[Download] Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu – Tải về File Docx, PDF

Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu
Nội dung Text: Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

Download


“Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu” tìm hiểu mô hình tổng cầu và tổng cung; giải thích biến động kinh tế, quá trình tự điều chỉnh và chính sách ổn định.

Bạn đang xem: [Download] Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu File Docx, PDF về máy

Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

  1. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

    BÀI 2 TỔNG CẦU VÀ TỔNG CUNG

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Giáo trình Kinh tế học_Tập II. NXB Kinh tế Quốc dân. 2012
    Chủ biên: PGS.TS Vũ Kim Dũng và PGS.TS Nguyễn Văn Công
    2. Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Giáo trình Nguyên lý kinh tế
    học vĩ mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012.
    3. Bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế Quốc dân), Bài tập Nguyên lý kinh tế vĩ
    mô, Nhà Xuất Bản Lao động, 2012.
     Tìm hiểu mô hình tổng cầu – tổng cung và thông qua đó để lý giải biến động kinh tế trong
    ngắn hạn, quá trình tự điều chỉnh trong dài hạn và vai trò của các chính sách vĩ mô trong ổn
    định kinh tế.
     Học viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
     Trang Web môn học.

    Nội dung
     Mô hình Tổng cầu và Tổng cung (AD – AS).
     Giải thích biến động kinh tế, quá trình tự điều chỉnh và chính sách ổn định.

    Mục tiêu
     Giúp học viên hiểu được các nhân tố gây ra những biến động về sản lượng và mức
    giá trong nền kinh tế thông qua việc nghiên cứu mô hình tổng cầu – tổng cung.
     Giúp học viên vận dụng được mô hình tổng cầu – tổng cung để lý giải biến động kinh
    tế trong ngắn hạn, quá trình tự điều chỉnh trong dài hạn và vai trò của các chính sách
    vĩ mô trong ổn định kinh tế.

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 17

  2. Bài 2: Tổng cầu và tổng cung

    Tình huống dẫn nhập
    “Biến động kinh tế”
    Biến động kinh tế là một vấn đề lớn mà tất cả các nền kinh tế thị trường phải đối mặt. Nền kinh
    tế Việt Nam cũng đã trải nghiệm những bước thăng trầm trong quá trình phát triển. Sau khi thực
    hiện chính sách đổi mới vào năm 1986, Kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi
    nhận về tăng trưởng kinh tế. Từ chỗ hầu như không có tăng
    trưởng, thì ngay sau đổi mới, trong giai đoạn 1986 – 1990, nền
    kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi và phát triển, tuy tốc độ chưa cao.
    Trong nửa đầu những năm 1990, nền kinh tế liên tục tăng tốc.
    Sau khi đạt đỉnh vào năm 1995 (9,54%), tốc độ tăng trưởng kinh
    tế của Việt Nam đã chậm lại và rơi xuống đáy vào năm 1999
    (4,77%) sau khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính –
    tiền tệ khu vực. Bắt đầu từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng kinh tế
    dần phục hồi nhờ các chính sách kích cầu của chính phủ được thực hiện khá bài bản và kịp thời.
    Bởi vậy, nền kinh tế Việt Nam lại đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn 2004 – 2007.
    Tuy nhiên, đà tăng trưởng lại giảm mạnh do ảnh hưởng bất lợi từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
    cầu bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn ở Mỹ. Cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng
    không nhỏ đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, năm 2009 tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ còn đạt
    được 5,32% và như vậy sau 10 năm kinh tế Việt Nam lại rơi xuống một đáy mới.
    Tại sao tăng trưởng kinh tế của Việt Nam lại bị suy giảm mạnh trong thời kỳ 2008 – 2009? Và
    chính phủ đã làm gì để chặn đà suy giảm kinh tế? Đó là do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu
    đã đẩy các bạn hàng chủ lực của Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế, năm trong bảy
    bạn hàng lớn của Việt Nam đã giảm nhu cầu mua hàng hóa của Việt Nam làm xuất khẩu của
    Việt Nam giảm, cán cân thương mại của Việt Nam xấu đi và làm tổng cầu sụt giảm. Để chống lại
    sự suy giảm kinh tế Chính phủ đã thực hiện đồng bộ các chính sách trong đó có chính sách tài
    khóa và chính sách tiền tệ mở rộng để kích cầu nhằm chống suy giảm kinh tế.

    1. Những nguyên nhân nào gây ra những biến động kinh tế trong ngắn hạn?
    2. Chính phủ có thể làm gì để giảm thiểu những biến động kinh tế trong
    ngắn hạn?

