[Download] Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam – Tải về File Docx, PDF

Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam

Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam
Nội dung Text: Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam

Download


Bài viết này của tác giả sẽ trình bày về một hình thức như thế, gọi là bán phá giá đối ứng. Các khái niệm về bán phá giá, bán phá giá đối ứng, phân tích mô hình bán phá giá đối ứng cấp độ cơ bản và tối ưu, trong đó mô hình tối ưu được nghiên cứu trong cơ chế thương mại được quản lý. Phần cuối là một số mệnh đề được rút ra từ việc phân tích mô hình bán phá giá đối ứng, từ đó đưa ra được một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam.

Bạn đang xem: [Download] Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam File Docx, PDF về máy

Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam

  1. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI ỨNG VÀ MỘT SỐ HÀM Ý
    CHO XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
    Reciprocal dumping and some implicationsfor
    Vietnam exports

    ThS. NCS. Phan Thu Trang
    Bộ môn Quản trị tác nghiệp Thương mại quốc tế, Khoa Kinh tế và Kinh do-
    anh quốc tế, Trường Đại học Thương mại
    Email: trang.pt@tmu.edu.vn

    TÓM TẮT

    Bán phá giá đang đƣợc coi là một hình thức bất hợp pháp trong thƣơng
    mại quốc tế. Nhƣng không thể phủ nhận những lợi ích mà bán phá giá
    mang lại cho nhà sản xuất, ngƣời tiêu dùng và cả các quốc gia liên
    quan, đặc biệt là trong ngắn hạn. Vì thế, câu hỏi đặt ra là ngoài việc áp
    các chính sách chống bán phá giá thì có cách nào để tận dụng đƣợc
    những mặt tích cực của bán phá giá trong thƣơng mại quốc tế hay
    không? Bài viết này của tác giả sẽ trình bày về một hình thức nhƣ thế,
    gọi là ―bán phá giá đối ứng‖. Các khái niệmvề bán phá giá, bán phá giá
    đối ứng, phân tích mô hình bán phá giá đối ứng cấp độ cơ bản và tối ƣu,
    trong đó mô hình tối ƣu đƣợc nghiên cứu trong cơ chế thƣơng mại đƣợc
    quản lý. Phần cuối là một số mệnh đề đƣợc rút ra từ việc phân tích mô
    hình bán phá giá đối ứng, từ đó đƣa ra đƣợc một số hàm ý cho xuất
    khẩu của Việt Nam.

    Từ khóa: bán phá giá, bán phá giá đối ứng, xuất khẩu Việt Nam

    884

  2. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    ABSTRACT

    Dumping is considered to be an illegal form of international trade. But
    there is no denying the benefits that dumping brings to producers,
    consumers and the countries involved, especially in the short
    term. Therefore, the question is, besides the application of anti-dumping
    policies, is there any way to take advantage of the positive aspects of
    dumping in international trade? This article will present such a form,
    called ―reciprocal dumping‖. Concepts of dumping, reciprocal
    dumping, the basic model and optimal model are studied, in which the
    optimal model is analyzed in the managed trade mechanism. The last
    part contains some propositions drawn from the analysis of reciprocal
    dumping models, thereby giving some implications for Vietnam’s
    exports.

    Keywords: Vietnam’s dumping, counter-dumping, Vietnam’s exports

    1. ĐẶT VẤN ĐỀ
    Chống bán phá giá – một mặt giúp cho nền sản xuất trong nƣớc
    đƣợc bảo hộ, đảm bảo đƣợc lợi ích của các doanh nghiệp nội địa,
    nhƣng mặt khác nó cũng mang lại những tác động tiêu cực tới lợi ích
    của ngƣời tiêu dùng khi không đƣợc sử dụng những hàng hóa nhập
    khẩu giá rẻ hơn với chất lƣợng tƣơng đƣơng (Trung tâm WTO, 2016).
    Xét ở góc độ bảo hộ ―các ngành công nghiệp non trẻ‖, việc sử dụng
    các chính sách chống bán phá giá ở các nƣớc, mà đặc biệt là các nƣớc
    đang phát triển, sẽ giúp bảo vệ doanh nghiệp và ngƣời tiêu dùng trong
    nƣớc chống lại ―mức giá thôn tính‖ và ―giá độc quyền‖ bằng cách
    ngăn chặn lợi thế giá thành thấp của các mặt hàng nhập khẩu đến từ
    các doanh nghiệp nƣớc ngoài. Ở góc độ ngƣời tiêu dùng, trong ngắn
    hạn, bán phá giá giúp gia tăng khả năng tiếp cận với hàng hóa chất
    lƣợng mà lại rẻ hơn. Tuy nhiên, những hậu quả kinh tế trong dài hạn

    885

  3. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    là rất lớn, thậm chí có thể dẫn đến sự sụp đổ của cả nền sản xuất nội
    địa. Và cuối cùng chính những ngƣời tiêu dùng trong nƣớc sẽ phải
    chịu mức giá độc quyền từ các doanh nghiệp nƣớc ngoài trong dài hạn
    sau khi các doanh nghiệp trong nƣớc hoàn toàn bị loại bỏ.
    Nhƣ vậy, trong một thị trƣờng cạnh tranh không hoàn hảo – nơi mà
    các doanh nghiệp phân phối hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực
    để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trƣờng – thì
    bán phá giá tồn tại nhƣ một công cụ để doanh nghiệp đánh bại đối thủ,
    chiếm lĩnh thị trƣờng ngoài nƣớc hoặc kiếm ngoại tệ khẩn cấp, và đôi
    khi cả vì mục tiêu chính trị. Còn đối với những nền kinh tế đang phát
    triển hoặc chƣa đƣợc thừa nhận là nền kinh tế thị trƣờng nhƣ Việt
    Nam trƣớc năm 2019 (VCCI, 2010) thì các mức chi phí cho sản xuất,
    nhân công, lợi nhuận hoặc tỷ giá thƣờng thấp hơn nhiều so với các
    nƣớc/khu vực kinh tế phát triển nhƣ Mỹ, EU… dẫn tới giá hàng hóa
    xuất khẩu có nguy cơ trở thành bán phá giá một cách không cố ý khi
    không xác định đƣợc chính xác các yếu tố cấu thành nên giá. Những
    minh chứng này cho thấy, một cách vô tình hay hữu ý thì bán phá giá
    vẫn đang làm một vấn đề diễn ra thƣờng xuyên trong thƣơng mại quốc
    tế. Kéo theo đó là những ảnh hƣởng không mấy tích cực tới thị trƣờng
    và ngƣời tiêu dùng của cả hai bên và những vụ kiện chống bán phá giá
    kéo dài khiến cho thƣơng mại quốc tế trở nên trì trệ, tổn thất.
    Theo thống kê của WTO, trong vòng 13 năm kể từ 1/1/1995 tới
    31/12/2017 tính trên toàn thế giới đã có tổng cộng 5.529 vụ, riêng Việt
    Nam là 72 vụ (thống kê theo quốc gia khởi kiện). Đối với Việt Nam,
    tính từ năm 2013 đến 30/6/2019, chúng ta đã tiến hành 07 vụ kiện
    chống bán phá giá các mặt hàng nhƣ nhựa, gỗ, hợp kim, thép… của
    Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc, Indonesia, Đài Loan.
    Nhƣng ngƣợc lại, cùng trong giai đoạn này, Việt Nam cũng phải chịu
    tới 45 vụ kiện chống bán phá giá các mặt hàng thép, sợi nilon, lốp,
    giầy, sợi vải, cá da trơn, gạo… còn nếu tính từ năm 1994 thì tổng số
    vụ lên tới con số 86. Một câu hỏi đặt ra là liệu có một biện pháp nào

