[Download] Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ – Tải về File Docx, PDF

Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ

Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ
Nội dung Text: Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ

Download


Báo cáo trình bày những nhận định phân tích của nhóm chuyên gia, không nhất thiết thể hiện quan điểm của USAID và Chính phủ Hoa Kỳ.

Bạn đang xem: [Download] Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ File Docx, PDF về máy

Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ

  1. BÁO CÁO
    GÓP Ý DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)
    ĐỂ CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
    THEO NGHỊ QUYẾT 19 CỦA CHÍNH PHỦ

    RECOMMENDATIONS TO THE DRAFT 2015 CIVIL
    PROCEDURE CODE TO IMPROVE THE ENFORCEMENT
    OF CONTRACTS AND THE BUSINESS ENVIRONMENT

    i
    HÀ NỘI, THÁNG 10/2015

  2. RECOMMENDATION TO THE DRAFT 2015 CIVIL PROCEDURE CODE TO IMPROVE
    ENFORCING CONTRACTS AND THE BUSINESS ENVIRONMENT

    EXECUTIVE SUMMARY

    Enforcing contracts and the security of private property are seen as essential for investment and trade
    around the world. Business investors only feel secured when the national legal and judicial system
    functions effectively to protect their legal rights and interests. Countries seem to share the same view
    on the need for a judicial system with simple and prompt procedures that can bring justice to people
    and is able to meet the expectations and desires of the parties who rely on court to resolve their
    disputes. Many countries have adopted a modernized, digitized, and citizen-friendly procedures during
    the civil and commercial proceedings to better serve their businesses and citizens. “Enforcing
    contracts” is also one among 11 indicators of the World Bank’s Doing Business Report to rank the
    ease of doing businesses among nearly 200 economies worldwide.
    In this context, the Government of Vietnam has issued Resolution 19 in 2014 and 2015, which also
    set the target to improve the quality and efficiency of enforcing contracts. Vietnam set the target for
    “reducing the time of enforcing contracts” to 200 days. This quantified figure is based on the
    calculation at the Civil Procedure Code. Therefore, the revision of the Civil Procedure Code is of high
    importance to achieve the target.
    This report is based on the result of various activities between the Ministry of Planning and Investment
    Central Institute for Economic Management (CIEM) with the USAID Governance for Inclusive
    Growth Program in 2015. Activities included a desk study review of legal documents, the draft 2015
    Civil Procedure Code, data on commercial disputes, international experiences, and field visits to
    selected provinces to discuss contract enforcement issues with provincial courts, commercial lawyers,
    and businesses. The recommendations are specifically intended to support the draft 2015 Civil
    Procedure Code from the perspective of improving the business environment.
    Key recommendations in this report include:
    • Reduce the number of days in each standard procedure for court proceedings.
    • Change the procedures for receiving petitions.
    • Allow electronic filing in the court proceedings.
    • Develop a model process for receiving petitions, accepting cases, and assigning judges to
    ensure judicial publicity, transparency and independence.
    • Issue receipts of the documents and appointment notes.
    • Improve summon procedures for reducing the case settlement time.
    • Reduce the time of transfer of judgments.
    In summary, in order to improve Vietnam’s business environment to increase its competitiveness and
    attract more foreign and domestic investors, the court system should strive to be a system that is “close
    to people, understands people, and helps people.”1 All proceedings should become friendly and
    convenient for citizens and businesses. The time for settling disputes needs to be shortened so that the
    dispute settlement becomes efficient for citizens and businesses. These changes will contribute to a
    court system that is a reliable institution to guarantee equity, property rights, and contract enforcement.

    1 Ho Chi Minh. The State and Law, Legal Publishing House, Hanoi, p.188.
    3

  3. LỜI GIỚI THIỆU

    Ngày 18/3/2014, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 19/2014/NQ-CP về các nhiệm vụ, giải
    pháp cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tiếp theo những kết
    quả đạt được trong năm 2014, ngày 12 tháng 3 năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị quyết
    19/2015/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hai năm
    2015-2016. Trong 10 chỉ số môi trường kinh doanh theo Nghị quyết 19 có 2 chỉ số liên quan tới lĩnh
    vực tư pháp; đó là: (i) Giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại; và (ii) Giải quyết phá
    sản doanh nghiệp.
    Nghị quyết 19 yêu cầu rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại xuống còn tối đa
    200 ngày (hiện nay là 400 ngày). Chỉ số này được đánh giá và đo lường dựa trên các quy định của Bộ
    luật tố tụng dân sự, do đó việc sửa đổi Bộ luật tố tụng dân sự ảnh hưởng quyết định tới việc rút ngắn
    thời gian Giải quyết tranh chấp hợp đồng.
    Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương được giao nhiệm vụ theo dõi, đánh giá kết quả
    thực hiện Nghị quyết 19; và kiến nghị các giải pháp phù hợp đảm bảo thực hiện các mục tiêu của Nghị
    quyết. Vì vậy, trong thời gian qua, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã phối hợp cùng Dự
    án Quản trị Nhà nước nhằm Tăng trưởng toàn diện thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID)
    tổ chức nghiên cứu, khảo sát, tham vấn và tập hợp các đề xuất, kiến nghị sửa đổi một số điều khoản
    cụ thể trong Dự thảo Bộ luật tố tụng dân sự trực tiếp tác động đến việc rút ngắn thời gian giải quyết
    tranh chấp hợp đồng. Báo cáo này là những nhận định, phân tích của nhóm chuyên gia, không nhất
    thiết thể hiện quan điểm của USAID và Chính phủ Hoa Kỳ.

    2

  4. 1 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH: BẢO ĐẢM THỰC THI HỢP ĐỒNG VÀ NỀN TƯ PHÁP
    HIỆU QUẢ
    An toàn về tài sản và bảo đảm thực thi hợp đồng là những yếu tố then chốt để thúc đẩy hoạt
    động đầu tư và thương mại đã được nhiều nhà tư tưởng trên thế giới đề cập2. Ngay từ thời kỳ đầu xây
    dựng Nhà nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã yêu cầu hệ thống tòa án phải “gần dân, hiểu
    dân, giúp dân”3. Điều này cho thấy đều đặt ra yêu cầu về một hệ thống pháp luật và cơ quan tư pháp
    phải hiệu quả để giúp cho người dân và doanh nghiệp4.
    Các quốc gia có những quan điểm khác biệt và tương đồng về triết lý phát triển một nền tư
    pháp hiệu quả nhưng dường như đồng nhất với nhau về việc xây dựng một hệ thống xét xử có thủ tục
    đơn giản, nhanh chóng và đem lại công bằng cho người dân, đáp ứng nguyện vọng, mong muốn của
    các bên nhờ tòa án giải quyết tranh chấp5.
    Nhiều nền kinh tế trên thế giới (bao gồm các quốc gia đang phát triển hay phát triển, như Anh,
    Canada, Trung Quốc, Brazil) gần đây đã tiến hành cải cách thủ tục tố tụng dân sự trong việc giải quyết
    tranh chấp dân sự, thương mại nhằm xây dựng những thủ tục tố tụng đơn giản, dễ tiếp cận cho người
    dân và doanh nghiệp, bằng việc thay đổi pháp luật tố tụng dân sự6.
    Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến 2020 đã đặt ra
    mục tiêu: “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng
    bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp
    mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao… Cải cách tư pháp phải
    xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp
    phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội”. Nghị quyết cũng đặt ra nhiệm vụ: “tiếp tục hoàn thiện
    thủ tục tố tụng dân sự. Nghiên cứu thực hiện và phát triển các loại hình dịch vụ từ phía nhà nước
    để tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ chứng minh, bảo vệ quyền và lợi
    ích hợp pháp của mình. Đổi mới thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp nhằm tạo điều kiện
    thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; người dân chỉ nộp đơn đến toà án, toà án có trách nhiệm
    nhận và thụ lý đơn. Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hoà
    giải, trọng tài; toà án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”.

