Lớp 11Ngữ Văn

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng (7 mẫu)

“Sóng” là một bài thơ ấn tượng nhà thơ dùng hình tượng sóng để gửi gắm quan niệm về tình yêu. Dưới đây là một số mẫu bài văn cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng, mời bạn đọc tham khảo!

Nội dung

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 1

“Em trở về đúng nghĩa trái tim em

Bạn đang xem: Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng (7 mẫu)

Là máu thịt đời thường ai chẳng có

Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa

Nhưng cũng yêu anh cả khi chết đi rồi”

Đó là lời thơ Xuân Quỳnh viết về niềm hạnh phúc đắm say của một người phụ nữ khi được yêu và hết lòng với người mình yêu trong “Tự hát”. Trong vốn thơ Xuân Quỳnh, ta bắt gặp rất nhiều bài thơ viết về những trăn trở, suy tư thổn thức của nữ sĩ về tình yêu. Bên cạnh những dòng thơ dạt dào xúc cảm trong “Tự hát”, “Sóng” cũng được xem là một bài thơ ấn tượng nhà thơ dùng hình tượng sóng để gửi gắm quan niệm về tình yêu. Hai khổ đầu bài thơ đã để lại trong lòng người đọc rất nhiều cảm xúc và nghĩ suy.

“Anh không xứng là biển xanh

Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng”

Viết về tình yêu, Xuân Diệu mượn hình ảnh biển, rồi bãi bờ đại dương để gửi lòng mình vào hai câu thơ đượm hình ảnh trên. Còn Xuân Quỳnh, nữ sĩ cùng mượn đến hình ảnh sóng, một hình tượng đa nghĩa gợi nhiều cảm xúc để gửi gắm nghĩ suy của mình về tình yêu đôi lứa. Trong hai khổ thơ đầu, nữ sĩ Xuân Quỳnh xây dựng hình tượng sóng ấn tượng để qua đó nói đến những quy luật của tình yêu:“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

“Dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ”, đó là những trạng thái khác nhau của sóng trong lòng đại dương bao la rộng lớn. Nhưng đó dường như cũng chính là những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn người con gái đang yêu. Nếu như con sóng trong đại dương lúc dữ dội, lúc dịu êm lặng lẽ. Thì con sóng lòng cuộn trào trong trái tim yêu say đắm của người con gái cũng có lúc êm đềm sau những ngày giông bão. Với sự tinh tế của mình, Xuân Quỳnh đã biến những con sóng ngoài đại dương trở thành một chủ thể trữ tình đong đầy tâm trạng, ngổn ngang những cảm xúc phức tạp. Giữa các đối cực vừa dựng lên ấy, nhà thơ sử dụng liên từ “và” như để diễn tả sự tồn tại song song và sự chuyển hóa của các đối cực. Xuân Quỳnh gửi suy nghĩ của mình về tình yêu đằng sau sự khám phá về những đối cực của sóng, rằng: tình yêu đôi lứa cũng giống như con sóng ngoài biển cả, chẳng phải lúc nào cũng mang một trạng thái thuần nhất, tình yêu đôi lứa cũng có những lúc thăng lúc trầm, hòa kết với nhau tạo nên một tình yêu đáng nhớ, đáng trân trọng.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng

Đâu chỉ mang trong mình nhiều đối cực, sóng trong hai khổ thơ còn hiện lên trong không gian đối lập “sông – bể” và thời gian đối lập “ngày xưa – ngày sau”:“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Dựa theo quy luật của tự nhiên, ta hiểu tất cả dòng sông đều đổ ra biển lớn, những con sóng nhỏ mang trong mình những khát vọng lớn luôn có xu hướng vượt thoát khỏi một không gian chật hẹp, có phần tù túng của sông ngòi để đến với những không gian rộng lớn, khoáng đạt, bao la hơn ngoài đại dương. Khám phá không gian tồn tại của sóng, nữ sĩ Xuân Quỳnh đã phát hiện ra một quy luật sâu sắc và gửi nó qua đoạn thơ: hành trình từ sông nhỏ là biển lớn của những con sóng tự nhiên cơ hồ cũng chính là hành trình của con người đến với tình yêu của cuộc đời.