    886

  4. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    giảm bớt đƣợc những thiệt hại do chính sách chống bán phá giá gây
    ra, đồng thời đảm bảo đƣợc quyền lợi của các doanh nghiệp, các quốc
    gia khi xuất khẩu hàng hóa sang nhau, cũng nhƣ quyền lợi của ngƣời
    tiêu dùng hai nƣớc? Phần tiếp sau của bài viết nghiên cứu về ―bán phá
    giá đối ứng‖ để tìm ra câu trả lời.
    2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
    Bán phá giá
    Bán phá giá là một khái niệm cơ bản của thƣơng mại quốc tế. Các
    sản phẩm bán vào một thị trƣờng với giá bán ở mức dƣới giá thành
    sản xuất thì đƣợc xem là bán phá giá và có thể phải chịu các cuộc điều
    tra và bị trừng phạt. Bán phá giá là tổng hợp những biện pháp bán hạ
    giá một số mặt hàng xuất khẩu nào đó để cạnh tranh với những bạn
    hàng khác trên thị trƣờng thế giới. Nhƣ đã đề cập ở trên, thì mục tiêu
    của bán phá giá là đánh bại đối thủ, chiếm lĩnh thị trƣờng ngoài nƣớc,
    kiếm ngoại tệ khẩn cấp, hoặc vì mục tiêu chính trị (VCCI, 2004 &
    2010).
    Ví dụ về bán phá giá đƣợc tác giả thể hiện nhƣ hình 1 dƣới đây.

    Việt Nam Mỹ

    Xuất khẩu sản phẩm Giá P
    Z
    So sánh với giá Y
    Ở mức giá P

    Hình 3. Ví dụ về bán phá giá hàng hóa
    Nguồn: Tác giả mô hình hóa (2019)

    887

  5. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    Trong hình 1 ở trên:
    P là giá bán hàng hóa Z trong hợp đồng xuất khẩu, là giá mà doanh
    nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam bán cho doanh nghiệp nhập khẩu tại
    Mỹ.
    Y là giá so sánh và đƣợc tính nhƣ sau:
    Trƣờng hợp 1 : Giá bán tại Việt Nam của sản phẩm tƣơng tự với
    sản phẩm bị đề nghị điều tra
    Trƣờng hợp 2: Giá của sản phẩm tƣơng tự khi xuất sang nƣớc thứ
    ba.
    Trƣờng hợp 3: Y = Giá thành sản xuất + các chi phí cần thiết + lợi
    nhuận hợp lý
    ‗t‘ là biên độ bán phá giá, ở Việt Nam biên độ này là 2%.
    Sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu Y – P > t.
    Đối với trƣờng hợp nƣớc xuất khẩu có nền kinh tế phi thị trƣờng,
    khi tính toán giá Y, nƣớc nhập khẩu đƣợc phép bỏ qua các cách tính
    bình thƣờng và tự mình xác định một cách thức tính hợp lý. Thƣờng
    thì cơ quan có thẩm quyền của nƣớc nhập khẩu, sau khi kết luận rằng
    nƣớc xuất khẩu có nền kinh tế phi thị trƣờng, có thể sẽ bỏ qua các số
    liệu về chi phí, giá cả nội địa nƣớc xuất khẩu và chọn một nƣớc thứ ba
    thay thế (dùng giá bán hoặc các chi phí sản xuất sản phẩm tại nƣớc
    này) để tính giá so sánh Y của sản phẩm đang điều tra.
    Trƣớc năm 2019, do chƣa đủ thời hạn 12 năm gia nhập WTO nên
    Việt Nam chƣa đƣợc Mỹ, EU công nhận là nƣớc có nền kinh tế thị
    trƣờng, do vậy trong các vụ kiện chống bán phá giá, các nƣớc nhập
    khẩu luôn chọn một nƣớc thứ ba để tính giá Y. Cách tính này có thể
    gây ra nhiều bất lợi cho các nhà sản xuất và các nhà xuất khẩu do giá
    Y thƣờng bị đội lên cao bởi:
    Cơ quan có thẩm quyền của nƣớc nhập khẩu có quyền tự do lựa
    chọn một nƣớc thứ ba thay thế và giá cả ở nƣớc này có thể khác xa giá