    2
    Montesquieu đề cập đến trong cuốn “Tinh thần luật pháp” (the Sprit of Law) và Adam Smith trong cuốn “Tìm hiểu về
    bản chất và nguồn gốc của cải của các quốc gia” (An inquiry into the Nature and Causes of the Weath of Nations).
    3
    Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1985, trang 188.
    4
    Simeon Djankov và các tác giả, Tòa án (Courts). Đây là công trình nghiên cứu nhằm xây dựng phương pháp luận cho
    nghiên cứu Môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới.
    http://www.doingbusiness.org/methodology/~/media/GIAWB/Doing%20Business/Documents/Methodology/Supporting-
    Papers/DB-Methodology-Courts.pdf; John Gillespie, Suy ngẫm lại vai trò của độc lập tư pháp tại các nước xã hội chủ
    nghĩa trong giai đoạn chuyển đổi (Rethinking the role of judicial independence in socialist transforming East Asia),
    International and Comparative Law Quarterly, Vol. 56, pp. 837-870, 2007.
    5
    Simeon Djankov và các tác giả, Tòa án (Courts). Đây là công trình nghiên cứu nhằm xây dựng phương pháp luận cho
    nghiên cứu Môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới.
    http://www.doingbusiness.org/methodology/~/media/GIAWB/Doing%20Business/Documents/Methodology/Supporting-
    Papers/DB-Methodology-Courts.pdf
    6
    Xem báo cáo Môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới,
    http://www.doingbusiness.org/data/exploretopics/enforcing-contracts/reforms
    4

  5. Hai Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ năm 2014 và 2015 cũng đặt ra những mục tiêu nhiệm
    vụ nhằm cải thiện môi trường kinh doanh (sau đây gọi tắt là “Nghị quyết 19”) 7: “tiếp tục đẩy mạnh
    việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là xây dựng, sửa
    đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, các cơ chế chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi
    và bình đẳng cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, người dân phát triển sản xuất kinh doanh. Chú trọng
    các cơ chế, chính sách về quyền sở hữu tài sản, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ nhà đầu tư, bảo
    vệ quyền lợi của cổ đông thiểu số, các quy định về phá sản, giải thể, cạnh tranh…”, Nghị quyết yêu
    cầu “rà soát, đánh giá và có ý kiến góp ý về quy trình giải quyết tranh chấp hợp đồng nói riêng và
    tranh chấp dân sự nói chung theo hướng giảm thủ tục, giảm thời gian, giảm chi phí giải quyết tranh
    chấp hợp đồng đối với những vụ việc đơn giản”.
    2 HOÀN THIỆN BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ (BLTTDS) ĐỂ THÚC ĐẨY CẢI THIỆN
    MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
    Qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và khảo sát, tham vấn về môi trường kinh doanh trong
    nước, Báo cáo này đề xuất các nội dung nhằm hoàn thiện dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (dự thảo 5
    của BLTTDS) theo hướng thúc đẩy mạnh mẽ môi trường kinh doanh. Phần dưới đây trình bày chi tiết
    các nội dung kiến nghị sửa đổi (Bản góp ý cụ thể vào các điều khoản được trình bày tại Phụ lục 1 của
    Báo cáo này).

    2.1 Thay đổi thủ tục nhận đơn khởi kiện (bao gồm các Điều 190, 191, 192, 196, 198, 199 của
    dự thảo BLTTDS – dự thảo 5)
    1. Dự thảo BLTTDS sửa đổi cần sửa đổi thủ tục nhận đơn theo hướng thời điểm tòa án nhận
    được đơn kiện thì được tính là thời điểm thụ lý vụ án. Tòa án bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng,
    công khai hoạt động tố tụng. Đương sự phải trả lệ phí (hoặc án phí) cho việc xét đơn.
    (i) Quy trình quyết định có thụ lý hay không kể từ khi nhận đơn theo quy định của BLTTDS
    2004 và dự thảo BLTTDS đã không bảo đảm việc tranh tụng. Nếu không đồng ý với quyết định của
    tòa án về việc thụ lý hay không thụ lý, đương sự chỉ có quyền khiếu nại theo phương thức giải quyết
    khiếu nại của ngành tòa án. Phương thức này hạn chế cơ hội trình bày của các đương sự một cách công
    khai, bình đẳng và chủ động với tòa án về những quan điểm pháp lý và bằng chứng đối với việc thụ
    lý vụ án. Xác định thời điểm Tòa án nhận được đơn khởi kiện hợp lệ được tính là thời điểm Tòa án
    thụ lý vụ án là nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự trước các thời hiệu của pháp luật, đồng thời bảo
    đảm tính chặt chẽ của các thủ tục tố tụng.
    (ii) Theo BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS sửa đổi thì khi tòa án nhận đơn khởi kiện nhưng
    chưa thụ lý. Do chưa thụ lý nên vụ án không bị ràng buộc bởi các thời hạn về tố tụng khác và tòa án
    cũng chưa thu án phí. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng người nộp đơn
    không có trách nhiệm nên tạo ra thêm công việc của tòa án nhưng cũng là nguyên nhân khó khăn trong

    7
    Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ ngày 18/03/2014 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh
    doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ ngày 12/03/2015 về những nhiệm
    vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2015-2016.