    18 NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216

  3. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

    Trong bài này, chúng ta sẽ nghiên cứu Mô hình tổng cung và tổng cầu (AD – AS). Một trong
    những cách tiếp cận cơ bản được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi để giải thích những biến động
    của nền kinh tế trong ngắn hạn. Sau khi nghiên cứu xong bài này, các học viên sẽ biết cách vận
    dụng mô hình AD – AS để giải thích nguyên nhân gây ra biến động kinh tế và vai trò của chính
    sách nhằm bình ổn nền kinh tế là mục tiêu chính của bài này.

    2.1. Mô hình Tổng cầu và Tổng cung (AD – AS)
    Mô hình tổng cung và tổng cầu chỉ ra cách thức tổng cầu và tổng cung quyết định mức giá
    và sản lượng của một nền kinh tế. Hai biến số được mô hình tập trung giải thích là tổng sản
    lượng hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nước (Y) và mức giá chung (P). Các nhà
    kinh tế thường sử dụng đồ thị để trình bày mô hình tổng cung và tổng cầu trong đó mức giá
    được biểu diễn trên trục tung và sản lượng được biểu diễn ở trục hoành. Bây giờ, chúng ta
    sẽ lần lượt giới thiệu hai thành tố của mô hình, đó là các đường tổng cầu và tổng cung.

    2.1.1. Tổng cầu của nền kinh tế (AD)
    Tổng cầu là lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước mà các tác nhân
    kinh tế sẵn sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.
    Trong một nền kinh tế mở, tổng cầu hình thành từ bốn nguồn:
     Cầu tiêu dùng (C) như chi tiêu mua lương thực, thực phẩm, tivi, hay quần áo,…
    do khu vực hộ gia đình trong nước thực hiện;
     Cầu đầu tư (I) bao gồm các khoản mà doanh nghiệp chi cho xây dựng nhà xưởng
    mới, mua sắm máy móc, thiết bị mới; hộ gia đình mua nhà ở mới; và các doanh
    nghiệp bổ sung thêm vào hàng tồn kho;
     Chi tiêu chính phủ (G) bao gồm cả hàng hoá và dịch vụ do chính phủ mua cho tiêu
    dùng hiện tại (tiêu dùng công) và hàng hoá và dịch vụ cho các lợi ích tương lai
    như đường xá, cầu cống, bến cảng… (đầu tư công);
     Cầu xuất khẩu ròng (NX), chênh lệch giữa giá trị của hàng hoá và dịch vụ được
    sản xuất trong nước mà người nước ngoài sẵn sàng và có khả năng mua, tức là cầu
    xuất khẩu (X), và giá trị của hàng hoá và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài mà các hộ
    gia đình, doanh nghiệp và chính phủ trong nước sẵn sàng và có khả năng mua, tức
    là cầu trong nước về hàng nhập khẩu (IM).
    AD = C + I + G + NX
    Đường tổng cầu
    P
    Đường tổng cầu cho biết mối quan hệ giữa
    lượng tổng cầu và mức giá. Đường tổng
    A
    cầu dốc xuống hàm ý nếu những biến số P0
    khác không thay đổi, thì khi mức giá P1 B
    chung giảm, ví dụ từ P0 xuống P1, sẽ có xu
    AD
    hướng làm cho lượng tổng cầu về hàng
    hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước
    Y0 Y1 Y
    tăng, ví dụ từ Y0 lên Y1 (xem hình 2.1).
    Hình 2.1. đường tổng cầu