    888

  6. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    cả tại nƣớc xuất khẩu do có các điều kiện, hoàn cảnh thƣơng mại khác
    nhau;
    Các nhà sản xuất sản phẩm tƣơng tự (là cơ sở xác định Y) tại nƣớc
    thứ ba đƣợc lựa chọn là đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp đang
    bị điều tra và vì thế họ có thể khai báo mức giá khiến kết quả so sánh
    giá xuất khẩu với giá Y bất lợi cho những doanh nghiệp này.
    Bán phá giá về ngắn hạn là lợi cho ngƣời tiêu dùng nhƣng về dài
    hạn là không có lợi vì nó tiêu diệt các doanh nghiệp cạnh tranh và nền
    sản xuất trong nƣớc. Để chống lại việc bán phá giá, nhà nƣớc đã có
    quy định về việc giảm giá không đƣợc thấp hơn 50% mức bán trƣớc
    đó trong luật thƣơng mại. Mục đích là tránh để doanh nghiệp sử dụng
    chiêu bài khuyến mại để bán phá giá.
    Chống bán phá giá
    Chống bán phá giá làm một trong ba hình thức ―phòng vệ thƣơng
    mại‖ trong thƣơng mại quốc tế. Phòng vệ thƣơng mại là cụm từ chung
    để chỉ nhóm các biện pháp đƣợc sử dụng với mục tiêu bảo vệ sản xuất
    nội địa trƣớc hàng hóa nhập khẩu từ nƣớc ngoài (VCCI, 2010), bao
    gồm:
    Biện pháp chống bán phá giá: phòng vệ chống lại hiện tƣợng hàng
    hóa nƣớc ngoài nhập khẩu bán phá giá gây thiệt hại đáng kể cho
    ngành sản xuất nội địa nƣớc nhập khẩu;
    Biện pháp chống trợ cấp: phòng vệ chống lại hiện tƣợng hàng hóa
    nƣớc ngoài nhập khẩu đƣợc trợ cấp gây thiệt hại đáng kể cho ngành
    sản xuất nội địa nƣớc nhập khẩu;
    Biện pháp tự vệ: phòng vệ chống lại hiện tƣợng hàng hóa nhập
    khẩu tăng đột biến gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội
    địa nƣớc nhập khẩu.
    Các Hiệp định của WTO về chống bán phá giá (ADA), chống trợ
    cấp (SCM) và tự vệ (SG) quy định các nguyên tắc thống nhất bắt buộc
    đối với tất cả các nƣớc thành viên khi xây dựng pháp luật và áp dụng

    889

  7. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    trong thực tiễn các biện pháp phòng vệ này. Có thể tìm hiểu quy trình
    điều tra chống bán phá giá tại Hòa Kỳ theo các giai đoạn sau:

    Bảng 1. Quy trình và các thời hạn trong vụ điều tra chống bán
    phá giá tại Hoa Kỳ
    Đơn kiện đƣợc nộp
    Khởi xƣớng điều tra
    Điều tra sơ bộ về thiệt
    hại
    Điều tra sơ bộ về việc
    bán phá giá
    Điều tra cuối cùng về
    bán phá giá
    Điều tra cuối cùng về
    thiệt hại
    Quyết định áp dụng biện
    pháp chống bán phá giá
    Rà soát hành chính hàng
    năm
    Rà soát hoàng hôn
    Nguồn: VCCI (2010)
    Không phải tất cả các vụ điều tra đều đi hết các giai đoạn nói trên.
    Theo pháp luật cũng nhƣ trong thực tiễn thì ở mọi giai đoạn của vụ
    việc đều có những khả năng để chấm dứt vụ điều tra. Pháp luật Hoa
    Kỳ quy định thời hạn tối đa cho từng hoạt động cụ thể trong mỗi giai
    đoạn của vụ điều tra chống bán phá giá. Trong thực tế, các thời hạn
    này có thể thay đổi tùy thuộc vào tính chất và hoàn cảnh khách quan
    của từng vụ việc cũng nhƣ khả năng chủ quan của cơ quan điều tra
    (trong giới hạn mà pháp luật cho phép).
    Các hiệp hội nghề nghiệp của nƣớc nhập khẩu sẽ là nơi thu thập
    thông tin và kiến nghị chính phủ điều tra chống bán phá giá sản phẩm
    nhập khẩu nào đó đang có khả năng cạnh tranh với sản phẩm của họ.

    890

  8. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    Có một nghịch lý là thay vì tìm cách giảm giá sản phẩm trong nƣớc thì
    các nƣớc nhập khẩu thƣờng tiến hành kiện chống bán phá giá đối với
    những sản phẩm nhập khẩu để nhà nƣớc áp dụng mức thuế cao lên sản
    phẩm nhập khẩu đó. Ngoài lý do chính đáng là bảo hộ nền sản xuất
    trong nƣớc thì những lý do hợp lý khác đƣợc đƣa ra khi kiện chống
    bán phá giá đó là tăng ngân sách Nhà nƣớc, bảo vệ ngƣời tiêu dùng
    tránh khỏi mức giá độc quyền sau này.
    Nhƣng không phải trƣờng hợp nào nƣớc nhập khẩu cũng đƣa một
    sản phẩm có giá thấp hơn giá so sánh vào diện điều tra chống phá giá.
    Nếu nƣớc nhập khẩu thấy việc kiện chống bán phá giá là có lợi thì họ
    mới làm. Còn nếu nhƣ sản phẩm đó không gây tổn hại gì sản xuất
    trong nƣớc, ngƣời tiêu dùng đƣợc hƣởng lợi vì mua đƣợc giá rẻ thì
    không có lý do gì lại kiện để làm tăng giá hàng hóa nhập khẩu.
    Bán phá giá đối ứng
    Hiện tƣợng ―bán phá giá‖ trong thƣơng mại quốc tế có thể đƣợc
    giải thích bằng lý thuyết chuẩn về phân biệt giá độc quyền. Nếu một
    doanh nghiệp đang tối đa hóa lợi nhuận thấy rằng độ co giãn về cầu
    hàng hóa ở thị trƣờng nƣớc ngoài là cao hơn so với thị trƣờng nội địa,
    thì họ có thể sẽ phân biệt về giá giữa hai thị trƣờng, dẫn tới việc tính
    giá thấp hơn tại thị trƣờng nƣớc ngoài. Điều này đƣợc lý giải bởi sự
    khác biệt ―tình cờ‖ trong nhu cầu của các quốc gia (Jame et la., 1983).
    Năm 1981, Brander đã phát triển mô hình cạnh tranh trong thƣơng
    mại song phƣơng của các doanh nghiệp độc quyền sản xuất cùng một
    loại hàng hóa. Đến năm 1983, Brander và Krugman (1983) đã giới
    thiệu thuật ngữ ―bán phá giá đối ứng‖ và cho thấy điều này có thể xảy
    ra trong một sự độc quyền quốc tế về chi phí vận chuyển để 02 doanh
    nghiệp từ 02 quốc giá sẽ bán hàng vào thị trƣờng của nhau ở mức giá
    thấp hơn mức giá bán ở nội địa. Cũng trong năm 1983, Jame và cộng
    sự đã đƣa ra lập luận rằng sự cạnh tranh độc quyền một cách tự nhiên
    giữa các các doanh nghiệp dẫn tới sự tăng lên của việc ―bán phá giá