    5

  6. việc nộp đơn khi mà tòa án không muốn thụ lý vụ án. Việc sửa đổi như đề xuất ở trên sẽ đề cao trách
    nhiệm cả tòa án và đương sự. Đương sự phải tạm nộp án phí cho việc xem xét đơn. Để bảo đảm quyền
    lợi của người có khó khăn về kinh tế và các đối tượng cần được trợ giúp pháp lý (như người khuyết
    tật, người chưa thành niên…), lệ phí xét đơn có thể được miễn hoặc giảm cho những đối tượng này
    theo các tiêu chí của Pháp lệnh và án phí và lệ phí tòa án, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm
    sóc và giáo dục trẻ em (Luật Trẻ em), Pháp lệnh về người có công…
    (iii) Có ý kiến cho rằng theo quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS sửa đổi hiện
    hành thì người dân không phải mất phí, tòa án sàng lọc đơn kiện trước khi thụ lý. Nhưng do chưa thụ
    lý vụ án, các hoạt động và hành vi tố tụng của tòa án chưa vận hành. Việc trả lại đơn vì các loại lí do
    như không thuộc thẩm quyền, chưa đủ điều kiện khởi kiện, chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ
    chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ, hợp pháp vv… không được kiểm soát bằng quy trình tố
    tụng, đánh giá chất lượng hoạt động của thẩm phán. Vấn đề này cũng sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
    động của toà án và gây nên tình trạng kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp như đã nêu ở trên.
    (iv) Thời điểm tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện là thời điểm thụ lý vụ án. Điều này được công
    nhận tại mô hình tố tụng dân sự của nhiều nước theo hệ thống dân luật như Việt Nam, ví dụ như Pháp
    (Điều 25 và Điều 70)8, Nhật Bản (các điều 133 đến điều 143-BLTTDS Nhật bản); Trung Quốc (Điều
    119 và 121 – BLTTDS Trung Quốc); Đức (Điều 129a – BLTTDS Đức).
    (v) Để xác nâng cao trách nhiệm nộp đơn khởi kiện của đương sự, tạo điều kiện thuận lợi cho
    các bên được tranh tụng ngay từ giai đoạn nhận đơn khởi kiện, thủ tục tố tụng dân sự nên có thêm thủ
    tục mở phiên tòa xét đơn đối với những trường hợp mà Tòa án cần phải xác định thêm về thẩm quyền
    thụ lý và nội dung khởi kiện. Đương sự phải trả lệ phí xét đơn khởi kiện để trang trải chi phí cho hoạt
    động của Tòa án và nâng cao trách nhiệm nộp đơn của đương sự. Việc miễn giảm các loại án phí, lệ
    phí Tòa án được quy định tại Pháp lệnh về Án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
    2. Ngay khi nộp Đơn khởi kiện không cần thiết đòi hỏi đương sự phải có đầy đủ các bằng
    chứng cho việc khởi kiện là có căn cứ.
    (i) Thủ tục nhận đơn trong BLTTDS 2004 và trong dự thảo BLTTDS yêu cầu “kèm theo đơn
    khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và
    hợp pháp” gây khó khăn cho đương sự khi phải thu thập tài liệu, chứng cứ mà tòa án coi là hợp pháp.
    Cơ chế này sẽ làm mất thêm thời gian cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình nộp đơn. Mặc dù
    nghĩa vụ chứng minh chứng cứ thuộc về đương sự nhưng trên thực tế, nhiều trường hợp, đương sự cần
    sự hỗ trợ của tòa án hoặc các cơ quan, tổ chức để có thể thu thập chứng cứ.
    (ii) Quy định nộp đơn khởi kiện phải “kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ
    chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp” sẽ làm khó khăn đối với những
    trường hợp giao dịch dân sự bằng hành vi (rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt với người nghèo, cư dân
    ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận với các dịch vụ pháp lý). Mặc dù Tòa án nhân dân tối cao
    đã có nghị quyết mang tính nội bộ ngành hướng dẫn về bằng chứng nộp cùng với đơn khởi kiện nhưng

    8
    Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp, Điều 25 và Điều 70; Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân
    dân Trung hoa 2012, Điều 119 và Điều 121; Bộ luật tố tụng dân sự Nhật Bản 1996, từ Điều 133 đến Điều 143; Bộ luật tố
    tụng dân sự Cộng hòa liên bang Đức, Điều 129a.
    6

  7. thực tế người dân không biết đến nghị quyết này và các tòa án vẫn khó khăn trong việc áp dụng quy
    định này9. Ngoài ra, nhiều trường hợp người dân muốn nhờ tòa án xác minh chứng cứ thì tòa án lại
    không thể thực hiện vì vụ án chưa được thụ lý.
    (iii) Đòi hỏi đơn khởi kiện phải kèm theo các bằng chứng hợp pháp cũng là một trở ngại nếu
    tòa án áp dụng hình thức nhận đơn khởi kiện trực tuyến (xem nhận xét cụ thể dưới đây) và gây khó
    khăn cho các thẩm phán phải đánh giá, đưa ra kết luận quá sớm về vụ án.
    (iv) Tại các quốc gia theo hệ thống dân luật khác10, việc nộp đơn khởi kiện được coi như là thụ
    lý vụ án. Trong trường hợp điều kiện chủ quan và khách quan mà Tòa án Việt Nam e ngại những rủi
    ro liên quan đến chất lượng của đơn kiện chưa được rõ ràng (do dân trí, khả năng đáp ứng của trợ giúp
    pháp lý…) thì Tòa án có thể có thêm một phiên họp xét đơn kiện đối với những vụ án mà tòa án nơi
    nhận đơn thấy còn băn khoăn về thẩm quyền, nội dung vụ án…
    (v) Mô hình phiên họp xét thẩm quyền giải quyết này nhằm bảo đảm tính tranh tụng, tính minh
    bạch và trách nhiệm giải trình ngay từ giai đoạn nộp đơn khởi kiện, xác định thẩm quyền của Tòa án
    (như đã phân tích ở trên). Mô hình này không làm thay đổi quá nhiều phương thức xử lý đơn kiện và
    giải quyết bất đồng với quyết định của tòa án đối với đơn kiện hiện tại. Tuy nhiên, phương thức mới
    cho phép các đương sự có quyền trình bày quan điểm, bằng chứng của mình một cách hợp lệ thay vì
    chỉ có quyền khiếu nại và Tòa án chỉ giải quyết việc khiếu nại cũng thông qua cơ chế xử lý nội bộ như
    hiện nay. Phương thức mới cũng không gây thêm gánh nặng về tuân thủ của người dân, doanh nghiệp
    vì thực tế hiện nay Tòa án cũng buộc đương sự phải chứng minh là Tòa án có thẩm quyền trước khi
    quyết định thụ lý mà không có một cơ chế công khai, có tính tranh tụng để giải quyết.
    (vi) Đề xuất này việc thụ lý ngay cũng nhằm tăng cường khả năng tiếp cận công lý của người
    dân và khả năng bảo đảm quyền tiếp cận công lý vì người dân có thể nộp đơn kiện ra bất kỳ tòa án
    nào mà người dân thấy thuận tiện hoặc vì năng lực nhận thức còn hạn chế của mình. Các toà án sẽ
    giúp người dân trong việc xác định thẩm quyền và chuyển hồ sơ khởi kiện tới tòa án có thẩm quyền.
    Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, tòa án cấp sơ thẩm của Trung Quốc còn hỗ trợ người dân đến
    tòa khởi kiện nhưng không có khả năng viết đơn thì tòa án sẽ viết đơn kiện giúp người dân.
    (vii) Đề xuất này không làm phát sinh gánh nặng về chi phí của Tòa án đối với việc xét đơn,
    chuyển hồ sơ khi Pháp lệnh về Án phí, lệ phí Tòa án sửa đổi cho phép Tòa án thu thêm lệ phí xét đơn.
    Như vậy hạn chế từ khoán chi hành chính của ngành tòa án dẫn đến thực tế từ chối chuyển hồ sơ của
    đương sự tới tòa án có thẩm quyền có thể được hạn chế.
    (viii) Đề xuất sửa đổi này không làm mất đi các quyền của đương sự trong việc Tòa án xác
    định mình có thẩm quyền hay không trong việc giải quyết vụ án. Đề xuất cũng nhằm củng cố cơ chế
    thụ lý vụ án thông qua bộ phận hành chính tư pháp của Tòa án (tương tự như bộ phận một cửa của cơ
    quan hành chính) để tiếp nhận đơn khởi kiện. Cơ chế hành chính tư pháp hiện nay đã được áp dụng
    tại một số tòa án ở Việt Nam như: Tổ thụ lý của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Tổ hành
    chính tư pháp của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, Tòa án