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 19

  4. Bài 2: Tổng cầu và tổng cung

     Tại sao đường tổng cầu dốc xuống?
    Đường tổng cầu dốc xuống phản ánh thực tế là sự thay đổi mức giá có ảnh hưởng
    ngược chiều đến lượng tổng cầu. Trong bốn thành tố của tổng cầu, chi tiêu chính
    phủ là biến chính sách do chính phủ quyết định tùy thuộc vào mục tiêu của điều tiết
    vĩ mô trong mỗi thời kỳ và do đó không phụ thuộc vào mức giá. Chính vì vậy, để
    hiểu tại sao đường tổng cầu dốc xuống chúng ta cần làm rõ sự thay đổi trong mức có
    giá ảnh hưởng như thế nào đến ba thành tố còn lại của tổng cầu, bao gồm: tiêu dùng,
    đầu tư và xuất khẩu ròng. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng ảnh hưởng đó.
    o Mức giá và tiêu dùng: Hiệu ứng của cải
    Khi mức giá chung giảm, tức là mức giá bình quân của tất cả các hàng hóa và
    dịch vụ giảm, thì lượng tiền trong ví hay trong tài khoản ngân hàng của bạn trở
    nên có giá trị hơn vì chúng có thể mua được nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn.
    Như vậy, một sự cắt giảm trong mức giá chung làm cho các hộ gia đình trở nên
    giàu có hơn và do vậy họ sẽ sẵn sàng và có khả năng mua nhiều hàng hoá và
    dịch vụ hơn. Sự tăng lên trong mức tiêu dùng có nghĩa là lượng tổng cầu về
    hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước tăng lên.
    o Mức giá và đầu tư: Hiệu ứng lãi suất
    Tại mức giá thấp hơn, công chúng sẽ cần giữ ít tiền hơn để mua lượng hàng
    hoá và dịch vụ theo kế hoạch. Điều này hàm ý một phần trong số tiền họ đang
    nắm giữ để phục vụ cho động cơ giao dịch trở nên dư thừa. Nhiều hộ gia đình
    và doanh nghiệp sẽ tìm cách cắt giảm lượng tiền nắm giữ bằng cách chuyển
    một số tiền mặt và tài khoản tiền gửi có thể viết séc thành các tài sản sinh lãi
    như trái phiếu hay tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn, và kết quả là lãi suất sẽ giảm.
    Giảm lãi suất, đến lượt nó có tác dụng khuyến khích các hãng đầu tư nhiều hơn
    vào nhà xưởng và thiết bị mới, và các hộ gia đình mua nhiều nhà ở mới hơn.
    Như vậy, một mức giá thấp hơn làm giảm lãi suất, khuyến khích chi tiêu vào
    các hàng hoá đầu tư và do đó làm tăng lượng tổng cầu.
    o Mức giá và xuất khẩu ròng: Hiệu ứng thay thế quốc tế
    Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, sự giảm giá của hàng trong
    nước làm cho hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trở nên rẻ hơn một cách
    tương đối so với hàng hóa và dịch vụ sản xuất ở nước ngoài tại một mức tỷ giá
    hối đoái cho trước. Khi đó, một số người tiêu dùng trong nước và ở nước ngoài
    có xu hướng dịch chuyển từ mua hàng của nước khác sang mua hàng hóa và
    dịch vụ sản xuất tại Việt Nam. Kết quả là xuất khẩu được khuyến khích và
    nhập khẩu bị hạn chế, làm tăng xuất khẩu ròng và làm tăng lượng tổng cầu về
    hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại Việt Nam.
    Tóm lại, cả ba hiệu ứng trên đều cho thấy có một mối quan hệ ngược chiều giữa mức
    giá và khối lượng hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước được mua: giảm mức giá
    chung làm tăng lượng tổng cầu về sản lượng trong nước và ngược lại, tăng mức giá
    chung làm giảm lượng tổng cầu về sản lượng trong nước. Trên hệ trục toạ độ trong đó
    mức giá được biểu diễn trên trục tung và sản lượng được biểu diễn trên trục hoành
    mối quan hệ này được biểu diễn bằng đường tổng cầu dốc xuống.

    20 NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216

  5. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

     Sự dịch chuyển của đường tổng cầu
    o Khi có bất kỳ một sự kiện nào đó làm thay đổi lượng tổng cầu tại một mức giá
    cho trước, thì đường tổng cầu sẽ dịch chuyển. Đường tổng cầu sẽ dịch chuyển
    sang bên phải khi lượng tổng cầu tăng lên tại một mức giá cho trước. Ngược
    lại, đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên trái khi lượng tổng cầu giảm
    xuống tại một mức giá cho trước. Hình 2.2 dưới đây minh họa sự dịch chuyển
    sang bên phải hay ra phía ngoài của đường tổng cầu từ AD0 đến AD1. Tại mức
    giá P0, lượng tổng cầu bây giờ đã tăng lên Y1.