Hệt như những con sóng ngoài kia, để đến với tình yêu, con người dường như phải đối diện và vượt qua một hành trình đầy gian lao, thử thách của cuộc đời. Hành trình dấn thân đầy tự nguyện và đam mê ấy đưa dẫn con người đến với bến bờ hạnh phúc và giúp họ được sống trọn vẹn, sống thực là mình, sống thực với những cảm xúc, tâm trạng của mình. Trong chiều thời gian đối lập “ngày xưa – ngày sau”, từ hình ảnh sóng, ta cảm nhận được ý thơ Xuân Quỳnh muốn nhắc đến tình yêu rạo rực, nồng cháy trong trái tim yêu muôn đời. Những tình cảm, cảm xúc ấy có tác động mạnh mẽ, tạo nên ý nghĩa sự sống của con người. Từ việc cảm nhận được sự hiện diện của sóng trong dòng thời gian, nhà thơ Xuân Quỳnh đã thầm kín gửi gắm tới bạn đọc một quy luật về tình yêu rằng: tình yêu là một tình cảm thiêng liêng đẹp đẽ, đó là tình cảm không tuổi và luôn song hành cùng với sự sống của mỗi con người trên hành trình tìm kiếm và chinh phục hạnh phúc.

Với trái tim yêu thiết tha, nồng nàn cùng lý trí sắc sảo và một tâm hồn chân thành, Xuân Quỳnh đã phát hiện và khái quát nên quy luật của tình yêu qua hình tượng sóng. Nét đặc sắc trong cả nội dung và nghệ thuật của hai khổ thơ này đã góp phần tạo nên sự thành công của tác phẩm cũng như khẳng định tài năng của nhà thơ Xuân Quỳnh.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 2

Tình yêu – một đề tài từng làm rung động trái tim biết bao người và ngân lên thành biết bao lời thơ nhân loại. Mỗi một nhà thơ tìm đến 1 cách biểu hiện khác nhau:một tình yêu mang yếu tố triết lí trong thơ Tago, một tình yêu nồng nàn đắm say trong thơ Puskin, một tình yêu rạo rực tràn đầy cảm xúc trong thơ Xuân Diệu và đến với bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh ta bắt gặp 1 cảm xúc tình yêu đầy trăn trở, khát khao của tâm hồn người phụ nữ trong khát vọng hạnh phúc đời thường: Và đây là 1 trong những đoạn thơ tiêu biểu:

Dữ dội và dịu êm

Bồi hồi trong ngực trẻ

Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của tâm hồn người phụ nữ nhiều trắc ẩn, vần thơ của bà vừa chân thành đằm thắm, vừa nồng nàn mãnh liệt và hơn hết luôn bật lên khát vọng da diết về hạnh phúc bình dị đời thường. Bài thơ “Sóng” ra đời năm 1967 trong chuyến đi thực tế của nhà thơ về vùng biển Diêm Điền tỉnh Thái Bình và lúc này thì bản thân nhà thơ cũng vừa trải qua một sự đổ vỡ trong tình yêu. Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào” năm 1968. Tình yêu là điều bí ẩn nên ngàn đời vẫn cuốn hút con người, tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh chính là những bông hoa dọc chiến hào làm dịu đi sự khốc liệt của chiến tranh.

Trong bài thơ “Sóng”, nhà thơ sử dụng thể thơ năm chữ, đây là thể thơ có nhịp điệu nhanh, mạnh, dồn dập. Thể thơ này thường dùng để diễn tả những dòng cảm xúc ào ạt, hối hả, mãnh liệt . Bài thơ sử dụng cách hiệp vần giãn cách, hiệp vần chân ở những tiếng cuối của các câu chẵn. Hơn nữa bài thơ có sự luân phiên về thanh điệu ở các tiếng cuối của các câu thơ. Như vậy những thủ pháp nghệ thuật sáng tạo đã tạo nên âm hưởng nhịp nhàng, uyển chuyển cho cả bài thơ. Âm hưởng của bài thơ là âm hưởng dạt dào của những con sóng mà mỗi câu thơ là một con sóng, chúng gối lên nhau chạy đều, chạy đều đến cuối bài thơ. Những con sóng là sự trào dâng mãnh liệt của dòng cảm xúc ào ạt trong lòng nữ sĩ. Có lẽ vì thế mà ấn tượng về con sóng trong bài thơ không chỉ là của sóng biển mà còn là của sóng tình. Đây cũng chính là hai hình tượng nghệ thuật mà tác giả đã tập trung xây dựng trong bài thơ. Sóng biển và sóng tình có lúc tồn tại song song để soi chiếu, tôn vinh vẻ đẹp cho nhau, có lúc lại hòa làm một, trong sóng biển có sóng tình, trong sóng tình ta lại thấy nhịp dào dạt của sóng biển. Suy cho cùng sóng biển và sóng tình là hai hình tượng nghệ thuật để biểu đạt cho cái tôi trữ tình của nhà thơ.
Qua hai khổ thơ đầu nữ sĩ đã cho chúng ta cảm nhận được đặc điểm của những con sóng biển và những con sóng tình yêu, những con sóng luôn chứa đựng những trạng thái đối lập và luôn có những khát khao vươn tới những sự vĩ đại, bao la. Mở đầu, nhà thơ viết:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Trong hai câu thơ mở đầu tác giả đã sử dụng tới hai cặp tính từ trái nghĩa để miêu tả đặc điểm của sóng biển: “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ”. Thông thường đứng giữa những cặp tính từ trái nghĩa là quan hệ từ biểu đạt sự tương phản “tuy – nhưng”, thế nhưng ở đây nhà thơ nữ Xuân Quỳnh lại sử dụng quan hệ từ “và” vốn biểu đạt quan hệ cộng hưởng, cộng thêm, nối tiếp. Như vậy những đặc điểm tưởng như đối lập lại thống nhất với nhau và luôn tồn tại trong một chỉnh thể là sóng. Trong cái dữ dội có cái dịu êm, trong sự ồn ào lại chứa đựng sự lặng lẽ.Những trạng thái đối lập của sóng cũng chính là những trạng thái đối lập trong tâm hồn người phụ nữ khi yêu. Trong tình yêu, tâm hồn người phụ nữ không hề bình lặng mà đầy biến động: có khi sôi nổi cuồng nhiệt, cũng có khi e lệ, kín đáo, có lúc đằm thắm, lúc hờn ghen…