    891

  9. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    đối ứng‖, trong đó việc ―bán phá giá đối ứng‖ đƣợc hiểu là doanh
    nghiệp này sẽ phá giá trong thị trƣờng nội địa của những doanh
    nghiệp kia.
    ―Bán phá giá đối ứng‖ đƣợc Brander và Jame nhấn mạnh vào yếu
    tố cốt lõi trong hành vi và nhu cầu thị trƣờng của các doanh nghiệp.
    Yếu tố cốt lõi này đƣợc Helpman (1982) gọi là ―thị trƣờng đƣợc phân
    khúc‖, tức là mỗi doanh nghiệp sẽ coi mỗi quốc gia là một thị trƣờng
    riêng biệt và ra quyết định về sản lƣợng cụ thể cho từng thị trƣờng.
    Điểm nổi bật trong ―bán phá giá đối ứng‖ là việc làm giảm đáng kể
    những chi phí vận chuyển không cần thiết. Điều này đòi hỏi phải có sự
    gia nhập thị trƣờng một cách tự do trong nền kinh tế thƣơng mại mở
    cửa. Bởi vì ngay cả khi một nƣớc đã mở cửa thƣơng mại, nhƣng nếu
    không có sự gia nhập thị trƣờng một cách tự do thì lợi ích của quốc
    gia cũng có thể tăng hoặc giảm tùy thuộc vào mức độ gia nhập thị
    trƣờng. Còn khi có sự gia nhập thị trƣờng một cách tự do, sẽ mang lại
    kết quả là việc ―bán phá giá đối ứng‖ các hàng hóa sang nhau, giúp
    mở rộng thị trƣờng chung, giảm chi phí vận chuyển và tăng hiệu quả
    cạnh tranh.
    3. MÔ HÌNH BÁN PHÁ GIÁ ĐỐI ỨNG
    Mô hình cơ bản
    Jame và cộng sự (1983) đã đƣa ra mô hình ―bán phá giá đối ứng‖
    cơ bản, trong đó có 02 quốc gia khác nhau, một gọi là ―trong nƣớc‖ và
    một gọi là ―nƣớc ngoài‖; và mỗi quốc gia có một doanh nghiệp sản
    xuất hàng hóa Z. Chi phí vận chuyển phát sinh khi xuất khẩu hàng hóa
    từ nƣớc này sang nƣớc khác. Ý tƣởng chính là mỗi doanh nghiệp xem
    quốc gia là một thị trƣờng riêng biệt và từ đó lựa chọn sản lƣợng hàng
    hóa nhằm tối đa hóa lợi nhuận tại mỗi quốc gia riêng. Mỗi doanh
    nghiệp cũng sẽ có nhận thức riêng về một sản lƣợng cạnh tranh
    (Cournot) và giả định rằng doanh nghiệp sẽ nắm giữ sản lƣợng cố
    định ở mỗi quốc gia.

    892

  10. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    Các doanh nghiệp trong nƣớc sản xuất đầu ra một sản lƣợng ‗x‘ cho
    tiêu dùng trong nƣớc và số lƣợng ‗x*‘ cho tiêu dùng nƣớc ngoài. Chi
    phí cận biên là một hằng số ‗c‘ và chi phí vận chuyển thuộc loại ―tảng
    băng trôi‖ ngụ ý rằng chi phí xuất khẩu là c/g trong đó 0 g 1.
    Tƣơng tự, doanh nghiệp nƣớc ngoài sản xuất sản lƣợng ‗y‘ để xuất
    khẩu sang thị trƣờng của doanh nghiệp trong nƣớc và số lƣợng ‗y*‘
    cho thị trƣờng riêng của họ, và sẽ phải đối mặt với cấu trúc chi phí đối
    xứng. Sử dụng ‗p‘ và ‗p*‘ để thể hiện về giá cả và lợi nhuận tƣơng
    ứng cho thị trƣờng trong nƣớc và nƣớc ngoài.
    π = xp (Z) + x*p* (Z*) – c (x + x*/g) – F (1)
    π* = yp (Z) + y*p* (Z*) – c (y + y*/g) – F* (2)
    Trong đó dấu hoa thị ‗*‘ biểu thị các biến liên quan đến nƣớc ngoài
    và F biểu thị chi phí cố định. Một kiểm tra nhỏ cho thấy rằng lựa chọn
    tối đa hóa lợi nhuận của ‗x‘ là độc lập với ‗x*‘ và tƣơng tự với ‗y‘ và
    ‗y*‘: mỗi quốc gia có thể đƣợc xem xét một cách riêng biệt. Bằng
    cách đối xứng thì chúng ta chỉ cần xem xét thị trƣờng trong nƣớc.
    Mỗi doanh nghiệp sẽ tối đa hóa lợi nhuận theo một sản lƣợng riêng,
    mang lại những
    điều kiện đặt hàng đầu tiên.
    πx = xp’ + p – c = 0 (3)
    πy = yp’ + p – c/g = 0 (4)
    Trong đó dấu ‘ hoặc những chữ viết dƣới ‗x, y‘ biểu thị các công cụ
    phái sinh. Đây đƣợc coi là các hàm ―phản hồi tốt nhất‖ ở dạng ẩn. Và
    giải pháp từ các hàm này là việc cân bằng thƣơng mại. Sử dụng biến σ
    để biểu thị y/Z, thị phần nƣớc ngoài tại thị trƣờng nội địa và cho ε = –
    p/Z p‘, độ co giãn của cầu trong nƣớc, những hàm ―phản hồi tốt nhất‖
    này có thể đƣợc viết lại nhƣ sau:
    p = cε / (ε + σ -1) (3’)