    Hình 2.2. Sự dịch chuyển của đường AD
    o Tổng cầu của một nền kinh tế mở gồm bốn thành tố đó là: tiêu dùng của các hộ
    gia đình, đầu tư của khu vực tư nhân, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng. Do
    đó, nguyên nhân gây ra sự dịch chuyển của đường tổng cầu là do một trong
    bốn thành tố của tổng cầu thay đổi hoặc cả bốn.
     Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong tiêu dùng. Nếu người
    Việt Nam trở nên an tâm hơn về triển vọng việc làm và thu nhập trong
    tương lai, hoặc nếu giá cổ phiếu tăng làm cho nhiều hộ gia đình trở nên
    giàu có hơn, hay chính phủ giảm thuế thu nhập, thì các hộ gia đình sẽ chi
    tiêu nhiều hơn cho tiêu dùng tại mỗi mức giá cho trước và kết quả là đường
    tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải từ AD0 đến AD1 như được biểu diễn
    trong hình 2.2.
     Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong đầu tư. Nếu các doanh
    nghiệp trở nên lạc quan vào triển vọng mở rộng thị trường trong tương lai
    và quyết định xây thêm nhiều nhà máy mới, mua thêm máy móc, thiết bị
    mới, hoặc nếu chính phủ giảm thuế cho các dự án đầu tư mới, hay ngân
    hàng trung ương tăng cung ứng tiền tệ làm giảm lãi suất, thì mức đầu tư sẽ
    tăng và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải.
     Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong chi tiêu chính phủ. Nếu
    chính phủ quyết định tăng chi tiêu nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, thì
    đường tổng cầu sẽ dịch chuyển sang bên phải.
     Sự dịch chuyển bắt nguồn từ những thay đổi trong xuất khẩu ròng. Nếu thế
    giới bên ngoài tăng trưởng mạnh và mua nhiều hàng của Việt Nam hơn,
    hoặc đồng Việt Nam giảm giá so với tiền của các đối tác thương mại, thì
    xuất khẩu ròng của Việt Nam sẽ tăng và kết quả là đường tổng cầu sẽ dịch
    chuyển sang bên phải.

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 21

  6. Bài 2: Tổng cầu và tổng cung

    2.1.2. Tổng cung của nền kinh tế
    Tổng cung của một nền kinh tế là lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp sẵn
    sàng và có khả năng sản xuất trong nước tại mỗi mức giá.
    Lượng tổng cung phụ thuộc vào quyết định của các doanh nghiệp trong việc sử dụng lao
    động và các nguồn lực khác để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ bán cho các hộ gia đình,
    chính phủ, và các doanh nghiệp khác cũng như để xuất khẩu ra thế giới bên ngoài.
    Đường tổng cung dài hạn (ASLR) và đường tổng cung ngắn hạn (ASSR hay thường viết
    gọn là AS). Đường tổng cung dài hạn thẳng đứng, trong khi đường tổng cung ngắn
    hạn dốc lên như được vẽ trong hình 2.3.

    Hình 2.3. đường tổng cung dài hạn và ngắn hạn
    Đường tổng cung dài hạn là đường thẳng đứng thể hiện tính chất của sản lượng chỉ do
    cung quyết định. Bất kế đường tổng cầu có dịch chuyển như thế nào thì nền kinh tế sẽ
    di chuyển dọc trên đường tổng cung thẳng đứng và do đó chỉ có mức giá thay đổi còn
    sản lượng vẫn giữ nguyên tại mức tiềm năng hay còn gọi là sản lượng tự nhiên Y*.

    Hình 2.4. tổng cung dài hạn
    Tại sao đường tổng cung dài hạn dịch chuyển: Do đường tổng cung dài hạn là đường
    thẳng đứng tại mức sản lượng tiềm năng, bất kỳ nhân tố nào làm thay đổi mức sản
    lượng tiềm năng sẽ làm dịch chuyển đường tổng cung dài hạn. Do mức sản lượng tiềm
    năng phụ thuộc vào cung lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên và trình độ công
    nghệ nên khih các nhân tố sản xuất này thay đổi sẽ là nguyên nhân làm dịch chuyển
    đường tổng cung dài hạn.