Tác giả tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa trong hai câu thơ tiếp theo, con sóng được nhân hóa qua động từ “tìm” trong hành trình từ sông ra tới biển:

“Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Tác giả đã khéo léo sử dụng động từ “tìm” trong việc nhân hóa con sóng đã cho ta thấy được sự chủ động của con sóng, con sóng chủ động chối bỏ những phạm vi chật hẹp “sông” để vươn tới những phạm vi rộng lớn bao la “bể”. Như vậy trong bốn câu thơ đầu nhà thơ đã giúp ta nhìn lại hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của những con sóng và chính tác giả cũng đã phải sử dụng tới hai câu thơ để khẳng định sự hiển nhiên, vốn có này:

“Ôi con sóng ngày xưa

và ngày sau vẫn thế”

Nữ sĩ đã khẳng định đặc điểm ngàn đời vốn có của sóng, từ quá khứ “ngày xưa” cho đến tương lai “ngày sau” con sóng vẫn luôn chứa đựng những trạng thái đối lập, vẫn luôn vận động theo quy luật trăm sông đều đổ về với biển. Trạng từ khẳng định “vẫn thế” một lần nữa biểu đạt một chân lí không bao giờ đổi thay.

Thơ ca, nghệ thuật là những sự sáng tạo mang đến cho người đọc những cảm xúc mới, đem đến cho tâm hồn con người những sự trải nghiệm phong phú. Ta tự hỏi vì sao trong sáu câu thơ đầu tác giả chỉ cho chúng ta hai đặc điểm tự nhiên, vốn có của con sóng? Để giải đáp cho điều này nữ sĩ viết tiếp hai câu thơ:

“Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Đến đây ta đã cảm nhận được sự xuất hiện của một con sóng nữa đó là con sóng của tâm hồn, là con sóng của tình yêu, mà lại là tình yêu của tuổi trẻ đang bồi hồi, đang thổn thức trong trái tim, trong lồng ngực. Khát vọng tình yêu cháy bỏng mãnh liệt đang trào dâng trong lòng nữ sĩ. Như vậy đứng trước biển, trước những con sóng ào ạt ạt vỗ bờ dòng cảm xúc trong lòng nữ sĩ cũng trào dâng. Những con sóng biển ở sáu câu thơ đầu đã gọi những con sóng tình trong lòng nhà thơ. Sóng biển đã gọi sóng tình hay sóng biển chính là yếu tố khơi nguồn cảm xúc trong lòng thi sĩ.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng

Vì sao sóng biển lại gọi được sóng tình, lại có sức khơi gợi cảm xúc mãnh liệt như vậy? Có lẽ giữa sóng biển và sóng tình có sự tương đồng, nếu sóng biển biển chứa đựng những trạng thái đối lập thì tâm trạng người con gái đang yêu cũng có những lúc giận dỗi, hờn ghen, có những lúc yêu thương dịu dàng đằm thắm:

“Em bảo anh đi đi

Sao anh không đứng lại?

Em bảo anh đừng đợi

Sao anh vội về ngay?”