    893

  11. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    p = cε / g (ε – σ) (4’)
    Phƣơng trình (3‘) và (4‘) là 2 phƣơng trình có thể đƣợc giải cho p
    và σ. Giải pháp là:
    p = cε (1 + g) / g (2ε -1) (5)
    σ = (ε (g-1) + 1) / (1+ g) (6)
    Các giải pháp này đạt một trạng thái cân bằng chỉ khi điều kiện thứ
    hai đƣợc thỏa mãn:
    πxx = xp” + 2p’ < 0 ; π*yy = yp” + 2p’ < 0 (7)
    Các tác giả cũng áp đặt các điều kiện sau đây:
    πxy = xp” + p’ < 0 ; π*yx = yp” + p’ < 0 (8)
    Điều kiện (8) có nghĩa là doanh thu cận biên của doanh nghiệp này
    sẽ giảm khi sản lƣợng của doanh nghiệp khác tăng, tƣơng ứng với các
    hàm phản hồi bị dốc xuống. Điều này ngụ ý về sự ổn định và khi đó
    thế cân bằng duy nhất sẽ đƣợc giữ trên toàn cầu. Có một số trƣờng
    hợp không định trƣớc về nhu cầu hoặc một số trƣờng hợp không thể
    kiểm soát đƣợc nhƣ trong nghiên cứu của Seade (1980) và Friedman
    (1977) sẽ khiến cho (8) bị vi phạm, nhƣng những trƣờng hợp này sẽ bị
    coi là ngoại lệ. Do vậy, trong nghiên cứu của Jame và cộng sự, điều
    kiện (7) và (8) đƣợc giả sử là luôn thỏa mãn.
    Các giải pháp tích cực cho (5) và (6) ngụ ý về thƣơng mại hai chiều
    trong bối cảnh này. Một giải pháp tích cực sẽ phát sinh nếu ε < l/(l-g)
    ở trạng thái cân bằng vì giá đó vƣợt quá chi phí xuất khẩu biên (p >
    c/g) và σ > 0. Theo điều kiện này, cộng với điều kiện (7) và (8), một
    trạng thái cân bằng thƣơng mại hai chiều ổn định duy nhất sẽ giúp
    nắm giữ đƣợc những nhu cầu mang tính cơ hội (Brander, 1981 chỉ
    xem xét trƣờng hợp nhu cầu tuyến tính). Có thể thấy, ở trạng thái cân
    bằng, mỗi doanh nghiệp có thị phần xuất khẩu nhỏ hơn thị trƣờng nội
    địa. Do đó, doanh thu cận biên của thị trƣờng xuất khẩu sẽ cao hơn.
    Chi phí cận biên của việc cung ứng một đơn vị hàng xuất khẩu là cao

    894

  12. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    hơn so với một đơn vị hàng bán trong nƣớc do có chi phí vận chuyển,
    nhƣng điều này lại liên quan tới doanh thu cận biên cao hơn. Do đó,
    doanh thu cận biên có thể cân bằng chi phí cận biên ở cả hai thị trƣờng
    tại mức sản lƣợng phù hợp. Điều này đúng với các doanh nghiệp ở cả
    hai thị trƣờng có phát sinh thƣơng mại hai chiều.
    Mô hình tối ưu
    Trong nghiên cứu gần đây của Alberto (2019), tác giả đã phân tích
    về bán phá giá tối ƣu. Theo tác giả, bán phá giá tối ƣu là việc sử dụng
    mức thuế thƣơng mại để tạo ra mức giá đối ứng phân biệt cho từng thị
    trƣờng, từ đó giúp tối ƣu hóa lợi ích của các bên. Để làm đƣợc điều
    này, chính phủ cần phải có những cam kết và bảo hộ quản lý trong
    những thời hạn cụ thể. Dựa trên những nghiên cứu của Brander và
    Krugman (1983), Dixit (1988), và Regibeau và Gallegos (2004),
    Alberto đã nhận định rằng, 02 doanh nghiệp của 02 quốc gia đang
    phải đối mặt với những bất lợi do sự độc quyền quản lý của chính phủ,
    trong khi nếu để 02 doanh nghiệp tự do cạnh tranh vào thị trƣờng của
    nhau thì có thể tạo ra đƣợc mức doanh thu phi mã dựa trên mức giá
    thấp hơn đối thủ.
    Mô hình của Albert gồm 02 nền kinh tế mở, trong nƣớc và nƣớc
    ngoài, và 02 doanh nghiệp giống hệt nhau. Cả hai đều có cấu trúc chi
    phí đối xứng và sản xuất cùng một loại hàng hóa đồng nhất. Trong
    thƣơng mại độc quyền, cả hai cùng hoạt động nhƣ một nhà độc quyền.
    Cả hai giao thƣơng với nhau ở những ―phân khúc thị trƣờng cụ thể‖
    của đối tác – là phân khúc thị trƣờng mà ở đó mức phí vận chuyển
    không quá cao.
    Mô hình đƣợc thiết kế nhƣ một cuộc chơi gồm ba giai đoạn:
    Giai đoạn đầu tiên, doanh nghiệp trong nƣớc chọn tham gia thị
    trƣờng nƣớc ngoài với mức chi phí cố định F và ngầm xác định năng
    lực sản xuất của mình. Nếu F đƣợc đặt quá cao thì doanh nghiệp sẽ chỉ
    tham gia khi có sự cam kết từ chính phủ trong nƣớc về việc bảo hộ

    895

  13. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    quản lý ở giai đoạn thứ hai, nếu không thì doanh nghiệp sẽ không
    tham gia. Các doanh nghiệp trong nhóm này thƣờng nằm trong trong
    các lĩnh vực đặc biệt nhƣ thép, xi măng, dầu, v.v. Ở giai đoạn này, lựa
    chọn tham gia vào thị trƣờng sẽ phản ánh việc doanh nghiệp có đạt
    đƣợc lợi ích ròng từ việc bảo hộ quản lý trong ―bán phá giá đối ứng‖
    so với trƣờng hợp độc quyền hay không. Lúc này, chi phí cố định cho
    việc gia nhập thị trƣờng là F1, nên doanh nghiệp trong nƣớc sẽ chỉ gia
    nhập nếu:
    (9)
    Giai đoạn thứ hai, chính quyền trong nƣớc cam kết đƣa ra những
    bảo hộ thƣơng mại dƣới hình thức thuế thƣơng mại đặc biệt, nhằm
    ngăn chặn hiện tƣợng doanh nghiệp trong nƣớc là những doanh
    nghiệp ―định trƣớc‖ của nƣớc ngoài. Dƣới cơ chế thƣơng mại tự do
    đƣợc quản lý với mục đích để xác định thuế thƣơng mại tối ƣu cho
    nền kinh tế nội địa, tác giả tiến hành kiểm tra thặng dƣ của 03 đối
    tƣợng là ngƣời tiêu dùng; nhà sản xuất; và doanh thu thƣơng mại. Ba
    yếu tố này đã giúp cho tác giả thể hiện một biểu thức về hàm lợi ích
    trong nƣớc là:
    (10)