    22 NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216

  7. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

     Sự dịch chuyển xuất phát từ lao động: Nếu một nền kinh tế có nhiều lao động ra
    nước ngoài làm việc, thì cung về lao động trong nền kinh tế giảm. Do số lao động
    làm việc ít hơn, lượng hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế có thể sản xuất ra sẽ
    nhỏ hơn. Kết quả là đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên trái. Ngược
    lại, nếu nền kinh tế có nhiều công nhân nhập cư thì đường tổng cung sẽ dịch
    chuyển sang bên phải.
     Sự dịch chuyển xuất phát từ tư bả:. Một sự tăng trưởng trong số lượng tư bản sẽ nâng
    cao năng suất và do đó làm tăng lượng hàng hoá và dịch vụ mà nền kinh tế sản xuất
    ra. Kết quả là đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải. Ngược lại, một sự
    suy giảm trong lượng tư bản sẽ làm giảm năng suất và giảm cung về hàng hoá và dịch
    vụ khiến cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên trái.
     Lôgic này không chỉ áp dụng cho tư bản hữu hình mà cả vốn nhân lực. Sự tăng lên
    số lượng máy móc hay số người tốt nghiệp đại học, cao đẳng, các trường dạy nghề
    đều góp phần nâng cao năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Do vậy, chúng đều
    làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải.
     Sự dịch chuyển xuất phát từ tài nguyên thiên nhiên: Mức sản xuất của một quốc gia
    phụ thuộc nhiều vào tài nguyên thiên nhiên như đất đai, khoáng sản và thời tiết. Việc
    phát hiện và bắt đầu khai thác một mỏ khoáng sản mới có thể làm dịch chuyển đường
    tổng cung dài hạn sang bên phải. Thời tiết trở nên khắc nghiệt có thể làm cho việc
    trồng trọt và chăn nuôi trở nên khó khăn hơn, làm giảm năng suất cây trồng và vật
    nuôi và do đó sẽ làm cho đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên trái.
     Sự dịch chuyển xuất phát từ trình độ công nghệ. Có lẽ lý do quan trọng nhất để
    chúng ta hôm nay sản xuất ra nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn các thế hệ trước là sự
    tiến bộ công nghệ. Những phát minh đã giúp chúng ta sản xuất ra nhiều hàng hoá
    và dịch vụ hơn với cùng một lượng lao động, tư bản và tài nguyên thiên nhiên. Kết
    quả là, đường tổng cung dài hạn dịch chuyển sang bên phải.
    Tại sao đường tổng cung ngắn hạn dốc lên? Có ba mô hình khác nhau giải thích về
    đường tổng cung ngắn hạn: (1) mô hình tiền lương cứng nhắc; (2) mô hình nhận thức
    sai lầm; và (3) mô hình giá cả cứng nhắc. Các mô hình này có một số đặc điểm chung,
    và mỗi mô hình chỉ giải thích được một số khía cạnh nhất định của nền kinh tế thực.

    Hình 2.5. tổng cung ngắn hạn

    Tại sao đường tổng cung ngắn hạn có thể dịch chuyển? Các yếu tố tác động làm dịch
    chuyển đường tổng cung ngắn hạn có thể kể đến đó là: kỳ vọng của công chúng về
    mức giá, sự thay đổi giá cả của các nhân tố sản xuất…

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 23

  8. Bài 2: Tổng cầu và tổng cung

     Kỳ vọng của mọi người về mức giá: Như chúng ta đã thảo luận, lượng tổng cung
    về hàng hoá và dịch vụ trong ngắn hạn phụ thuộc vào nhận thức sai lầm, thông tin
    không hoàn hảo, tiền lương cứng nhắc và giá cả cứng nhắc. Thế nhưng nhận thức,
    tiền lương và giá cả đều được xây dựng dựa vào kỳ vọng về mức giá. Cho nên khi
    kỳ vọng thay đổi, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển.
     Để làm cho ý tưởng này cụ thể hơn, chúng ta hãy xem xét một lý thuyết cụ thể về
    tổng cung – đó là lý thuyết tiền lương cứng nhắc. Theo lý thuyết này, nếu mọi
    người dự báo mức giá cao, họ sẽ quy định tiền lương cao. Tiền lương tăng làm
    tăng chi phí của doanh nghiệp, và tại mức giá thực tế bất kỳ cho trước, nó làm
    giảm lượng hàng hoá và dịch vụ mà các doanh nghiệp cung ứng. Do vậy, khi mức
    giá dự kiến tăng, tiền lương sẽ tăng, chi phí sẽ tăng và các doanh nghiệp quyết
    định cung ứng ít hàng hoá và dịch vụ hơn tại bất kỳ mức giá thực tế cho trước nào.
    Kết quả là, đường tổng cung ngắn hạn dịch chuyển sang trái. Ngược lại, khi mức
    giá dự kiến giảm, tiền lương sẽ giảm, chi phí sẽ giảm, các doanh nghiệp tăng sản
    lượng và đường tổng cung ngắn hạn dịch sang bên phải.
     Logic tương tự cũng được áp dụng cho các lý thuyết khác. Bài học chung là: Sự gia
    tăng mức giá dự kiến làm giảm tổng cung hàng hoá và dịch vụ, qua đó dịch chuyển
    đường tổng cung ngắn hạn sang bên trái. Sự giảm sút mức giá dự kiến làm tăng tổng
    cung về hàng hoá và dịch vụ, qua đó dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn sang
    phải. Như chúng ta sẽ thấy trong phần sau, ảnh hưởng của kỳ vọng về mức giá đối
    với vị trí của đường tổng cung ngắn hạn đóng vai trò then chốt trong việc điều hòa
    hành vi của nền kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, kỳ vọng được
    cố định và nền kinh tế nằm ở giao điểm của đường tổng cầu và đường tổng cung
    ngắn hạn. Trong dài hạn, kỳ vọng được điều chỉnh và đường tổng cung ngắn hạn
    dịch chuyển. Sự dịch chuyển này cuối cùng sẽ đưa nền kinh tế đến giao điểm của
    đường tổng cầu và đường tổng cung dài hạn.
     Ngoài ra, đường tổng cung ngắn ngạn còn dịch chuyển do sự thay đổi giá cả của các
    nhân tố sản xuất. Mỗi đường tổng cung ngắn hạn được xây dựng với giả thiết giá cả
    của các nhân tố sản xuất cho trước. Do đó, đường tổng cung ngắn hạn sẽ dịch chuyển
    khi giá các nhân tố sản xuất thay đổi. Với một mức giá cho trước, việc tăng giá các
    đầu vào sản xuất (tăng lương, tăng giá nguyên, nhiên, vật liệu…) sẽ làm tăng chi phí
    sản xuất và làm giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp và các doanh nghiệp sẽ buộc
    phải thu hẹp mức sản xuất. Điều này hàm ý đường tổng cung dịch chuyển sang bên
    trái. Ngược lại, việc giảm giá các đầu vào sản xuất sẽ làm giảm chi phí sản xuất và
    làm tăng lợi nhuận tại mức giá cho trước và do đó khuyến khích các doanh nghiệp mở
    rộng sản xuất. Trên đồ thị (hình 2.5), đường tổng cung sẽ dịch chuyển sang bên phải.