Con gái khi yêu luôn là như thế, luôn mâu thuẫn, đối lập trong lời nói và hành động. Nếu yêu một người con gái mà không biết nhìn thẳng vào mắt người đó thì chắc chắn một điều rằng anh chàng sẽ khó lòng hiểu và yêu thương cô gái trọn vẹn.Hành trình của sóng chính là hành trình của tình yêu. Nếu con sóng luôn luôn chủ động chối bỏ những chật chội hẹp hòi để vươn tới những điều rộng lớn thì người con gái đang yêu cũng luôn luôn có khát khao như thế .Họ dũng cảm từ bỏ những ích kỉ, nhỏ nhen để vươn tới tình yêu bao dung . Việt Nam là một nước có lịch sử ơn một nghìn năm phong kiến và chế độ phong kiến đã đè nặng tư tưởng phụ nữ Việt. Thời kì những năm 1967 ảnh hưởng của tư tưởng hệ phong kiến chắc chắn còn, mà thậm chí còn rơi rớt đến một số thế hệ trẻ hiện nay thế nhưng ở Xuân Quỳnh ta bắt gặp một con người hiện đại, thông minh và sắc sảo,luôn khát khao hướng tới một tình yêu vĩ đại.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 3

Nhà phê bình văn học, giáo sư Lê Ngọc Trà từng khẳng định: “Nghệ thuật bao giờ cũng là tiếng nói tình cảm của con người, là sự tự giãi bày và gửi gắm tâm tư”. Trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), Xuân Quỳnh đã gửi gắm nỗi niềm của mình qua bài thơ “Sóng”. Thông qua hai khổ thơ đầu, nhà thơ đã đem đến cho người đọc những hình dung độc đáo về bản chất và hành trình nhận thức của sóng.

Trong tác phẩm, hình ảnh “sóng” và “em” luôn sánh đôi, soi chiếu và bổ sung cho nhau. Trạng thái của sóng cũng chính là nét tính cách của em – người con gái khi yêu:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Trong hai câu thơ đầu, Xuân Quỳnh đã sử dụng hình thức lặp cấu trúc kết hợp với hàng loạt tính từ có ý nghĩa trái ngược nhau nhằm diễn tả bản chất của sóng. Khi phong ba, bão táp, sóng trở nên dữ dội, thét gào. Lúc giông tố đi qua, sóng trở về với vẻ dịu nhẹ, êm đềm vốn có. Trạng thái của sóng biểu trưng cho các cung bậc cảm xúc của người con gái đang yêu: khi thì nhẹ nhàng, sâu lắng, lúc lại cáu giận, hờn ghen. Điều đặc biệt ở hai câu thơ này nằm ở chỗ tác giả dùng liên từ “và” vốn để biểu đạt sự tương đồng, cộng hưởng. Có lẽ, nhà thơ muốn nhấn mạnh vào những nét tính cách đối lập nhưng lại đan cài tự nhiên ở người con gái.

Bằng biện pháp nhân hóa, Xuân Quỳnh đã tái hiện lại hành trình từ sông tới biển của sóng. Sóng lúc này không chỉ là con sóng thông thường mà đã trở thành thực thể có linh hồn, cảm xúc, suy nghĩ như con người. Từ “tìm” đã cho thấy sự chủ động của sóng. Sóng từ bỏ không gian chật hẹp, tù túng là những con sông để tìm ra “bể” lớn, nơi có đại dương mênh mông, bao la. Có lẽ, vì sông quá nhỏ bé nên không thể hiểu hết nỗi lòng của sóng, buộc sóng phải đi đến “bể”. Mong ước của sóng cũng là khát khao vượt qua điều tầm thường để đến hạnh phúc lớn lao của “em”. Dù đích đến có xa xôi, cách trở thì “em” vẫn luôn kiên định, mạnh mẽ.

Sang đến khổ hai, nhà thơ Xuân Quỳnh đã khẳng định sự bất diệt của những con sóng với đại dương và khát vọng tình yêu, tuổi trẻ. Thán từ “Ôi” được đặt ngay ở dòng đầu tiên nhằm nhấn mạnh vào nỗi xúc động mạnh mẽ của nhân vật trữ tình. “Ngày xưa” và “ngày nay” là những từ chỉ ý niệm về thời gian. Thi sĩ muốn khẳng định tính chất bất biến, muôn thuở của những con sóng. Đồng thời, nói lên khát vọng tình yêu của “em”. “Em” cũng như “sóng”, dù thời gian có thay đổi, dù tương lai hay hiện tại thì vẫn mang trong mình ngọn lửa tình yêu. Trái tim vẫn không ngừng thổn thức trước cuộc đời.

Bằng thể thơ năm chữ ngắn gọn, ngôn từ tinh tế cùng biện pháp nhân hóa “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”, điệp cấu trúc “Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ”, nữ sĩ Xuân Quỳnh đã miêu tả một cách đầy gợi cảm về tính khí của sóng.

