu, quyền thu phạm và người thân thích của những người
    thập chứng cứ gỡ tội để tranh tụng, bảo vệ này. Giải pháp này nhằm khắc phục thực
    quyền lợi hợp pháp của họ. trạng cơ quan có thẩm quyền lạm dụng biện
    Điều 329 BLTTHS quy định: “Trường pháp tạm giam theo quy định tại khoản 1
    hợp bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt Điều 119 BLTTHS. Mặt khác, khi đã nhập
    tù nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để khoản 1 và khoản 2 Điều 119 của BLTTHS,
    bảo đảm thi hành án thì Hội đồng xét xử ra thì điều kiện tạm giam chung cho mọi
    quyết định tạm giam bị cáo; thời hạn tạm trường hợp được xác định sẽ tránh sự tùy
    giam bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên nghi và sẽ giảm mạnh tỷ lệ số người bị tạm
    án…”. Quy định về căn cứ tiếp tục tạm giam giam trong vụ án hình sự trong trường hợp
    của điều luật “xét thấy cần tiếp tục” mang phạm tội rất nghiêm trọng. Như vậy, giải
    tính tuỳ nghi, theo nhận định chủ quan của pháp nêu trên có tính đột phá, nhằm giảm
    Hội đồng xét xử, dẫn đến thực tế: bị cáo thiểu số người bị tạm giam trong vụ án hình
    đang bị tạm giam thì đương nhiên cứ tiếp tục sự, bảo đảm tốt hơn quyền con người trong
    bị tạm giam. Đây là nguyên nhân của thực lĩnh vực TTHS.
    trạng người bị tạm giam trong giai đoạn sau Thứ hai, bổ sung vào khoản 4 Điều 119
    khi tuyên án, chờ thi hành án chiếm tỷ lệ cao. BLTTHS về trường hợp bị can, bị cáo là
    2. Giải pháp hoàn thiện Bộ luật Tố tụng người duy nhất đang phải nuôi, chăm sóc
    hình sự năm 2015 nhằm bảo đảm quyền người thân thích của mình là người tàn tật
    con người khi áp dụng biện pháp tạm nặng, bệnh nặng, già yếu, có nhược điểm về
    giam tâm thần nhưng họ thiếu sự chăm sóc và
    Thứ nhất, nhập khoản 1 Điều 119 không thể tự mình sinh sống được thì có thể
    BLTTHS vào chung với khoản 2 Điều 119 không bị áp dụng biện pháp tạm giam. Họ

    46 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 14 (414) – T7/2020

  5. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    chỉ bị tạm giam trong trường hợp có dấu thời. Theo đó, Điều 241 BLTTHS được thiết
    hiệu bỏ trốn, có các hành động gây cản trở kế lại như sau: “Sau khi nhận hồ sơ vụ án và
    hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát có quyền
    án. Giải pháp này nhằm bổ sung trường hợp quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
    bị can, bị cáo có hoàn cảnh éo le, không có pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo
    người chăm sóc người thân thích của mình quy định của Bộ luật này. Trường hợp có bị
    như đã nêu; như vậy sẽ phù hợp với hoàn can đang bị tạm giam, Viện kiểm sát phải
    cảnh của bị cáo và khẳng định được tính xem xét, kiểm tra toàn diện các căn cứ áp
    nhân văn của chính sách pháp luật. dụng biện pháp tạm giam để áp dụng, thay
    Thứ ba, để khắc phục việc tạm giam kéo đổi, huỷ bỏ kịp thời”.
    dài do các cơ quan tố tụng không hủy bỏ Thứ năm, sửa đổi Điều 278 BLTTHS về
    biện pháp tạm giam mặc dù việc tạm giam
    điều kiện áp dụng biện pháp tạm giam thay
    đó là không cần thiết, thì cần sửa đổi, bổ
    cho thuật ngữ “quyết định” và “nếu thấy cần
    sung khoản 2 Điều 125, khoản 7 Điều 173
    tiếp tục” mang tính tuỳ nghi, không rõ ràng.
    BLTTHS theo hướng quy định rõ hơn trách
    Điều 278 BLTTHS cần được thiết kế như
    nhiệm của CQĐT, VKS và Tòa án trong việc
    sau: “Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ
    xem xét quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn
    toạ phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay
    chặn hoặc có thể thay thế bằng biện pháp
    đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
    ngăn chặn khác khi không còn căn cứ áp
    cưỡng chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy
    dụng. Theo đó, khoản 2 Điều 125 BLTTHS
    bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó
    được thiết kế lại như sau: “Cơ quan điều tra,
    Chánh án Tòa án quyết định sau khi xem xét
    Viện kiểm sát, Tòa án phải hủy bỏ biện pháp
    ngăn chặn hoặc có thể thay thế bằng biện đầy đủ các căn cứ, điều kiện áp dụng biện
    pháp ngăn chặn khác khi không còn căn cứ pháp tạm giam theo quy định của Bộ luật
    áp dụng…”; và sử đổi, bổ sung khoản 7 Điều này; đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến
    173 BLTTHS như sau: “Trong thời hạn tạm ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết,
    giam, khi không còn căn cứ tiếp tục tạm nếu có căn cứ xác định cần phải tiếp tục tạm
    giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng
    nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc
    trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét phiên tòa”.
    thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn Thứ sáu, sửa đổi Điều 329 BLTTHS về
    chặn khác”. căn cứ tạm giam “xét thấy cần tiếp tục”
    Thứ tư, sửa đổi, bổ sung Điều 241 mang tính tuỳ nghi, theo nhận định chủ quan
    BLTTHS theo hướng quy định rõ trách của Hội đồng xét xử, thành điều kiện áp
    nhiệm của VKS sau khi nhận hồ sơ vụ án và dụng biện pháp cụ thể như sau: “Trường hợp
    bản kết luận điều tra phải xem xét, kiểm tra bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt tù
    toàn diện các căn cứ áp dụng biện pháp tạm nhưng có căn cứ xác định cần phải tiếp tục
    giam để xác định có cần thiết phải tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án thì Hội
    tạm giam với bị can hay không, nếu không đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo;
    còn cần thiết, không có căn cứ áp dụng biện thời hạn tạm giam bị cáo là 45 ngày kể từ
    pháp tạm giam thì phải thay đổi, huỷ bỏ kịp ngày tuyên án…” n
    NGHIÊN CỨU
    Số 14 (414) – T7/2020 LẬP PHÁP 47

Download tài liệu Bảo đảm quyền của người bị tạm giam theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 File Docx, PDF về máy