    2.1.3. Xác định sản lượng và mức giá cân bằng
    Trong hình 2.6 giao điểm của đường tổng cung AS0 và đường tổng cầu AD0 là E0 xác
    định mức sản lượng cân bằng là Y0 và mức giá cân bằng là P0. Chúng ta mô tả tổ hợp
    của sản lượng Y0 và mức giá P0 là trạng thái cân bằng của nền kinh tế.
    Giả sử, ban đầu mức giá là P1, thấp hơn mức giá cân bằng P0. Tại mức giá thấp hơn
    này, sản lượng mà các doanh nghiệp mong muốn cung ứng thấp hơn mức mà mọi
    người muốn mua. Cuộc canh tranh giữa những người mua để mua được hàng sẽ đẩy

    24 NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216

  9. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

    mức giá tăng lên và điều này đến lượt nó lại khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất
    nhiều hơn. Kết quả là thị trường có xu hướng tự điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng
    một khi mức giá vẫn còn thấp hơn P0.

    Hình 2.6. xác định trạng thái cân bằng
    Tương tự, khi mức giá cao hơn P0, chẳng hạn P2, cuộc cạnh tranh giành giật khách
    hàng giữa các nhà cung ứng để bán được hàng sẽ đẩy mức giá giảm xuống. Như vậy,
    chỉ tại giao điểm của hai đường tổng cầu và tổng cung (E0), cả người mua và người
    bán đều thỏa mãn: mọi nhu cầu của người mua đều được đáp ứng và toàn bộ sản
    lượng mà các doanh nghiệp sản xuất và cung ứng đều được bán hết. Kết quả là thị
    trường ổn định và không có áp lực điều chỉnh.
    Trạng thái cân bằng không nhất thiết là trạng thái tối ưu hay là trạng thái đáng mong
    muốn. Nó có thể tương ứng với trạng thái phát triển quá nóng (khi sản lượng cao hơn
    mức tự nhiên và lạm phát cao) hoặc nền kinh tế đang lâm vào suy thoái (khi sản lượng
    thấp hơn mức tự nhiên).

    2.2. Nguyên nhân gây ra biến động kinh tế ngắn hạn và vai trò của chính sách

    ổn định
    Sau khi đã được nghiên cứu mô hình tổng cung và tổng cầu, bây giờ chúng ta sẽ vận
    dụng những kiến thức đã học ở trên để xem xét các nguyên nhân gây ra các biến động
    kinh tế trong ngắn hạn.
    Khi phân tích cách thức tác động của một sự kiện nào đó tới nền kinh tế, chúng ta nên
    tiến hành theo quy trình ba bước:
     Thứ nhất, chúng ta xác định xem sự kiện xảy ra tác động tới đường tổng cung,
    đường tổng cầu hay cả hai đường (trong một số tình huống).
     Thứ hai, chúng ta xác định xem các đường này dịch chuyển sang phải hay sang trái.
     Cuối cùng, chúng ta sử dụng đồ thị tổng cầu và tổng cung để xem xét sự dịch
    chuyển đó tác động tới mức giá và sản lượng cân bằng như thế nào.