    Ở giai đoạn 2 này, thuế thƣơng mại đặc biệt có tác động tích cực tới
    thặng dƣ của nhà sản xuất. nhƣng lại có tác động tiêu cực lên thặng dƣ
    tiêu dùng và doanh thu thuế. Tuy nhiên, với vai trò là một mức thuế
    đối kháng trong ―bán phá giá đối ứng‖, thuế thƣơng mại đặc biệt là
    không bị cấm và không còn mang ý nghĩa tiêu cực đối với doanh thu
    thuế. Còn thặng dƣ tiêu dùng lúc này sẽ đƣợc bù đắp bởi thuế thƣơng
    mại đối với thặng dƣ của nhà sản xuất và doanh thu thuế, cộng với lợi
    nhuận trong thặng dƣ tiêu dùng từ kết quả thực tế của việc bán phá giá
    đối ứng, do đó thuế thƣơng mại tối ƣu sẽ không có giá trị âm.
    Giai đoạn thứ ba, các doanh nghiệp đối xứng ở trong và ngoài nƣớc
    cạnh tranh kiểu Cournot với nhau trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc.

    896

  14. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    Cạnh tranh Cournot mô tả một cấu trúc ngành (tức là độc quyền
    nhóm) trong đó các doanh nghiệp cạnh tranh đồng thời (và độc lập) sẽ
    chọn một mức sản lƣợng để sản xuất. Tổng sản lƣợng đƣợc cung cấp
    bởi tất cả các doanh nghiệp sau đó xác định giá cả thị trƣờng. Theo
    quy luật cung cầu, mức sản lƣợng cao dẫn đến mức giá tƣơng đối
    thấp, trong khi mức sản lƣợng thấp hơn dẫn đến mức giá tƣơng đối
    cao hơn. Do đó, mỗi doanh nghiệp phải xem xét số lƣợng dự kiến
    đƣợc cung cấp bởi các đối thủ cạnh tranh để tối đa hóa lợi nhuận của
    chính họ. Đặc trƣng của cạnh tranh Cournot là các doanh nghiệp sẽ
    chia sẻ thị trƣờng với nhau. Trong giai đoạn thứ ba của cuộc chơi,
    doanh nghiệp này tin rằng doanh nghiệp kia sẽ giữ một sản lƣợng cố
    định trong khi mức sản lƣợng của doanh nghiệp mình thay đổi, nghĩ là
    dqi/dqj = 0 đối với mọi i ≠ j. Tại thời điểm này, mỗi doanh nghiệp đã
    xem rằng cả hai thị trƣờng đều đƣợc phân chia. Hàm lợi nhuận cho
    mỗi doanh nghiệp đƣợc thể hiện ở dạng sau:
    + Đối với doanh nghiệp trong nƣớc:
    (11)
    + Đối với doanh nghiệp nƣớc ngoài (là doanh nghiệp xuất khẩu
    sang thị trƣờng của doanh nghiệp trong nƣớc có thuế nhập khẩu tại
    chỗ):
    (12)
    Trong đó:
    Q = x1 + x2, đại diện cho cầu của thị trƣờng trong nƣớc
    Z = y1 + y2, đại diện cho cầu của thị trƣờng nƣớc ngoài
    P (Q) và P (Z) là các mức giá cho thị trƣờng trong nƣớc và thị
    trƣờng nƣớc ngoài, nơi mà việc cạnh tranh Cournot diễn ra tƣơng ứng
    F là viết tắt của chi phí cố định cho việc gia nhập thị trƣờng
    t1 là thuế thƣơng mại đặc biệt đƣợc quản lý bởi chính phủ trong
    nƣớc

    897

  15. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    c là chi phí biên cố định trong sản xuất tại các mức năng suất của
    thị trƣờng trong và ngoài nƣớc
    τ là là chi phí biên cố định trong sản xuất cho xuất khẩu giữa các
    quốc gia, trong điều kiện xem xét về cấu trúc chi phí đối xứng.
    Trong mô hình này, trình tự của các bƣớc là rất quan trọng bởi nó
    tạo ra ra sự tƣơng tác chiến lƣợc giữa các doanh nghiệp và chính phủ
    trong bối cảnh thƣơng mại quốc tế. Brander và Spencer (1985),
    Spencer và Brander (1983), và Eaton và Grossman (1986) đã chỉ ra
    rằng chính sách thƣơng mại tối ƣu của Chính phủ cần có trƣớc khi
    doanh nghiệp lựa chọn thị trƣờng đối ứng sẽ giúp mang lại lợi ích
    nhiều hơn cho quốc gia thông qua sự tƣơng tác chiến lƣợc giữa doanh
    nghiệp và chính sách thƣơng mại của Chính phủ. Cơ chế liên kết thực
    hiện thƣơng mại và bán phá giá đối ứng trong nghiên cứu này của
    Alberto là cách để thƣơng mại mang lại một ―áp lực chính tắc‖ lên
    chính phủ hai nƣớc nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp trong và ngoài
    nƣớc phá giá đối ứng sang thị trƣờng của nhau. Sự cam kết có thời
    hạn của cả hai chính phủ dựa vào thực tế rằng chính phủ của cả hai
    nƣớc đều có một động lực rõ ràng là bảo vệ doanh nghiệp trong nƣớc
    với mục đích bán phá giá ở thị trƣờng nƣớc ngoài, hy vọng rằng thị
    trƣờng đƣợc bảo vệ sẽ bị bán phá giá ngay tại thị trƣờng nội địa.
    Trong bối cảnh này, việc dịch chuyển từ thƣơng mại độc quyền sang
    thƣơng mại tự do, có thể sẽ là bất lợi, khi loại bỏ những doanh nghiệp
    trong và ngoài nƣớc đƣợc ƣu đãi, khiến cho các doanh nghiệp phải
    giao thƣơng với nhau thông qua những biện pháp bán phá giá đối ứng
    bất công bằng.
    Nếu nhƣ Oshiro (2013) đã chỉ ra rằng sự cạnh tranh thuế quan và
    chi phí vận chuyển đủ thấp sẽ dẫn tới trạng thái cân bằng thƣơng mại
    tự do, thì trong mô hình này của Alberto, thuế quan tối ƣu phụ thuộc
    vào độ co giãn của cầu theo giá trên từng phân khúc thị trƣờng và thị
    phần hàng hóa xuất khẩu bị bán phá giá vào thị trƣờng nội địa. Trong
    bối cảnh này, một chính sách thƣơng mại tự do sẽ phản tác dụng bởi