Như vậy, hai khổ thơ đầu đã đem đến cho người đọc những rung cảm sâu sắc. Đây là tiếng nói của một hồn hồn thơ mãnh liệt, dạt dào cảm xúc. Hiểu về đoạn trích cũng như tác phẩm, ta càng thêm ngưỡng mộ, cảm phục trước tài năng của nhà thơ Xuân Quỳnh.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 4

Xuân Quỳnh vẫn qua từng câu thơ, từng điệu hồn mà khát mong được đồng cảm, đồng điệu với tâm hồn của người đọc muôn thế hệ, và Sóng dường như là tiếng thơ tha thiết nhất chị gửi lại trước khi rời xa, là tiếng thơ mang đậm dấu ấn tâm hồn chị, và hai khổ thơ đầu bài thơ Sóng chính là những khát khao cháy bỏng, chảy tràn tự nhiên từ hồn thơ của nữ sĩ về khát vọng được khám phá, được thấu hiểu bản thể, và đồng thời bày tỏ chân lí về quy luật bất tử của tình yêu của tâm hồn trẻ tuổi.

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”.

Đoạn thơ mở đầu bằng những thái cực, bằng những sắc thái đối lập, giữa dữ dội và dịu êm, giữa ồn ào và lặng lẽ. Đó là hai vẻ đẹp đối chọi mà hòa điệu của con sóng biển khơi, hay chăng nó cũng đồng thời là vẻ đẹp trong tâm hồn người phụ nữ, vừa mang nét dịu dàng đằm thắm, vừa mang những khát khao cháy bỏng mãnh liệt. Nhưng có một điều, nếu thực sự chú ý ta mới nhận ra sự tinh tế trong cách đặt từ của Xuân Quỳnh, đó là dù ở hai thế cực đối lập nhau, nhưng chốt hạ ở cuối mỗi câu thơ đều là những gì rất đỗi dịu êm, lắng sâu. Phải chăng đó cũng là mong muốn của sóng với bến bờ của mình, luôn luôn hi vọng khao khát được nương mình vào điểm tựa bình yên, Và đó, có lẽ cũng là lúc ta nhận ra nét đẹp nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh, rằng chị hay bao nhiêu người phụ nữ khác, dẫu vinh quang tột cùng với ánh đèn, sân khấu hay con chữ, thì niềm khao khát mãnh liệt nhất, bình dị nhất vẫn là khao khát tìm được bến đỗ bình yên, bến đỗ hạnh phúc ấm êm. Đó cũng là lâu đài mà bất kể người phụ nữ nào đều vun vén, đắp xây.

Nhưng người con gái ấy, không phải chỉ vì khát khao hạnh phúc ấm êm mãnh liệt, mà chấp nhận đánh mất mình, trái lại, nếu sông không hiểu nổi mình, sóng chủ động tìm ra tận bể. Không phải đợi, chờ một ai đến để dẫn dắt, để quyết định, Sóng chủ động hòa mình để kiếm tìm, chinh phục, và đặc biệt là để thấu hiểu, để khám phá chính bản thể thẳm sâu của mình. Từ đó, giúp người đọc nhận ra, hóa ra tình yêu không chỉ cần cảm giác bình yên của một điểm tựa, mà còn cần sự thấu hiểu rất nhiều và rất sâu từ cả hai phía, có như vậy mới đạt đến sự vĩnh cửu của một tình yêu chân chính.

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Mượn sự vĩnh hằng, bất tử và bất biến của con sóng biển khơi để nói về nỗi khát khao tình yêu cháy bỏng trong lồng ngực trẻ, còn sự ví von nào giàu xúc cảm và giàu sức gợi đến thế. Trái tim ngực trẻ vẫn mãi một tình yêu, vẫn mãi một niềm rong ruổi bất tận cho hạnh phúc của đời mình, bởi như Xuân Diệu cũng từng nói, tuổi trẻ là mùa xuân của đời người, và tình yêu làm mùa xuân ấy trở nên thắm sắc đượm hương hơn. Có thể thấy trong ý thơ của Xuân Quỳnh, cũng có sự gặp gỡ, đồng điệu với những gì Xuân Diệu từng gợi nhắc, nhưng chính hình tượng sóng đã giúp cách diễn đạt trở nên mới mẻ, giàu chất thơ hơn.

Hai khổ thơ đầu giống như khúc nhạc dạo đầu, đã mở ra toàn bộ mạch cảm xúc của bài thơ Sóng, đồng thời gợi cho người đọc những cảm nhận mới lạ bởi cách diễn đạt trẻ trung, mà vô cùng sâu sắc, đậm chất thơ Xuân Quỳnh.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 5

“Yêu là chết trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chẳng được yêu”

Tình yêu luôn là những cung bậc cảm xúc rất khó định hình, khó diễn tả. Tình yêu cho người ta cảm nhận rõ nhất những hỉ, nộ, ái, ố ở đời. Yêu là vui vẻ, đắm say, yêu là cả buồn đau, tủi hờn. Tiếng lòng tình yêu đã được nữ thi sĩ Xuân Quỳnh khắc họa rõ nét qua bài thơ Sóng, đặc biệt là trong hai khổ thơ đầu của bài thơ.