    9
    Điều 6 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
    10
    Các nước theo hệ thống dân luật được nghiên cứu bao gồm Cộng hòa Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa
    Liên bang Đức và Nhật Bản.
    7

  8. nhân dân tỉnh Hưng Yên, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội … Cơ chế này đã được Chánh án Tòa án
    nhân dân tối cao ghi nhận11.
    3. Xây dựng mô hình tiếp nhận đơn, thụ lý vụ án và phân công án nhằm bảo đảm công khai,
    minh bạch và độc lập xét xử
    Mô hình tiếp nhận đơn và phân công thẩm phán thụ lý vụ án hiện nay tại điều 167 của BLTTDS
    2004 và dự thảo BLTTDS sửa đổi hiện nay chưa thực sự là đổi mới theo các mô hình nhận đơn của
    các cơ quan hành chính nhà nước, như mô hình “một cửa_một đầu mối”, cấp giấy biên nhận hồ sơ,
    giấy hẹn….12 Do đó, dự thảo BLTTDS cần sửa đổi theo hướng để các tòa án có thể xây dựng bộ phận
    chuyên trách xử lý việc tiếp nhận đơn và quyết định thụ lý (như bộ phận Hành chính tư pháp như đề
    cập ở trên). Thẩm phán tiếp nhận đơn và quyết định thụ lý không phải là thẩm phán giải quyết vụ án.
    Có như vậy sẽ bảo đảm tính độc lập của mỗi hoạt động tố tụng, hạn chế tiêu cực. Mô hình “một cửa”
    của bộ phận hành chính tư pháp cần được thiết lập tại các tòa án và đây cũng là điều kiện để có thể áp
    dụng mô hình tiếp nhận đơn khởi kiện trực tuyến như quy định tại dự thảo BLTTDS.
    4. BLTTDS không nên phân tách thủ tục tiếp nhận đơn với thụ lý vụ án để bảo vệ Thẩm phán
    khỏi những áp lực về thời gian không thích hợp.
    Việc quy định tách thủ tục nhận đơn với thủ tục thụ lý vụ án cũng sẽ làm tăng áp lực công việc
    cho Thẩm phán khi phải xem xét đơn trong thời gian ngắn trong trường hợp vụ kiện có tính chất phức
    tạp. Cơ chế phân tách 2 giai đoạn tiếp nhận đơn và thụ lý như hiện nay đã tạo ra thực tiễn là nhiều tòa
    án không tiếp nhận đơn khởi kiện với nhiều lý do. Do đó, không nên phân tách các thời hạn Chánh án
    phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện với thời hạn Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện vì toàn
    bộ 2 công việc này là công việc nội bộ mang tính hành chính và quản lý nghiệp vụ của Tòa án. Tòa án
    nên cải cách sao cho các thủ tục đối với người dân được nhanh chóng và thuận tiện.
    5. Cần cấp giấy hẹn, giấy biên nhận hồ sơ khởi kiện hay thông báo nhận đơn khởi kiện
    (i) Quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS không bắt buộc tòa án khi tiếp nhận hồ
    sơ vụ án phải cấp giấy hẹn hay giấy biên nhận, thông báo xác nhận đã nhận đơn khởi kiện mà chỉ yêu
    cầu khi tiếp nhận hồ sơ phải ghi vào Sổ nhận đơn (Điều 167, BLTTDS 2004 và Điều 192-Dự thảo
    BLTTDS). đã dẫn đến tình trạng công dân nộp đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ tới toà án nhưng không
    có giấy biên nhận, giấy hẹn về thời gian trả lời là đơn khởi kiện, hồ sơ khởi kiện. Người dân phải đến
    toà nhiều lần mới biết được tình trạng đơn khởi kiện của mình có được chấp nhận hay không. Người
    dân không có bất kỳ chứng cứ nào để có thể khiếu nại nếu trong quá trình xem xét đơn khởi kiện, cán
    bộ toà án làm mất đơn hoặc hồ sơ khởi kiện. Người dân mất quyền khởi kiện nếu hồ sơ không được
    nhận và thụ lý vì bất kỳ lý do nào đó. Trong khi yêu cầu cấp giấy hẹn, giấy biên nhận trong các thủ

    11
    Chánh án TANDTC Trương Hoà Bình, “Đổi mới thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của tòa án nhân dân”,
    http://baochinhphu.vn/Cai-cach-Thu-tuc-Hanh-chinh/Doi-moi-thu-tuc-hanh-chinh-tu-phap-trong-hoat-dong-cua-Toa-an-
    Nhan-dan/166164.vgp
    12
    Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/09/ 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 3; Nghị quyết 30c/NQ-CP của
    Chính phủ ngày 08/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Điều 4,
    khoản 1 đoạn đ.
    8