    2.2.1. Các cú sốc cầu
    Khi đường tổng cung có độ dốc dương, các cú sốc ngoại sinh tác động đến tổng cầu
    (được gọi là cú sốc cầu) sẽ gây ra sự thay đổi của sản lượng và mức giá. Sự biến động
    của sản lượng xung quanh mức tự nhiên được gọi là chu kỳ kinh doanh.

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 25

  10. Bài 2: Tổng cầu và tổng cung

    Hình 2.7. Ảnh hưởng của sự suy giảm tổng cầu đến sản lượng và mức giá
    Các nhà đầu tư và các hộ gia đình đột nhiên trở nên bi quan hơn về triển vọng phát
    triển của nền kinh tế trong tương lai và do đó cắt giảm mức chi tiêu trong hiện tại, thì
    điều này sẽ làm giảm tổng cầu. Trong Hình 2.7, đường tổng cầu dịch chuyển sang bên
    trái từ AD0 đến AD1. Trong ngắn hạn, nền kinh tế di chuyển dọc theo đường tổng cung
    ngắn hạn AS0 từ A đến B. Khi nền kinh tế chuyển đến B, sản lượng giảm xuống Y1 và
    mức giá giảm xuống P1. Sự sụt giảm sản lượng cho thấy nền kinh tế lâm vào suy
    thoái. Các doanh nghiệp phản ứng lại sự giảm sút doanh số bán ra bằng cách cắt giảm
    một số việc làm và thất nghiệp có xu hướng tăng lên.
    Các nhà hoạch định chính sách nên làm gì khi đối mặt với một cuộc suy thoái như vậy?
    Một khả năng là thực hiện các biện pháp kích thích tổng cầu, làm cho đường tổng cầu
    dịch chuyển sang bên phải. Nếu các nhà hoạch định chính sách hành động kịp thời và
    chính xác, họ có thể triệt tiêu hoàn toàn tác động của cú sốc đến tổng cầu, đẩy đường
    tổng cầu trở về AD0 và đưa nền kinh tế trở lại điểm A. Trong các chương tiếp theo,
    chúng ta sẽ thảo luận chi tiết về cách mà chính phủ có thể sử dụng để điều tiết tổng cầu.
    Ngay cả khi các nhà hoạch định chính sách không can thiệp thì nền kinh tế thị trường
    cũng sẽ có cơ chế tự phục hồi sau một khoảng thời gian. Do tổng cầu giảm, mức giá
    giảm xuống. Có thể, kỳ vọng bắt kịp thực tế và mức giá dự kiến cũng giảm. Do sự
    giảm sút của mức giá dự kiến làm thay đổi nhận thức, tiền lương và giá cả, nên nó làm
    cho đường tổng cung ngắn hạn dịch sang phải, từ AS0 đến AS1 như trong hình 2.7.
    Theo thời gian, quá trình hiệu chỉnh này của kỳ vọng cho phép nền kinh tế tiến dần
    đến điểm C, điểm mà đường tổng cầu mới (AD1) cắt đường tổng cung dài hạn.
    Tóm lại, sự dịch chuyển của đường tổng cầu đem lại cho chúng ta hai bài học quan trọng:
     Trong ngắn hạn, sự dịch chuyển của đường tổng cầu gây ra sự biến động về sản
    lượng và việc làm trong nền kinh tế.
     Trong dài hạn, sự dịch chuyển của đường tổng cầu ảnh hưởng tới mức giá chung,
    nhưng không ảnh hưởng đến sản lượng.

    2.2.2. Các cú sốc cung
    Các cú sốc cung xảy ra do sự thay đổi giá cả các yếu tố đầu vào hay sự thay đổi các
    nguồn lực trong nền kinh tế. Các cú sốc làm giảm tổng cung được gọi là cú sốc cung
    bất lợi. Ngược lại, các cú sốc làm tăng tổng cung được gọi là cú sốc cung có lợi.