Đặt tên cho tác phẩm bài thơ là Sóng. Tuy đơn giản về mặt chữ nghĩa nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn. Xuyên suốt bài thơ là hình tượng con sóng, đây là hình ảnh ẩn dụ cho cái tôi trữ tình và thi nhân của Xuân Quỳnh. Sóng và em tuy hai mà một, khi tách rời khi lại hòa nhập cộng hưởng trầm bổng tạo ra những rung động mãnh liệt trong tình yêu. Sóng và em luôn quấn quýt đan hòa tô vẽ nên tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.

Mở đầu bài thơ tác giả soi mình vào sóng để thấy được những nét tương đồng:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ”

Xuân quỳnh đã rất tinh tế khi quan sát các tính chất của thực thể sóng: dữ dội; dịu êm; ồn ào; lặng lẽ. Hai cặp tính từ mang sắc thái tương phản được đặt liền kề cho thấy trong bản thân thực thể luôn tồn tại nhiều đối cực khác nhau; khi hiền hòa dịu êm, khi lại mạnh mẽ, ồn ào. Mượn hình ảnh sóng nhà thơ muốn nói lên nỗi niềm, tính khí thất thường của người phụ nữ trong tình yêu: khi nhiệt huyết đắm say khi lại giận hờn, thầm lặng. Tình yêu là thế, luôn chứa đựng biết bao cung bậc những xúc cảm thật khó lí giải. Tình yêu khiến cho bản tính con người vì thế cũng có sự giao hòa đan xen khác lạ.

Để rồi khi đến những câu thơ thứ hai, không kìm nén được cảm xúc người phụ nữ đã xé tan mọi rào cản để vươn mình đến với cánh cửa của tình yêu đích thực:

“Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Ở đây ta thấy xuất hiện hai phạm trù không gian là sông và bể. Bể chính là thế giới rộng lớn, khoáng đạt, là khát vọng lớn lao, chân trời mơ ước của biết trăm ngàn con sóng; chỉ có bể mới có thể chứa đựng được tính khí thất thường của sóng. Còn sông, trong tương quan với bể, sông ở vị trí nhỏ hẹp hơn, sông có giới hạn, chật chội. Sông không thể hiểu hết tâm tư tình cảm không thể đồng cảm, chứa đựng với tính khí thất thường của sóng nên sóng phải buộc lòng tìm ra bể để được an ủi, sẻ chia, để được đắm say. Sóng là em, tình yêu của sóng cũng chính là tình yêu của em. Sóng tìm ra bể chính là hiện thân cho khát khao của em, khát khao được vươn ra biển lớn, kiếm tìm một bến bờ tình yêu chân thành, thấu hiểu. Từ “tận” mang sắc thái biểu trưng cho xa xôi, khó khăn. Soi chiếu đối sánh với sóng ta thấy được hành trình gian nan, xa xôi, trắc trở của người phụ nữ khi kiếm tìm tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Thế nhưng câu thơ mang sắc thái mạnh mẽ thể hiện được sự kì công, quyết liệt của người phụ nữ trong tình yêu. Dám khát khao, dám mơ ước và dám hành động để đi tìm hạnh phúc cho cuộc đời mình. Con sóng trong thơ Xuân quỳnh thật phi thường có bản lĩnh và đầy cá tính. Đây là nét độc đáo của người phụ nữ hiện đại, vô cùng chủ động, táo bạo và đầy dũng cảm.

Lúc này trong tâm hồn và trái tim người phụ nữ đang chan chứa biết bao hạnh phúc, bao ước niệm tươi đẹp về tình yêu.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 6

“Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào”

(Bài thơ tuổi nhỏ – Xuân Diệu)

Đó cũng là lý do tình yêu được đưa rất nhiều vào trong thơ ca và nghệ thuật, trở thành nguồn cảm hứng bất tận với nhiều thi nhân. Có rất nhiều những nhà thơ, nhà văn từng viết về tình yêu trong đó không thể không kể đến cây bút thơ tình xuất sắc của nền văn học Việt Nam – Xuân Quỳnh – nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mỹ đã thể hiện tình cảm người con gái qua bài thơ “Sóng”.