  9. tục hành tại các cơ quan hành chính nhà nước là một chế định bắt buộc và áp dụng khá phổ biến 13.
    Các giấy tờ này là cơ sở để người dân có thể thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện hành chính nhằm
    bảo đảm quyền lợi của mình thì BLTTDS lại chưa quy định về vấn đề này. Do vậy, việc cấp giấy xác
    nhận đã nhận đơn và xác định về thời hạn trả lời đơn cần phải được cấp cho mọi hình thức nộp đơn
    (trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua trực tuyến) là cần thiết đối với mọi hình thức tiếp nhận đơn
    khởi kiện. Việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn nhằm củng cố quyền lợi và trách nhiệm của đương sự
    khi nộp đơn tới tòa án và tăng trách nhiệm giải trình, công khai hoạt động của Tòa án.
    (ii) Việc thông báo xác nhận đã nhận đơn khởi kiện có tính chất thông báo quyết định thụ lý
    vụ án như hiện nay được tống đạt tới các bên đương sự ngay từ giai đoạn sớm của vụ án sẽ giúp các
    đương sự tham gia tích cực hơn vào việc giải quyết vụ án để xác định Tòa án có thẩm quyền hay
    không, đơn khởi kiện đã đủ điều kiện hay chưa. Trong trường hợp, Tòa án khó khăn trong việc tống
    đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong giai đoạn này thì
    Tòa án và nguyên đơn xác định địa chỉ bị đơn trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo. Bị đơn không bị
    mất quyền phản đối về thẩm quyền của Tòa án trong các hoạt động tố tụng tiếp theo.
    2.2 Quy định hợp lý các thủ tục hành chính tư pháp để bảo đảm rút ngắn thời gian tố tụng
    (Điều 97, 171, 180, 192, 196, 197, 198, 201, 480 – dự thảo 5)
    1. BLTTDS cần phải bảo đảm tính hợp lý, thuận tiện và rút ngắn thời gian của hoạt động hành
    chính tư pháp.
    (i) Các quy định về thời hạn cần phải quy định cụ thể, có tính tiêu chuẩn về thời hạn tố tụng
    cho từng hoạt động tố tụng. Thời gian tố tụng là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới môi
    trường kinh doanh. Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ có đề ra mục tiêu “hoàn thiện các văn bản
    pháp luật có liên quan đến việc tranh chấp thương mại và phá sản doanh nghiệp theo hướng đơn
    giản hóa thủ tục, quy trình và rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp thương mại xuống còn tối đa
    200 ngày (hiện nay là 400 ngày), nhất là đối với các tranh chấp quy mô nhỏ và giữa các doanh
    nghiệp nhỏ và vừa thông qua Tòa án; và thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp là 24 tháng (hiện
    nay là 60 tháng)”. Xin lưu ý rằng thời gian giải quyết tranh chấp thực tế ở Việt Nam được đánh giá
    là 400 ngày căn cứ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2004 (BLTTDS). Như vậy, nếu
    muốn giảm được thời gian giải quyết tranh chấp thì ngoài những biện pháp cải cách tư pháp khác thì
    dự thảo BLTTDS sửa đổi cũng cần phải theo hướng giảm số lượng ngày trong mỗi thời hạn tố tụng.
    Theo quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS quy định thời hạn chuẩn bị xét xử cho việc
    giải quyết tranh chấp là 4 tháng (khoảng 120 ngày), không tính đến các lần hoãn thủ tục tố tụng…
    Vi phạm thời hạn là vi phạm tố tụng. Như vậy, khoảng cách thời gian thực tế trung bình mà đương
    sự phải bỏ ra với thời hạn do BLTTDS 2004 quy định là quá lớn (trên 200 ngày). Nhưng khoảng thời
    gian này chỉ có thể phát sinh ở những hoạt động tố tụng không bị nằm trong thời hiệu về tố tụng, như
    thủ tục nhận đơn và xử lý đơn khởi kiện.
    (ii) Tuy nhiên, theo dự thảo BLTTDS, một số thời gian hoạt động tố tụng của tòa án tăng hơn
    so với BLTTDS 2004. Ví dụ như thủ tục nhận đơn trong dự thảo BLTTDS được tách ra làm 2 giai

    13
    Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/09/ 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Điều 3; Nghị quyết 30c/NQ-CP của
    Chính phủ ngày 08/11/2011 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, Điều 4,
    khoản 1 đoạn đ.
    9

  10. đoạn: (i) Chánh án phân công thẩm phán xem xét đơn trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tòa án nhận
    đơn; (ii) Thẩm phán xem xét đơn và có quyết định thụ lý hay không trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày
    được phân công. Trong khi BLTTDS 2004 quy định trong vòng 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận
    đơn, Tòa án phải ra quyết định thụ lý hay không (Điều 167). Các thời hạn về niêm yết… cũng có thể
    nghiên cứu giảm xuống vì mục đích kéo dài thời hạn nhằm bảo đảm quyền lợi của đương sự nhưng
    thực chất lại là bảo đảm quyền lợi của một bên không muốn tòa án giải quyết vụ án mà không công
    bằng cho một bên muốn tòa án giải quyết. Nếu quy định như Dự thảo hiện nay thì thời gian giải quyết
    tranh chấp ở Việt Nam sẽ khó có thể giảm.
    (iii) Thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua tòa án được xác định trên tổng số
    ngày nộp hồ sơ tại tòa án, số ngày xét xử và ra bản án, số ngày để bản án được thi hành. Thời gian
    để tòa án giải quyết tranh chấp càng ngắn thì càng được coi là hệ thống tòa án làm việc hiệu quả.
    Đồng thời thời gian giải quyết tranh chấp ngắn cũng sẽ giảm chi phí cho các đương sự của tranh
    chấp.
    2. BLTTDS cần hoàn thiện quy định về thủ tục tống đạt để rút ngắn thời gian xử lý vụ án
    Thủ tục tống đạt cần được quy định rõ ràng, cho phép nhiều phương thức tống đạt (như tống
    đạt trực tiếp, trực tuyến, qua dịch vụ thừa phát lại…_ và rút ngắn một số thời gian tống đạt sẽ giúp
    cho việc giảm thời gian xử lý vụ án. Các hình thức tống đạt theo BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS
    sửa đổi chưa cho phép luật sư đại diện cho đương sự tiếp nhận các thông báo của tòa án. Tại nhiều
    quốc gia, khi luật sư đã được đương sự ủy quyền sẽ là bên giao dịch trực tiếp với tòa án và tòa án gửi
    thông báo cho đương sự thông qua luật sư. Hình thức này sẽ bảo đảm hiệu quả của việc tống đạt,
    tăng trách nhiệm công việc của luật sư và bảo đảm quyền lợi của các bên đương sự. Áp dụng phương
    thức tống đạt trực tuyến sẽ giảm chi phí, thời gian cho tòa án và cả đương sự. Phương thức tống đạt
    điện tử tại nhiều quốc gia áp dụng đó là trên cơ sở chấp thuận của đương sự về hình thức tống đạt
    trực tuyến, tòa án sẽ gửi các thông báo qua email của đương sự hoặc email của luật sư của đương sự.
    Ngoài ra, BLTTDS cần cho phép việc tống đạt thông qua luật sư, người bào chữa.
    3. BLTTDS cần thay đổi phương thức chấp thuận yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập của
    đương sự trong vụ án
    BLTTDS 2004 (Điều 176,177,178) và Dự thảo BLTTDS (Điều 196, Điều 197) đều quy định:
    trước khi tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, người có
    quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền đưa ra yêu cầu độc lập. Quy định như vậy
    chưa thực sự hợp lý vì tạo kẽ hở cho đương sự không có thiện chí có thể lợi dụng để kéo dài thời
    gian. Ví dụ như trong khi giải quyết tranh chấp đương sự sẽ chờ đến thời điểm tòa án chuẩn bị ban
    hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì mới đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, dẫn đến tòa án
    phải quay lại giai đoạn thụ lý. Vụ án có thể kéo dài thêm hàng tháng nữa mới kết thúc được. Do vậy,
    dự thảo BLTTDS cần sửa đổi theo hướng trong một thời hạn nhất định (có thể là 15 ngày) kể từ ngày
    nhận được thông báo về đơn khởi kiện của nguyên đơn, người được thông báo cho tòa án ý kiến của
    mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập, nếu có. Sửa đổi như trên
    không xâm phạm, không hạn chế quyền dân sự, cũng như quyền tố tụng của đương sự, mà lại đề cao
    trách nhiệm và lợi ích của đương sự. Bởi vì yêu cầu phản tố của bị đơn, yêu cầu độc lập của người
    có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các quan hệ pháp luật có liên quan đến vụ án, nếu giải quyết cùng