    898

  16. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    vì nó sẽ loại bỏ các ƣu đãi riêng khi hai bên tham gia bán phá giá đối
    ứng.
    Thay vì giả định rằng các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc tạo ra
    hàng hóa đồng nhất nhƣ Alberto, Friberg và Ganslandt (2008) đã thiết
    kế một mô hình bán phá giá đối ứng với sự khác biệt hóa sản phẩm
    giúp mở rộng phân tích thƣơng mại nội ngành của sản phẩm khác biệt
    trong khuôn khổ cạnh tranh về giá. Kết quả nghiên cứu của Friberg và
    Ganslandt đã chỉ ra rằng, trong mô hình cạnh tranh Cournot, thƣơng
    mại có thể làm lợi ích khi dịch chuyển từ độc quyền sang tự do ở bất
    kỳ mức độ khác biệt hóa sản phẩm nào. Kết quả này tƣơng đồng với
    Brander và Krugman (1983), cho rằng chi phí vận chuyển mô hình
    ―tảng băng trôi‖ có thể là quá cao, thậm chí cao hơn cả những gì đƣợc
    mang lại từ thặng dƣ trong sản xuất và tiêu dùng. Nhƣ vậy, để đảm
    bảo đƣợc lợi ích khi bán phá giá đối ứng trong cạnh canh Cournot
    bằng một mức thuế thƣơng mại đặc biệt thì hàng hóa đối ứng phải có
    tính đồng nhất.
    Một số hàm ý cho xuất khẩu Việt Nam
    Từ mô hình bán phá giá đối ứng cơ bản của Jame và cộng sƣ (1983)
    và mô hình bán phá giá tối ƣu của Alberto (2019), có thể rút ra một số
    mệnh đề nhƣ sau:
    Mệnh đề 1: Sự cam kết của 02 chính phủ về một mức thuế thƣơng
    mại đặc biệt cho bán phá giá đối ứng sẽ có tác động tích cực tới thặng
    dƣ của cả nhà sản xuất và ngƣời tiêu dùng.
    Mệnh đề 2: Nội dung cam kết về thuế thƣơng mại đặc biệt cho bán
    phá giá đối ứng cần có:
    Tăng giá hàng hóa trong nƣớc,
    Tăng thị phần trong nƣớc,
    Tăng lợi nhuận trong nƣớc
    Giảm lợi nhuận nƣớc ngoài.

    899

  17. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    Mệnh đề 3: Điểm cân bằng toàn cầu Nash cho các loại thuế thƣơng
    mại đặc biệt là nơi mà cả hai quốc gia đều bán phá giá lẫn nhau, đƣợc
    mô tả bằng các loại thuế thƣơng mại tối ƣu.
    Mệnh đề 4: Sự tự do hóa thƣơng mại từ mức giới hạn trên về thuế
    thƣơng mại tối ƣu sẽ không làm tăng lợi ích cho cả thị trƣờng trong và
    ngoài nƣớc bởi nó không tạo ra các ƣu đãi riêng đầy đủ cho các doanh
    nghiệp khi bán phá giá vào thị trƣờng của nhau. Mà khi không lợi ích
    không tăng thì các doanh nghiệp cả trong và ngoài nƣớc sẽ quay trở
    lại cơ chế độc tài sản xuất, mà rõ ràng là độc tài không phỉa là một lựa
    chọn tối ƣu cho thƣơng mại quốc tế. Do vậy, việc tự do hóa thƣơng
    mại cần đƣợc giới hạn trên bởi mức thuế thƣơng mại tối ƣu .
    Từ các mệnh đề đƣợc rút ra ở trên, có thể thấy bán phá giá đối ứng
    tối ƣu đƣợc xem nhƣ là một giải pháp cho các quốc gia và ngành công
    nghiệp cạnh tranh nhau mà vẫn mang lại lợi ích cho cả hai thị trƣờng
    trong và ngoài nƣớc. Giải pháp này không chỉ đúng ở các nền kinh tế
    tiên tiến mà còn đúng cho cả các nền kinh tế đang nổi. Bởi nhƣ hiện
    nay, việc thiếu các hƣớng dẫn phân tích chính thức để xác định biên
    độ bán phá giá, tổn thƣơng vật chất và nguyên nhân gây tổn thƣơng
    trong thỏa thuận chống bán phá giá, đã dẫn đến các kết luận không
    đáng tin cậy đối với các cơ quan về chống bán phá giá. Do vậv, thay
    vì việc áp dụng các hình thức chống bán phá giá thì việc tính toán một
    mức thuế thƣơng mại tối ƣu để hỗ trợ việc ―bán phá giá đối ứng‖ sẽ
    mang lại lợi ích cho các bên liên quan nhƣ nhà sản xuất, ngƣời tiêu
    dùng, phúc lợi của các quốc gia.
    Điều này đặc biệt có ý nghĩa cho nền kinh tế đang nổi nhƣ Việt
    Nam với nhiều điều bất cập trong việc xác định nền kinh tế thị trƣờng
    và việc thƣờng xuyên gặp phải những vụ kiện chống bán phá giá hàng
    xuất khẩu. Một số hàm ý cho việc nghiên cứu và áp dụng phƣơng thức
    ―bán phá giá đối ứng‖ cho hàng xuất khẩu Việt Nam đƣợc rút ra là:

    900

  18. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    Hàm ý 1: Xác định ma trận “bán phá giá đối ứng”
    Trƣớc tiên: xác định những mặt hàng và thị trƣờng mà Việt Nam
    thƣờng xuyên bị kiện và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá là:
    + Một số sản phẩm thép vào thị trƣờng Ấn Độ, Malaysia, Canada,
    Australia, Brazil, Thái Lan
    + Một số sản phẩm tôn và thị trƣờng Thái Lan, Malaysia, Indonesia
    + Sản phẩm đĩa ghi DVD và thị trƣờng Ấn Độ
    + Sản phẩm cá da trơn, Tôm vào thị trƣờng Hoa Kỳ
    Với mỗi cặp sản phẩm – thị trƣờng, ma trận ―bán phá giá đối ứng‖
    cần chỉ rõ những số liệu về sản lƣợng/lợi nhuận trong và ngoài nƣớc,
    chi phí gia nhập thị trƣờng, giá bán trong và ngoài nƣớc. Để thực hiện
    đƣợc điều này cần có những nghiên cứu thực nghiệm chi tiết hơn mà
    trong phạm vi bài viết này chƣa thể đề cập tới. Bài viết chỉ đƣa ra gợi
    ý về khung chỉ tiêu này nhƣ sau:
    Mức Thị trường Việt Nam Thị trường nước
    ngoài
    Q = x1 + x2 Z = y1 + y2
    Sản lượng x1, y1 là sản lượng từ doanh nghiệp trong nước
    x2, y2 là sản lượng từ doanh nghiệp nước ngoài
    Chi phí biên cố định trong
    sản xuất tại các mức năng c
    suất
    Chi phí biên cố định trong
    τ
    xuất khẩu tại các mức năng
    (điều kiện xem xét về cấu trúc chi phí đối xứng)
    suất
    Chi phí gia nhập thị trường F1 F1
    Giá bán P (Q) Q (Z)
    Thuế thương mại đặc biệt t1
    Lợi nhuận Công thức (11) Công thức (12)
    (Yếu tố khác)

    901

  19. International science conference “International trade – Policies and practices in vietnam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3
    Hàm ý 2: Đảm bảo “mức thuế thương mại tối ưu” cho bán phá giá
    đối ứng
    Mức thuế thƣơng mại tối ƣu phải đảm bảo cho mức chi phí cố định
    việc doanh nghiệp sẽ gia nhập thị trƣờng khi điều kiện theo công thức
    (9) đƣợc đảm bảo.
    Mức thuế thƣơng mại tối ƣu cho bán phá giá đối ứng phải đảm bảo
    đƣợc hàm lợi ích trong nƣớc đạt giá trị theo công thức (10). Tức là
    thặng dƣ của nhà sản xuất phải có những tác động tích cực, phải có lợi
    nhuận trong thặng dƣ tiêu dùng và doanh thu thuế sẽ đƣợc bù đắp bởi
    hai yếu tố tích cực trên.
    Hàm ý 3: Đảm bảo cơ chế “thương mại tự do được quản lý” cho
    bán phá giá đối ứng
    Khi tham gia bán phá giá đối ứng, thì độc quyền thƣơng mại hay tự
    do thƣơng mại đều không đƣợc ủng hộ vì nó có thể làm biến đổi bản
    chất của thuế thƣơng mại tối ƣu của hai nƣớc đối ứng, và kết quả sẽ
    kéo theo bán phá giá đối ứng bất công bằng.
    Tự do thƣơng mại ở đây đƣợc hiểu là khi mức thuế thƣơng mại tối
    ƣu không đạt đƣợc theo công thức về ‗t‘ trong mệnh đề 4 nêu trên, tức
    là khi đó doanh nghiệp tham gia bán phá giá đối ứng sẽ không đƣợc
    hƣởng những ƣu đãi riêng biệt, khiến cho việc bán phá giá đối ứng
    không mang lại hiệu quả cạnh tranh. Nhƣ vậy cơ chế cần đảm bảo là
    ―thƣơng mại tự do đƣợc quản lý‖ nghĩa là một cơ chế tự do trong giới
    hạn.
    Việt Nam và đối tác tham gia chống bán phá giá đối ứng cần phải
    có cam kết rõ ràng về bảo hộ quản lý, về thời hạn thực hiện để bán phá
    giá đối ứng công bằng.
    Kết luận
    Bán phá giá có thể gây ra những biến dạng thị trƣờng ở nền kinh tế
    trong nƣớc, đồng thời vẫn bị xem là bất hợp pháp và không thừa nhận
    trên toàn thế giới. Tuy nhiên, thỏa thuận chống bán phá giá chỉ nên

    902

  20. Hội thảo Khoa học quốc gia “Thương mại quốc tế – Chính sách và thực tiễn tại Việt Nam”,
    ISBN: 978 – 604 – 67 – 1403 – 3

    đƣợc áp dụng nhƣ một chính sách hiệu quả thứ hai do sự không hoàn
    hảo và không đối xứng trong cấu trúc thị trƣờng quốc tế. Còn trƣớc
    đó, với mô hình bán phá giá đối ứng tối ƣu, chính phủ hai nƣớc cần
    xem xét và đƣa ra những cam kết có thời hạn trong việc duy trì một cơ
    chế thƣơng mại đƣợc quản lý tại các phân khúc thị trƣờng đã xác định.
    Đây là phƣơng thức cần thiết nhằm cung cấp những ƣu đãi riêng cho
    các doanh nghiệp khi thực hiện bán phá giá đối ứng, để từ đó hạn chế
    tối đa sự méo mó mà cơ chế độc quyền thƣơng mại gây ra.
    Nhƣ vậy có thể thấy, từ thực tế sự chƣa ghi nhận bán phá giá làm
    một hình thức thƣơng mại quốc tế có thể mang lại một số lợi ích cho
    các bên, cho tới những rất nhiều vụ kiện chống bán phá trên thế giới
    cũng nhƣ ở đối với Việt Nam, thì việc nghiên cứu những mô hình có
    thể tận dụng đƣợc những ƣu điểm của chống bán phá giá là một đóng
    góp có ý nghĩa. Bán phá giá đối ứng tối ƣu là một mô hình nhƣ thế.
    Hình thức này đƣợc thực hiện thông qua những mức thuế ƣu đãi –
    mức thuế thƣơng mại tối ƣu – dƣới cơ chế thƣơng mại đƣợc quản lý
    bởi hai quốc gia tham gia xuất nhập khẩu đối ứng sang nhau. Tùy
    thuộc vào thực trạng của nền kinh tế, chế độ quản lý Nhà nƣớc và
    những lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu và đàm phán thƣơng mại
    quốc, các quốc gia có thể lựa chọn cho mình những chiến lƣợc bán
    phá giá đối ứng phù hợp nhất trong từng giai đoạn.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Alberto Gallegos David (2019) – Universidad Anáhuac México,
    México, ―Optimal Reciprocal Dumping in a Managed Trade Regime‖,
    Recepción: 20/junio/2018, aceptado: 8/octubre/2018, Revista
    Mexicana de Economía y Finanzas Nueva Época Volumen 14
    Número 2, Abril-Junio 2019, pp. 189-202 DOI:
    https://doi.org/10.21919/remef.v14i2.309.

    903

Download tài liệu Bán phá giá đối ứng và một số hàm ý cho xuất khẩu của Việt Nam File Docx, PDF về máy