Khi nhắc đến tên tuổi của Xuân Quỳnh, từ trong tiềm thức của mỗi người yêu văn chương đều biết tiếng thơ bà là tiếng nói nhân hậu, thủy chung, giàu trực cảm, tha thiết khát vọng hạnh phúc đời thường và Sóng là một trong những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương đặc trưng đó. Năm 1967, nhân một một chuyến đi thực tế ở biển Diêm Điền (Thái Bình), khi đứng trước biển khơi rộng lớn, những tâm tư tình cảm của bà được bộc bạch qua những vần thơ và đó là cơ sở để Sóng ra đời. Bài thơ được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Bài thơ là sự đan xen giữa hình ảnh Sóng và hình ảnh “em” – người con gái trong tình yêu. Mở đầu bài thơ tác giả mang đến cho bạn đọc những trạng thái khác nhau của con sóng:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

“dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ” là những tính từ trái nghĩa thể hiện những thái cực đối lập của con sóng: có lúc hiền lành dịu dàng nhưng cũng có lúc vô cùng dữ dội. Đó cũng là những tâm trạng khác nhau của người con gái trong tình yêu, họ luôn dịu dàng, nhỏ nhẹ với tình yêu, với người yêu của mình nhưng cũng có lúc họ trở nên mạnh mẽ, cương trực trước tình yêu ấy. Hình ảnh dòng sông không hiểu chính mình nên tìm ra biển khơi rộng lớn tìm câu trả lời cũng chính là tâm tư của người con gái luôn trăn trở, suy tư nhiều điều và có ước muốn là khám phá được những điều lớn lao hơn trong tình yêu.

Bốn câu thơ tiếp theo nỗi khát vọng của người con gái:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Con sóng từ ngàn năm vẫn thế, vẫn tính chất, đặc điểm ấy không bao giờ thay đổi. Và người con gái cũng vậy khát vọng tình yêu luôn thường trực, rạo rực trong trái tim, bao nhiêu năm vẫn hướng về tình yêu, về người yêu.

Xuân Quỳnh đã tìm được một cách nói riêng để bộc lộ tình yêu, những dung động của lòng mình với một giọng thơ kể lể, tâm tình vừa êm ái, nhẹ nhàng vừa thiết tha. Âm hưởng, nhịp điệu bài thơ ngân nga do sự phối âm, phối vần tài tình như những con sóng cứ nối nhau không dứt. Bài thơ vì thế có cả âm vang của sóng, gió thiên nhiên và sóng của tâm hồn.

Sóng là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh và của thơ ca Việt Nam hiện đại viết về đề tài tình yêu. Nhiều năm tháng qua đi nhưng bài thơ vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.

Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng – Mẫu số 7

Đã có biết bao nhiêu thi nhân lựa chọn hình ảnh sóng làm hình tượng chính trong những tác phẩm của mình, bởi một lẽ đây là hình tượng chuyển động, mãnh liệt và kì vĩ. Thế nhưng, con sóng ấy khi đi vào thơ Xuân Quỳnh lại trở nên mềm mại, dịu dàng, đầy nữ tính. Hai khổ đầu bài thơ Sóng biểu hiện rõ trạng thái ấy:

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

Nếu Xuân Diệu lựa chọn hình ảnh sóng để biểu hiện cho tình yêu của anh dành cho em, một tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, muốn ôm trọn em vào lòng, muốn hôn lấy em,… thì Xuân Quỳnh, lại lựa chọn hình tượng này, viết về sóng để gửi gắm tình yêu của trái tim người phụ nữ. Với những khao khát trong tình yêu, với những cung bậc cảm xúc nhiều khi biến động, hai hình tượng “sóng và em” khi song hành, khi tách biệt, khi hòa nhập để em soi mình vào trong sóng nhìn ra những tình cảm của riêng mình. Xuân Quỳnh đã bắt đầu thi phẩm này một cách vô cùng tinh tế:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ

Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”.

Nguyễn Đình Thi từng nói rằng khi người ta yêu, thường hay đứng trước biển. Bởi chỉ có biển mới sánh sánh được với cái mênh mông tình yêu trong họ. Xuân Quỳnh cũng thế, cô đang yêu, đăng đắm say trong cảm giác vừa trong trẻo vừa rối bời trong trái tim mình. Thế nên, cô về với biển, ngắm nhìn con sóng bạc đầu bồi hồi suy tưởng.

Khi đứng trước đại dương bao la, trước muôn trùng con sóng vỗ bạc đầu, người nghệ sĩ lại có trong mình nhiều rung cảm đến vậy, để cho tới tận bây giờ, biển vẫn hát khúc ca của đại dương. Đọc giả của những năm tháng thời kì ấy, vẫn ru hoài giấc mơ qua những thi phẩm khởi nguồn từ con sóng như thế.