    10

  11. trong một vụ án sẽ tiện lợi cho đương sự. Nhưng nếu đương sự không yêu cầu giải quyết hoặc không
    yêu cầu trong thời hạn luật quy định, đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án độc lập khác. Quyền
    khởi kiện của đương sự vẫn được bảo đảm.
    4. BLTTDS cần hạn chế việc hoãn phiên tòa không có lý do hoặc vì những lý do không hợp lệ
    (i) BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS đều quy định tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà có
    đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt
    và không có đơn đề nghị xử vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nếu
    đương sự vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng mới được xử vắng mặt bị đơn, người liên quan.
    Các quy định này nhằm bảo đảm tối đa quyền bào chữa và tham gia tố tụng của người dân trong các
    vụ án dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động.
    (ii) Việc hoãn phiên tòa không có lý do hoặc lý do không hợp lệ của đương sự là một nguyên
    nhân kéo dài thời gian xét xử khi mà đương sự không hợp tác với tòa án hoặc cố tình giấu địa chỉ
    liên lạc để tòa án có thể tống đạt. Việc giấu địa chỉ buộc tòa án phải thực hiện nhiều thủ tục (bao gồm
    tống đạt, tiếp đến là niêm yết giấy triệu tập). Việc này tốn kém về thời gian và chi phí cho tòa án,
    làm chậm quá trình xét xử. Xét một góc độ thì cơ chế này nhằm bảo đảm công bằng cho các đương
    sự vì bảo đảm đương sự được tham gia vào hoạt động xét xử. Nhưng ở góc độ khác thì cơ chế này là
    bất công khi mà một bên đương sự thì cố ý trốn tránh việc ra tòa và một bên đương sự phải chờ đợi,
    nghiêm chỉnh thực hiện đúng quy định pháp luật để vụ án được xét xử.
    2.3 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng phương thức giao dịch trực tuyến trong hoạt
    động tố tụng, bao gồm tiếp nhận đơn, cấp bản án, tống đạt… (Điều 171, 173, 181, 191,
    192 – dự thảo 5)
    (i) Áp dụng phương thức giao dịch trực tuyến được nhiều nền kinh tế trên thế giới chọn lựa áp
    dụng trong việc cải cách hoạt động tư pháp và cải thiện môi trường kinh doanh trong thời gian gần
    đây. Cả 6 quốc gia dẫn đầu về môi trường kinh doanh của ASEAN (Singapore, Malaysia, Indonesia,
    Thái Lan, Philippine, Brunei) đều áp dụng phương thức nộp hồ sơ khởi kiện trực tuyến. Tùy theo hệ
    thống trực tuyến của mỗi quốc gia, có quốc gia cho phép thêm việc thanh toán án phí trực tuyến, thông
    báo tình trạng xử lý vụ án, công khai bản án và gửi bản án cho đương sự qua hệ thống điện tử14. Trong
    bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, việc khai báo thuế cá nhân, doanh nghiệp đã thực hiện được trực tuyến
    trên phạm vi cả nước. Phần lớn các ngân hàng ở Việt Nam đã cung cấp các dịch vụ thanh toán trực
    tuyến cùng với hệ thống thanh toán thông qua hệ thống điện thoại di động đã giúp người dân rất nhiều
    về thời gian, công sức, chi phí trong việc thực hiện các giao dịch thanh toán. Phương thức giao dịch
    trực tuyến đã giúp cho các cơ quan nhà nước được “gần dân” hơn bất kỳ phương thức truyền thống
    nào.
    (ii) Quản lý hoạt động tố tụng thông qua các phương tiện điện tử sẽ giúp cho lãnh đạo tòa án
    và thẩm phán quản lý được thời gian giải quyết vụ án, các công đoạn, hành vi tố tụng mà thẩm phán

    14
    Có thể xem thông tin về hồ sơ trực tuyến của các nước như sau: Singapore
    https://www.supremecourt.gov.sg/default.aspx?pgID=1; Malaysia: http://www.courts.com.my; Indonesia: https://ecourt-
    id.com; Thái Lan: http://events.futuregov.asia/articles/2013/aug/30/thailand-pushes-implementation-e-court/; Philippine:
    http://www.gmanetwork.com/news/story/312891/scitech/technology/phl-supreme-court-goes-paperless-with-ecourt-
    system; Brunei: http://efiling.judiciary.gov.bn/eFiling/
    11

  12. cần phải thực hiện để giúp cho tòa án hoạt động hiệu quả. Hệ thống quản lý vụ án điện tử cũng sẽ giúp
    cho tòa án có thể công khai một số hoạt động, hành vi tố tụng ra bên ngoài để giúp cho người dân
    được thuận tiện khi làm việc với tòa án. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hòa Bình đã đặt ra
    “trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 ngành Tòa án tiếp tục xây
    dựng, hoàn thiện các thủ tục hành chính tư pháp theo hướng đơn giản, đồng bộ, thuận tiện trong xử lý,
    giải quyết công việc giữa Tòa án với người dân; Tối đa hóa việc ứng dụng công nghệ thông tin trong
    hoạt động của Tòa án; Xây dựng các điều kiện cần thiết về cơ sở pháp lý, phát triển nguồn nhân lực
    và xây dựng cơ sở vật chất, môi trường làm việc hiện đại khoa học để hướng tới xây dựng và vận hành
    mô hình, phương thức “Tòa án điện tử” trong hoạt động của Tòa án” 15.
    (iii) Hiện nay, Việt Nam có hơn 10 tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân tối cao đã có
    cổng thông tin điện tử để thông tin các hoạt động của tòa án. Một số cổng thông tin đã có chức năng
    nhận hồ sơ trực tuyến như cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh16. Đây
    là điều kiện thuận lợi để có thể triển khai các mô hình tòa án điện tử (bao gồm việc nhận hồ sơ của các
    vụ án và vụ việc dân sự, kinh doanh-thương mại, thu phí án phí, lệ phí tòa án… và công khai các hoạt
    động của tòa án).
    2.4 Hạn chế sự tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự (Điều 58, 297 – dự thảo 5)
    Quan hệ tranh chấp dân sự, thương mại là quan hệ tư, quyền định đoạt là thuộc về đương sự,
    nên phải hạn chế sự can thiệp của cơ quan nhà nước. Viện kiểm sát chỉ nên tham gia vào các vụ án có
    liên quan đến lợi ích của Nhà nước (như tiền thuế, khoản đóng góp cho nhà nước, tài sản công) hoặc
    một bên đương sự là người chưa thành niên, có nhược điểm thể chất, tâm thần. Tuy nhiên, theo các
    quy định của BLTTDS 2004 và dự thảo BLTTDS, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị xem xét lại tất
    cả các vụ án tạo cơ hội để việc giải quyết tranh chấp dân sự bị kéo dài. Vì vậy, dự thảo BLTTDS cần
    giới hạn các trường hợp tham gia của Viện kiểm sát.
    2.5 Cần quy định rõ tiêu chí “đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài”
    (Điều 317 – dự thảo 5)
    Việc áp dụng thủ tục rút gọn là rất cần thiết trong giải quyết tranh chấp và được nhiều quốc gia
    trên thế giới áp dụng. Tuy nhiên, việc quy định tiêu chí “đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh
    chấp ở nước ngoài” (Điều 317) là quá rộng và chưa thực sự rõ ràng. Vì nhiều trường hợp, đương sự
    cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng các đương sự tham gia tranh chấp đã có
    những thỏa thuận về giải quyết tranh chấp nhưng muốn nhờ Tòa án công nhận thỏa thuận đó của các
    đương sự trong giải quyết tranh chấp, đặc biệt trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống tín dụng hiện nay.
    Việc Tòa án xem xét vụ việc theo thủ tục rút gọn đối với những trường hợp này sẽ hỗ trợ các doanh
    nghiệp, người dân Việt Nam bảo vệ được tài sản của mình khi đầu tư, kinh doanh ở nước ngoài.