    26 NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216

  11. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

    Các cú sốc cung bất lợi làm tăng chi phí sản xuất. Với mức giá không thay đổi, nhiều
    doanh nghiệp hoạt động trở nên không hiệu quả buộc phải thu hẹp hoặc đóng cửa sản
    xuất và do đó làm giảm tổng cung. Trong Hình 2.8, đường tổng cung ngắn hạn dịch
    chuyển sang bên trái và lên phía trên từ AS0 đến AS1. Trong ngắn hạn, nền kinh tế di
    chuyển dọc theo đường tổng cầu từ điểm A đến điểm B. Sản lượng của nền kinh tế
    giảm từ Y* xuống Y1, trong khi mức giá tăng từ P0 lên P1. Do nền kinh tế vừa lâm
    vào suy thoái (sản lượng giảm), vừa trải qua lạm phát (mức giá tăng) nên hiện
    tượng này được gọi là lạm phát đi kèm suy thoái (stagflation).

    Hình 2.8. Cú sốc cung bất lợi và phản ứng chính sách
    Các nhà hoạch định chính sách nên làm gì khi đối mặt với hiện tượng lạm phát đi
    kèm suy thoái này? Một trong những khả năng là các nhà hoạch định chính sách có
    thể muốn triệt tiêu tác động bất lợi của sự dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn đến
    sản lượng bằng cách tăng tổng cầu. Khi đó, chính phủ cần kích cầu để dịch chuyển
    đường tổng cầu tới AD1 vừa đủ để duy trì mức sản lượng ban đầu. Nền kinh tế chuyển
    đến điểm C. Sản lượng trở về mức tự nhiên và mức giá tiếp tục tăng lên P2. Như vậy,
    các nhà hoạch định chính sách đã thích ứng với sự dịch chuyển của đường tổng cung
    và cho phép sự tăng lên trong chi phí ảnh hưởng đến giá cả một cách lâu dài.
    Ngược lại, nếu muốn triệt tiêu tác động bất lợi của cú sốc cung này đến mức giá, các
    nhà hoạch định chính sách cần chủ động cắt giảm tổng cầu. Trên đồ thị ở Hình 2.8,
    đường tổng cầu dịch chuyển từ AD0 đến AD2 vừa đủ để duy trì mức giá ban đầu. Nền
    kinh tế chuyển đến điểm D. Mức giá trở về P0, còn sản lượng tiếp tục giảm xuống Y2.
    Phân tích ở trên cho thấy sự dịch chuyển của đường tổng cung có hai hàm ý quan trọng:
     Sự dịch chuyển của đường tổng cung có thể gây ra lạm phát kèm suy thoái, tức là
    kết hợp giữa suy thoái (sản lượng giảm) và lạm phát (mức giá tăng).
     Các nhà hoạch định chính sách, những người có thể ảnh hưởng đến tổng cầu,
    không thể đồng thời làm triệt tiêu cả hai ảnh hưởng bất lợi này.

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 27

  12. Bài 2: Tổng cầu và tổng cung

    Tóm lược cuối bài
     Tổng cầu là lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước mà các tác nhân kinh tế sẵn
    sàng và có khả năng mua tại mỗi mức giá.
     Bốn thành tố của tổng cầu: AD = C + I + G + NX
     Có ba hiệu ứng để giải thích độ dốc của đường AD đó là hiệu ứng của cải, hiệu ứng lãi suất;
    hiệu ứng tỷ giá.
     Tổng cung là lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp sẵn sàng và có khả năng sản
    xuất, cung ứng tại mỗi mức giá.
     Sản lượng tiềm năng hay sản lượng tự nhiên (Y*): Mức sản lượng được tạo ra khi các nguồn
    lực được sử dụng đầy đủ.
     Trong ngắn hạn, những nhân tố thay đổi làm dịch chuyển tổng cầu là nguyên nhân gây ra
    những biến động về sản lượng và việc làm.
     Một cú sốc cung bất lợi làm dịch chuyển đường tổng cung ngắn hạn lên trên và sang bên trái, làm
    giảm sản lượng và làm tăng mức giá – sự kết hợp này được gọi là lạm phát đi kèm suy thoái.
     Chính phủ có thể thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng để chống suy giảm kinh tế
    hoặc khi nền kinh tế bị suy thoái và thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt để
    chống lạm phát.

    28 NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216

  13. Bài 2: Tổng cung và tổng cầu

    Câu hỏi ôn tập
    1. Tổng cầu là gì? Và các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu?
    2. Tổng cung là gì? Và các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cung?
    3. Các thành tố cấu thành tổng cầu là gì?
    4. Hãy cho biết các thành phần cấu thành đầu tư của khu vực tư nhân?
    5. Sản lượng tiềm năng là gì?

    NEU_ECO102_Bai2_v1.0013101216 29

Download tài liệu Bài giảng Kinh tế vĩ mô – Bài 2: Tổng cung và tổng cầu File Docx, PDF về máy