Trong khổ thơ đầu tiên, nghệ thuật đối đã được sử dụng một cách rất tinh tế. Các cặp từ đối lập : “dữ dội – dịu êm”, “ồn ào – lặng lẽ” là biểu hiện rõ ràng nhất cho những trạng thái đối cực của con sóng ngoài đại dương. Khi đại dương hiền hòa, những con sóng thật nhẹ nhàng, êm dịu. Khi giông bão đi ngang, biển động sóng mạnh mang theo bao cuồng nộ. Những trạng thái đối cực của sóng cũng chính là những trạng thái đối cực của tình yêu, có những khi rất bình yên, nhưng cũng có những ngày bão tố.

Ta cũng có thể hiểu hai câu thơ này theo một trường nghĩa khác. Với trạng thái đối cực của trái tim người phụ nữ khi yêu, một người phụ nữ khao khát tình yêu. Khi vui, khi buồn, khi giận hờn, khi trách móc, khi hạnh phúc, khi tổn thương,… những cung bậc cảm xúc của tình yêu quả thật rất diệu kỳ bởi một lẽ:

“Vì tình yêu muôn thuở

Có bao giờ đứng yên”

Chuyển đến hai câu thơ tiếp theo, ta nhìn thấy sự mới lạ trong tứ thơ của Xuân Quỳnh:

“Sông không hiểu nổi mình

Sóng tìm ra tận bể”

Những hình ảnh xuất hiện liên tiếp, hình ảnh của dòng sông, của con sóng và của “bể”, ở đây có thể hiểu là biển, là đại dương. Trăm suối đổ về một sông, trăm sông đổ về biển lớn, sóng không chấp nhận giới hạn nhỏ bé tầm thường, sóng chuyển mình ra biển lớn, tìm về đại dương, tìm đến nơi thuộc về. Ở hai câu thơ này, mạch sóng như bứt phá ra khỏi một không gian chật hẹp để tìm đến những điều lớn lao.

Cũng giống như trái tim tình yêu của những người phụ nữ, vượt qua những giới hạn nhỏ bé tầm thường, để tìm đến với tình yêu đích thực của cuộc đời mình. Có thể thấy rằng, đây cũng chính là một trong những nét hiện đại trong thơ Xuân Quỳnh, cũng là góc nhìn, một quan niệm mới mẻ về người phụ nữ hiện đại, dám đấu tranh vì tình yêu, vượt qua những thứ lễ giáo phong kiến để đến với hạnh phúc đích thực của cuộc đời mình. Ở khổ thơ đầu của mình, Xuân Quỳnh đã rất tinh tế khi gửi gắm tới bạn đọc một thông điệp mới mẻ trong thời đại lúc bấy giờ: “Người phụ nữ chủ động tìm đến với tình yêu để được sống với chính mình”.

Xuân Quỳnh viết “Sóng”, cô đang hát những khúc hát về tình yêu để đến bây giờ, biết bao nhiêu thập kỷ trôi qua rồi, những độc giả vẫn dành biết bao nhiêu tình yêu của mình cho một mảnh “tình thơ” đã cũ. Và tình yêu trong “Sóng” – mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, của lứa đôi:

“Ôi con sóng ngày xưa

Và ngày sau vẫn thế

Nỗi khát vọng tình yêu

Bồi hồi trong ngực trẻ”

Thán từ “ôi” được sử dụng, bộc lộ mạnh mẽ những trạng thái cảm xúc đang trào lên trong lòng. Cặp từ đối “ngày xưa” – “ngày sau” khiến cho người đọc có biết bao nhiêu liên tưởng khi đọc đoạn thơ này. Trải qua hàng ngàn hàng vạn năm, từ khi đại dương xuất hiện, những con sóng cũng ra đời.

Hai khổ thơ khép lại nhưng sóng mãi còn lan tỏa. Dẫu cho thời gian mãi là một dòng tuyến tính không bao giờ quay trở lại thì sóng vẫn cứ mãi hát khúc ca của đại dương bất diệt, vẫn cứ là mình, vẫn “dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ”. Cũng giống như tình yêu, những khát khao về tình yêu luôn luôn là những hoài bão đang đập nhanh trong trái tim của những người trẻ. Câu chuyện tình yêu là câu chuyện của tôi, của bạn, của chúng ta, của quá khứ, hiện tại và muôn đời sau sẽ còn nhắc mãi, nhắc hoài. Còn đại dương là còn sóng, còn những trái tim đang đập trong lồng ngực là còn tình yêu.

—————————-

Trên đây, đã tổng hợp và biên soạn các mẫu Cảm nhận khổ 1, 2 bài thơ Sóng cho các bạn tham khảo. Rất mong những kiến thức trên sẽ giúp ích cho quá trình học tập của các bạn, chúc các bạn học tập thật tốt.

Đăng bởi: Đại Học Đông Đô

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button