    15
    Chánh án TANDTC Trương Hoà Bình, “Đổi mới thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của tòa án nhân dân”,
    http://baochinhphu.vn/Cai-cach-Thu-tuc-Hanh-chinh/Doi-moi-thu-tuc-hanh-chinh-tu-phap-trong-hoat-dong-cua-Toa-an-
    Nhan-dan/166164.vgp
    16
    http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/web/guest/142
    12

  13. 2.6 Một số vấn đề liên quan đến tính thống nhất của BLTTDS với các luật chuyên ngành
    khác (Điều 30, 31, 69, 112, 173, 191 – dự thảo 5)
    (i) Một số quy định của dự thảo BLTTDS vẫn còn chưa được thống nhất hoặc phản ánh hết
    các nội dung mà các luật chuyên ngành khác đã có quy định, như quy định về đóng dấu vào đơn khởi
    kiện17, quy định về “bưu điện” mà không sử dụng khái niệm “dịch vụ bưu chính”18…
    (ii) Tòa án cần cho phép áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài nhằm bảo
    đảm tính thống nhất với các quy định tại Điều 48, Điều 53 của Luật Trọng tài Thương mại (2010).
    (iii) BLTTDS cần có quy định về thủ tục tố tụng giải quyết nhanh cho vụ kiện giá trị nhỏ bên
    cạnh quy định về thủ tục rút gọn cho các vụ án thỏa mãn các điều kiện của Điều 317-dự thảo BLTTDS.
    Tóm lại, để môi trường kinh doanh của Việt Nam có sức cạnh tranh và thu hút nhà đầu tư trong
    nước và nước ngoài thì hệ thống tòa án phải là một hệ thống “gần dân, hiểu dân, giúp dân”19. Mọi thủ
    tục tố tụng trở nên thân thiện và thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Thời gian giải quyết tranh
    chấp cần phải được rút ngắn sao cho hoạt động giải quyết tranh chấp trở nên có hiệu quả cho người
    dân và doanh nghiệp. Hệ thống tòa án là thể chế đáng tin cậy để bảo đảm công bằng, quyền tài sản và
    việc thực thi hợp đồng./.

    17
    Luật Doanh nghiệp 2014 đã cho phép doanh nghiệp được tự quyết định số lượng, hình thức và chế độ sử dụng con dấu
    (Điều 44). Như vậy, thực tế sẽ có những doanh nghiệp có sử dụng và không sử dụng con dấu. Ngoài ra, với sự phát triển
    mạnh mẽ của phương thức xác nhận điện tử về hồ sơ, Bộ Tài chính đã chấp thuận chữ ký số của các doanh nghiệp trong
    việc nộp tờ khai thuế và tờ khai hải quan trực tuyến. Phương thức này được coi là đột phá và giảm nhiều thủ tục phiền hà
    cho doanh nghiệp. Có đến 98% doanh nghiệp trên mọi miền đất nước đã áp dụng phương thức nộp thuế qua mạng, xem
    thêm Báo Nhân dân, Để cải cách thủ tục hành chính thuế đi vào thực chất, http://www.nhandan.com.vn/kinhte/tin-
    tuc/item/27050402-de-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-thue-di-vao-thuc-chat.html; Truyền hình Quốc hội, Cải cách thủ tục
    hành chính trong lĩnh vực thuế, http://quochoitv.vn/kinh-te-xa-hoi/2015/8/cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-trong-linh-vuc-
    thue/80333
    18
    Khái niệm bưu điện đã không được sử dụng trong Luật Bưu chính 2010 mà thay vào đó là khái niệm “dịch vụ bưu
    chính” (Điều 3, Luật Bưu chính)
    19
    Hồ Chí Minh, Nhà nước và Pháp luật, Nhà xuất bản Pháp lý, Hà Nội, 1985, trang 188.
    13

  14. PHỤ LỤC 1. ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI CÁC ĐIỀU KHOẢN CỦA DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

    Dự thảo Bộ luật tố tụng Dân sự – Dự thảo 5 Đề xuất sửa đổi Lý do
    (xin ý kiến các Đoàn ĐBQH) (các sửa đổi được in nghiêng và có gạch chân)
    Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh, Điều 30. Những tranh chấp về kinh doanh,
    thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
    Tòa án (sửa đổi, bổ sung) án (sửa đổi, bổ sung)
    1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh Luật Doanh nghiệp (2014) lần
    1. Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh,
    doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng đầu đưa vào khái niệm cổ
    thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh
    ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi đông/thành viên công ty được
    doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
    nhuận. quyền nhân danh doanh nghiệp
    2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao kiện người quản lý khi cho
    2. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao
    công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có rằng những người này vi phạm
    công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều
    mục đích lợi nhuận. nghĩa vụ của người quản lý,
    có mục đích lợi nhuận.
    3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên 3. Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên v.v.. theo các Điều 72 và 161
    công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần của Luật Doanh Nghiệp
    vốn góp của công ty hay thành viên công ty. (2014). Các quy định này của
    phần vốn góp của công ty hay thành viên công ty.
    Luật Doanh nghiệp (2014) đã
    4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của 4. Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của
    quy định rõ “trình tự, thủ tục
    công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau công ty, tranh chấp giữa công ty với người quản lý
    khởi kiện thực hiện tương ứng
    liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể,trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên
    theo quy định pháp luật về tố
    hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong
    sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của
    tụng dân sự”.
    công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với
    nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải Do đó, việc bổ sung thêm các
    5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại,
    trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thuộc thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản loại tranh chấp này để bảo đảm
    thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác. của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công tính thống nhất của các quy
    ty. định pháp luật và tạo điều kiện
    cho hoạt động kinh doanh của
    5. Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, các doanh nghiệp.
    trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thuộc
    thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác.

    14

  15. Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương Điều 31. Những yêu cầu về kinh doanh, thương
    mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (sửa
    (sửa đổi, bổ sung) đổi, bổ sung)
    1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ 1. Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ Đề nghị bổ sung thẩm quyền
    của Tòa án đối với việc hủy bỏ
    đông theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp. đông hoặc nghị quyết của Hội đồng thành viên theo
    nghị quyết của Hội đồng thành
    2. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
    viên theo quy định tại khoản 8,
    mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo 2. Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại đoạn d của Điều 50 của Luật
    quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại. Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định Doanh nghiệp (2014).
    3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay, bắt giữ tàu biển theo của pháp luật về Trọng tài thương mại.
    quy định của pháp luật về hàng không dân dụng 3. Yêu cầu bắt giữ tàu bay, bắt giữ tàu biển theo quy
    Việt Nam, về hàng hải Việt Nam. định của pháp luật về hàng không dân dụng Việt
    4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam Nam, về hàng hải Việt Nam.
    bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của 4. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
    Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa
    quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết
    nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài
    Nam. mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
    5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam 5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
    phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài phán quyết kinh doanh, thương mại của Trọng tài
    nước ngoài. nước ngoài.
    6. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại 6. Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà
    mà pháp luật có quy định. trừ trường hợp theo quy pháp luật có quy định. trừ trường hợp theo quy định
    định của pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
    của cơ quan, tổ chức khác. quan, tổ chức khác.

    15

  16. Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
    (sửa đổi, bổ sung) (sửa đổi, bổ sung)
    1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án 1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án Đề xuất bổ sung khoản 3 của
    theo lãnh thổ được xác định như sau: theo lãnh thổ được xác định như sau: Điều 39 để nhằm hạn chế việc
    a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là trốn tránh (cố ý) hoặc những
    thay đổi khách quan của bị đơn
    là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ
    hoặc nguyên đơn về địa chỉ cư
    cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
    trú hoặc địa điểm đăng ký kinh
    tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và doanh dẫn đến vụ án đang giải
    gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định
    và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy quyết buộc phải chuyển sang
    tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
    định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này; tòa án khác để tiếp tục. Có
    b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau nhiều trường hợp bị đơn cố ý
    b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc
    bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc chuyển địa chỉ nhiều lần làm
    của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ tòa án đã không thể giải quyết
    dứt điểm vụ án.
    nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân
    cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại,
    dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương lao động quy định tại các điều 27, 29, 31 và 33 của
    mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và Bộ luật này;
    32 của Bộ luật này; c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa
    c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
    án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết. 2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án
    2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
    theo lãnh thổ được xác định như sau: a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng
    lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi
    a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu
    lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
    vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
    yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi
    b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm
    dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
    vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích
    b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm
    16
  17. vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người
    hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người
    quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã
    vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người chết;
    đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã c) Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất
    chết; tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu
    cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã
    c) Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất
    chết;
    tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
    hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết; d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định
    dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
    d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm
    định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi
    thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi
    trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên
    hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa
    người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
    nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án,
    quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
    giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;
    Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu
    gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có
    Tòa án nước ngoài; trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có
    thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản
    đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
    người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài
    có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
    có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công
    e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của
    nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người
    đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành
    án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức
    Nam; hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán

    17

  18. e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải
    Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
    phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
    hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật
    tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
    hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm hủy việc kết hôn trái pháp luật;
    quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn,
    hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có
    ngoài; thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình
    g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
    được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu i) Tòa án nơi một trong các bên thoả thuận về thay
    hủy việc kết hôn trái pháp luật; đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú,
    làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công
    h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn,
    nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi
    nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc con sau khi ly hôn;
    có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận
    tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên
    cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu
    i) Tòa án nơi một trong các bên thoả thuận về thay hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
    đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;
    làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm
    nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt
    con sau khi ly hôn; việc nuôi con nuôi;
    k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên m) Tòa án nơi Phòng công chứng, Văn phòng công
    cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sởcó
    hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản
    niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; công chứng vô hiệu;
    l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, n) Tòa án nơi Cơ quan thi hành án có thẩm quyền
    làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan
    dứt việc nuôi con nuôi; đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu
    cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản,

    18

  19. m) Tòa án nơi Phòng công chứng, Văn phòng phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định
    công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ của pháp luật;
    sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn o) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết
    bản công chứng vô hiệu; các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại
    n) Tòa án nơi Cơ quan thi hành án có thẩm quyền Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực
    thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài
    thương mại.
    đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu
    cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, 3. Không thay đổi thẩm quyền giải quyết vụ việc dân
    phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy sự theo lãnh thỗ
    định của pháp luật; Trong trường hợp vụ việc dân sự đã được một Tòa
    o) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết án thụ lý giải quyết theo đúng quy định về thẩm
    các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương quyền của Tòa án theo lãnh thổ do Bộ Luật này quy
    mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được định thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết,
    thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài bao gồm cả trường hợp trong quá trình giải quyết
    thương mại. vụ việc đương sự có sự thay đổi nơi cư trú hoặc địa
    chỉ giao dịch

    Điều 58. Nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm sát Điều 58: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
    viên (sửa đổi, bổ sung) tố tụng dân sự

    Khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân Điều 58 cần viết lại toàn bộ cả
    theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân sự, 1/ Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo điều khoản này để bảo đảm
    Kiểm sát viên có những nhiệm vụ, quyền hạn sau pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền tính thống nhất trong các quy
    đây: yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của định là Viện kiểm sát chỉ kiểm
    pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sát hoạt động tư pháp (Điều
    1. Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện; sự kịp thời, đúng pháp luật. 107, Hiến pháp 2013)
    2. Kiểm sát việc thụ lý giải quyết vụ án;
    3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án theo quy định của Bộ 2/ Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên họp giải
    luật này. quyết việc dân sự, phiên tòa trong các trường hợp
    sau:
    4. Tham gia phiên tòa, phiên họp và phát biểu quan
    điểm của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật

    19

  20. này; a/ vụ việc dân sự trong đó có một bên đương sự là
    5. Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân
    sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó
    6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án thực hiện đúng các khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của mình.
    hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
    7. Đề nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm b/ các vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, đối
    quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án tượng tranh chấp là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước.
    có vi phạm pháp luật;
    8. Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia c/ các vụ án tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự
    tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có có khiếu nại, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát
    thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố kháng nghị bản án ,quyết định của tòa án.
    tụng vi phạm pháp luật;
    3/Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm,
    9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng dân sự tái thẩm.
    khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo quy
    định của Bộ luật này.

    20

Download tài liệu Báo cáo góp ý dự thảo bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi) để cải thiện môi trường kinh doanh theo nghị quyết 19 của chính phủ File Docx, PDF về máy